PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ TÌNH TRẠNG NGỪNG HOẠT ĐỘNG HAY GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN MẤY NĂM GẦN ĐÂY. NGUYÊN NHÂN CỦA HIỆN TƯỢNG NÀY VÀ GIẢI PHÁP - Pdf 20

1
ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
LUẬT KINH TẾ
PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT VÀ TÌNH TRẠNG NGỪNG HOẠT ĐỘNG
HAY GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
TRONG THỜI GIAN MẤY NĂM GẦN ĐÂY.
NGUYÊN NHÂN CỦA HIỆN TƯỢNG NÀY VÀ GIẢI
PHÁP
GVHD: PGS.TS. BÙI XUÂN HẢI
NHÓM 15
2
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 : PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ VIỆC NGỪNG
HOẠT ĐỘNG HAY GIẢI THỂ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 3
1.1 Phân biệt giải thể và ngừng hoạt động của doanh nghiệp 3
1.2 Phân tích đánh giá các quy định của pháp luật về việc ngừng hoạt động và giải thể của doanh
nghiệp Việt Nam 3
2 CHƯƠNG 2 : TÌNH TRẠNG GIẢI THỂ HAY NGỪNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY. NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP
CHO TÌNH TRẠNG TRÊN 9
2.1 Tình trạng giải thể và ngừng hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian gần
đây (2011 – 2013 ) 9
2.2 Nguyên nhân và giải pháp của tình trạng giải thể doanh nghiệp và ngưng hoạt động của các
doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian gần đây 14
3
CHƯƠNG 1 : PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ
VIỆC NGỪNG HOẠT ĐỘNG HAY GIẢI THỂ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
VIỆT NAM
1.1 Phân biệt giải thể và ngừng hoạt động của doanh nghiệp

khi phát hiện doanh nghiệp không có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
♦ Trong thời gian tạm ngừng kinh doanh, doanh nghiệp phải nộp đủ số thuế
còn nợ, tiếp tục thanh toán các khoản nợ, hoàn thành việc thực hiện hợp đồng
đã ký với khách hàng và người lao động, trừ trường hợp doanh nghiệp chủ nợ,
khách hàng và người lao động có thoả thuận khác.
- Điều 43 Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 của Chính phủ quy định
hướng dẫn thực hiện thủ tục về tạm ngừng kinh doanh doanh nghiệp đầy đủ, cụ thể.
Một số điểm chính:
♦ Doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh phải thông báo bằng văn bản cho
Phòng Đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh và cơ
quan thuế ít nhất 15 (mười lăm) ngày trước khi tạm ngừng kinh doanh.
♦ Thời hạn tạm ngừng kinh doanh ghi trong thông báo không được quá 1 (một)
năm. Tổng thời gian tạm ngừng kinh doanh không được quá 2 (hai) năm
♦ Phòng Đăng ký kinh doanh nhận thông báo và ghi vào sổ theo dõi
- Khoản 3 Điều 57 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ
hướng dẫn sửa đổi:
♦ Tổng thời gian tạm ngừng kinh doanh liên tiếp không được quá hai năm.
♦ Phòng đăng ký kinh doanh nhập thông tin doanh nghiệp ngừng hoạt động
vào hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia để theo dõi.
=> Nghị định mới quy định thoáng hơn cho doanh nghiệp khi sửa đổi thời gian tạm
dừng tối đa 2 năm thành tối đa liên tục 2 năm. Giúp cho doanh nghiệp có thể tạm
dừng nhiều lần hơn. Việc lưu thông tin về các doanh nghiệp đang tạm dừng hoạt
động là một bước tiến mới giúp cho cơ quan quản lý dễ dàng tra cứu thông tin
doanh nghiệp tạm dừng ở mọi nơi một cách nhanh chóng.
- Nghị định số 05/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung tại Điều 57 Nghị định
số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ :
♦ Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ
quan đăng ký kinh doanh cấp Giấy xác nhận về việc doanh nghiệp, hộ kinh
doanh đã đăng ký tạm ngừng hoạt động
=> Nghị định này làm thủ tục thêm rườm rà, không cần thiết phải cấp giấy phép

“Quyết định tổ chức lại, giải thể công ty” (đối với công ty cổ phần).
- Điều 68 Nghị định số 108/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư hoặc bị Toà án tuyên bố giải thể.
- Điều 28 Nghị định số 139/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 5/9/2007 quy định về giải
thể doanh nghiệp.
- Điểm 8 mục IV Thông tư số 10/2006/TT-BTC (14/02/2006) của Bộ tài chính hướng
dẫn thi hành Quyết định số 75/1998/QĐ-TTg (4/4/1998) của Thủ tướng Chính phủ).
6
- Nghị định số 05/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung tại Điều 8c Nghị định
số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ về.
- Văn bản số 2571/BCT-XNK của bộ công thương ngày 27 tháng 03 năm 2013 v/v
xuất khẩu hàng hoá thanh lý do giải thể.
b. Hạn chế về mặt pháp lý của những quy định giải thể doanh nghiệp:
 Tính không khả thi trong luật:
- Theo quy định tại khoản 2 điều 157 Luật doanh nghiệp thì doanh nghiệp chỉ được
giải thể khi đảm bảo thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản.
- Yêu cầu này nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động, chủ nợ và nghĩa vụ nộp
thuế của doanh nghiệp giải thể. Nhưng thực sự điều này là không khả thi vì thông
thường các doanh nghiệp giải thể đa phần là do hoạt động kém hiệu quả dẫn đến
mất thanh khoản, không còn khả năng chi trả các khoản nợ nữa. Do đó một thực
trạng xảy ra trong thực tế là hàng ngàn các doanh nghiệp âm thầm ngừng hoạt động,
biến mất trên thị trường.
 Khe hở trong luật:
- Theo quy định tại khoản 3 điều 158 LDN 2005 : Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể
từ ngày thông qua, quyết định giải thể phải được gửi đến cơ quan đăng ký kinh
doanh, tất cả các chủ nợ (kèm theo thông báo về phương án giải quyết nợ; thời hạn,
địa điểm và phương thức thanh toán nợ; cách thức và thời hạn giải quyết khiếu nại
của chủ nợ); người có quyền, nghĩa vụ và lợi ích liên quan, người lao động trong
doanh nghiệp.
- => Đây cũng là một trong những khe hở của luật, bởi vì trên thực tế các doanh

- Do thủ tục giải thể phức tạp và mất nhiều thời gian nên hiện nay nhiều DN không
tiến hành hoạt động kinh doanh hoặc đang kinh doanh nhưng không tiếp tục kinh
doanh không làm thủ tục giải thể doanh nghiệp. Việc này để lại những hậu quả rất
lớn cho công tác quản lý doanh nghiệp của Nhà nước cũng như chính các thương
nhân.
=> Vì vậy quy trình về giải thể doanh nghiệp hoặc tạm ngừng hoạt động hiện nay cần đơn
giản hơn nữa để khuyến khích các doanh nghiệp, vì một lý do nào đó mà không hoạt động
nữa sẽ tiến hành thủ tục giải thể, bởi vì, nếu thủ tục quá phức tạp, doanh nghiệp sẵn sàng
“biến mất” mà không cần thông qua thủ tục giải thể. Khi đó, việc bảo vệ quyền lợi của các
chủ thể có liên quan sẽ trở nên khó khăn hơn.
8
9
2 CHƯƠNG 2 : TÌNH TRẠNG GIẢI THỂ HAY NGỪNG HOẠT
ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI
GIAN GẦN ĐÂY. NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP CHO TÌNH
TRẠNG TRÊN
2.1 Tình trạng giải thể và ngừng hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam
trong thời gian gần đây (2011 – 2013 )
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giởi năm 2008 đã kéo dài đến hôm nay và thật sự
những hệ lụy của nó đã thực sự thể hiện trong nền kinh tế nước ta trong những năm gần
đây. Bắt đầu cuộc khủng hoảng vào cuối năm 2008 đến hết năm 2009 và qua năm 2010,
nền kinh tế cả nước, đặc biệt là các doanh nghiệp gồng mình gánh chịu và hy vọng sự
khởi sắc từ kinh tế thế giới cũng như hiệu quả từ chính sách của chính phủ. Trong những
năm gần đây, kinh tế nước ta luôn phải chiến đấu với lạm phát ở mức cao, gây không ít
khó khăn cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. và như một hệ quả tất yếu, và
đến khi không còn gồng gánh được nữa thì các doanh nghiệp đã phải chấp nhận đầu hàng.
Các chủ doanh nghiệp buộc phải ngừng hoạt động để trong chờ vào tương lai tốt hơn, hay
tệ hơn là chấp nhận giải thể doanh nghiệp của mình.
Năm 2012 khép lại, Việt Nam có tốc độ tăng trưởng ở mức 5,03%, được xem là mức
thấp nhất trong 13 năm trở lại đây. Kết thúc quý 1 năm 2013, các chỉ số cũng không cho

xuất kinh doanh, đang hoàn thành thủ tục phá sản, giải thể (gọi chung là doanh nghiệp phá
sản, giải thể) chiếm 8,4%. Trong đó số doanh nghiệp đã hoàn thành thủ tục phá sản, giải
thể chiếm 4,1%, số doanh nghiệp ngừng sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp chờ hoàn
thành thủ tục phá sản, giải thể chiếm 4,3%.
Bảng 2: Tỷ lệ các doanh nghiệp hoạt động và doanh nghiệp phá sản, giải thể trong số
các doanh nghiệp đăng ký hoạt động.
Tỷ lệ sụt giảm DN trong từng ngành
Doanh nghiệp hoạt động 91,6%
Doanh nghiệp phá sản, giải thể 8,4%
Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2012
2.1.1 Tình trạng giải thể và ngừng hoạt động theo loại hình doanh nghiệp và
hình thức sở hữu doanh nghiệp
11
Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều hình thức doanh nghiệp
hoạt động với quy mộ khác nhau. Không phải sức chịu đựng của doanh nghiệp nào cũng
giống nhau trong giai doạn khủng hoảng tinh tế. tuy nhiên nhìn chung thì số các doanh
nghiệp giải thề hay ngừng hoạt động vẫn tập trung vào một số đối tượng chủ yếu.
Trong số các DN giải thể và ngừng hoạt động năm 2012, Công ty TNHH từ 2 thành
viên trở lên có số DN giải thể nhiều nhất, có 20.352 DN; tiếp đến là DN tư nhân có số DN
giải thể là 18.450 DN; Công ty TNHH 1 thành viên có 12.850 DN giải thể; Công ty cổ
phần có 2.608 DN và 1 Công ty hợp danh bị giải thể.
Bảng 3: Số lượng các DN giải thể và dừng hoạt động theo loại hình công ty năm 2012
Loại hình công ty Số lượng doanh nghiệp giải thể và
ngừng hoạt động
Công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên 20.352
DN tư nhân 18.450
Công ty TNHH 1 thành viên 12.850
Công ty cổ phần 2.608
Công ty hợp doanh 1
Nguồn: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)

Trong những năm 2007 – 2009, thị trường bất động sản sôi nổi bao nhiêu thì đến
năm 2010 – 2012 thị trường lại ảm đạm và nhưng băng mùa đông làm đau đầu rất nhiều
nhà quản lý kinh tế. cụ thể cho thấy các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản là nhóm có
tỷ lệ đứng đầu về giải thể hay ngừng hoạt động trong thời gian qua. chúng ta đang loay
hoay phá cái lớp băng đó để giải cứu cho nền kinh tế bởi nó không chỉ ảnh hưởng đến
riêng bản thân mà còn quan hệ trực tiếp đến các ngành nghề khác như xây dựng , công
nghiệp hay mật thiết nhất vẫn la thị trường tài chính mà cụ thể là các khoản nợ không hề
nhỏ tại các ngân hàng.
Tiếp tục khó khăn của nền kinh tế thì hoạt động cuả ngành nông lâm ngư nghiệp và
đặc biệt là thủy sản càng rơi vào tình trạng nguy hiểm hơn. Các thị trường xuất khẩu tiềm
năng như EU hay Mỹ ngày càng trở nên khó khăn khi chính họ cũng phải giảm tiêu dung
và thực hiện chính sách thắt lưng buộc bụng, trong khi đó yêu cầu và cạnh tranh thì ngày
13
lại càng cao hơn. bài toán chống bán phá giá và các yêu cầu về quy chuẩn kỹ thuật, an
toàn thực phẩm càng làm đuối sức các doanh nghiệp. và kết quả cụ thể đã được thể hiện
qua bảng số liệu dưới đây
Bảng 5: Tỷ lệ sụt giảm DN trong từng ngành 2012
Ngành Tỷ lệ sụt giảm DN trong từng ngành
Kinh doanh bất động sản - 44,0%
Khai khoáng - 42,8%
Nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản - 24,3%
Xây dựng - 22,6%
Nguồn: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
Không có thống kê cụ thể của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam mà họ
chỉ đưa ra tỷ lệ sụt giảm của doanh nghiệp trong từng ngành, qua đó cũng thấy được tỷ lệ
doanh nghiệp trong ngành kinh doanh bất động sản đã giảm đi gần một nữa, nhưng trên
thực tế thì số doanh nghiệp còn hoạt động có đảm bảo 50 %. Ngành khai khoáng đứng
thứ 2 với tỷ lệ các doanh nghiệp phá sản, ngừng hoạt động hay giải thể là 42,8 % , kế đến
là các ngành nông lâm ngư nghiệp và xây dựng. tất cả đều là một trog những ngành chủ
chốt của nền kinh tế.

- Theo như “Kết quả điều tra thực trạng và tình hình khó khăn của doanh nghiệp” vào
tháng 04/2012 do Tổng cục Thống kê thực hiện với mẫu là 10.120 doanh nghiệp
thuộc các loại hình sở hữu thì nguyên nhân chủ yếu theo biểu đồ sau:
15
- Do tác động rất lớn của tình hình suy thoái kinh tế thế giới và ở trong nước. Tiếp
đến là việc triển khai nghị quyết 11 của Chính phủ để kiềm chế lạm phát, cùng với
đó là thắt chặt tín dụng đã dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp đồng loạt thiếu vốn
cho sản xuất. Vấn đề này có liên quan đến tốc độ tăng trưởng và thậm chí là tốc độ
tăng trưởng tín dụng còn ở mức âm. Nhiều doanh nghiệp không tiếp cận được đến
vốn vay ngân hàng một phần vì do lãi suất cao, nhưng còn có phần thuộc về bản
thân doanh nghiệp.
- Chính sách ưu đãi trong đầu tư, tín dụng thiếu công bằng đã đẩy hàng loạt doanh
nghiệp tư nhân và một số doanh nghiệp nhỏ của địa phương vào tình trạng kiệt quệ
khi không có cách nào tiếp cận nổi với nguồn tín dụng, vốn cũng đang duy trì ở
mức lãi suất rất cao từ 15-17%. Nếu doanh nghiệp nào may mắn tiếp cận được vốn
vay thì với mức chi phí vốn quá cao và đầu ra quá hẹp như hiện nay, làm ra được
đồng doanh thu nào cũng chỉ đủ bù đắp chi phí vốn. Vô hình chung, các doanh
nghiệp đang nai lưng ra nuôi ngân hàng.
- Các doanh nghiệp gặp khó khăn về vốn, đặc biệt trong việc tiếp cận nguồn vốn thị
trường, dẫn đến hoạt động đình trệ hoặc phải ngưng sản xuất. Thực tế cũng cho thấy
đang hình thành một số dấu hiệu bất ổn của nền kinh tế, mà nổi bật là ở khu vực
doanh nghiệp trong nước, nợ nần chồng chất, hàng tồn kho lớn, kéo theo tình trạng
chiếm dụng tiền thuế làm vốn kinh doanh, chiếm dụng vốn.
- Có những doanh nghiệp bị ngân hàng đốc thúc thu hồi nợ đành phải đi cầm cố vay
nợ nóng bên ngoài để mong thanh khoản cho ngân hàng. Doanh nghiệp nghĩ rằng
sau đó sẽ được vay tiếp, song lại bị ngân hàng trở quẻ khiến cho Doanh nghiệp lâm
vào cảnh túng bấn khôn cùng và liên tục bị các chủ nợ ngoài ráo riết tìm đến để hỏi
nợ.
- Chưa khi nào mà các doanh nghiệp cùng một lúc phải đối mặt với muôn vàn khó
khăn như hai năm nay. Nhất là chi phí cho đầu vào hết sức cao như giá xăng dầu,

nghiệp, môi trường làm việc và văn hóa doanh nghiệp có nhiều bất cập, chiến lược
kinh doanh được xây dựng tự phát theo cảm tính… khi gặp sự cố dễ làm cho doanh
nghiệp bị “đột quỵ”, bất chấp doanh nghiệp đang ở thế lớn mạnh cỡ nào. Quản trị
tài chính và quản trị doanh nghiệp còn hạn chế như nhiều doanh nghiệp kinh doanh
dàn trải, đa ngành nghề, phụ thuộc nhiều vào vốn vay, không đủ năng lực hấp thu
vốn, giá trị gia tăng thấp là nguyên nhâ tạo nên khó khăn cho doanh nghiệp
- Trong bối cảnh khó khăn chung, nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tính toán
và đưa ra mức lợi nhuận đạt được chỉ khoảng 15%/năm sau khi đã trừ tất cả các chi
phí. Trong khi đó, nếu tích gộp cả việc trích quỹ dự phòng rủi ro và trả lãi cho ngân
hàng thì doanh nghiệp hụt vào lãi. Hệ quả là cầm chắc phá sản. Từ giữa tháng
17
3/2013 dòng vốn cho vay khối sản xuất kinh doanh bắt đầu được hé mở theo sự chỉ
đạo của ngân hàng Nhà nước, nhiều ngân hàng thương mại còn dành ưu tiên cho
một số nhóm ngành nghề vay với lãi suất chỉ từ 16%/năm. Tuy nhiên trên thực tế,
mặc dù lãi suất tín dụng đã hạ nhiệt nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng dễ
dàng tiếp cận được nguồn vốn. Nhưng câu chuyện doanh nghiệp khó vay vốn ngân
hàng cũng không nóng bằng câu chuyện một số doanh nghiệp "thờ ơ’’ với vốn. Khả
năng "hấp thụ vốn” tín dụng của doanh nghiệp khó khăn.
- Trong bối cảnh hiện nay, không có vốn để đầu tư sản xuất đã là khó khăn song cũng
có không ít doanh nghiệp dùng vốn tự có để đầu tư vào sản xuất mà vẫn thất bại. Đó
là việc sản phẩm làm ra của các doanh nghiệp không tiêu thụ được, bởi sức mua rất
kém. Chính điều này đã tác động đến tâm lý, tư tưởng của chủ doanh nghiệp và rất
nhiều người lao động. Tuy rằng chủ lao động không bị sức ép về tiền lãi ở ngân
hàng như các doanh nghiệp có vay vốn thì ở những doanh nghiệp dùng vốn tự có
này cũng đau đầu vì sản phẩm làm ra không tiêu thụ được khiến cho đời sống người
lao động bị ảnh hưởng, trong khi chi phí cho đầu vào là rất cao.
- Có không ít doanh nghiệp sau khi được thành lập, việc đầu tiên là lập dự án để vay
vốn ngân hàng. Khi gặp điều kiện khó khăn, sản xuất trì trệ, doanh nghiệp mất khả
năng trả nợ, không đóng nộp được thuế và bảo hiểm, công nhân mất việc làm và
không có lương… dẫn đến doanh nghiệp khốn đốn và động thái đầu tiên của họ là

suất huy động tối đa đã giảm từ 13% xuống còn 11%; ngày 11/6/2012 lãi suất huy
động tối đa đã giảm từ 11% xuống còn 9%. Đến những tháng cuối năm 2012 và
đầu năm 2013, lãi suất đã được hạ đến mức thấp nhất trong vòng 5 năm qua chỉ
còn 7.5% cho lãi suất huy động vốn, chỉ thị của chính phủ cũng yêu cầu các ngân
hàng ưu tiên cho các doanh nghiệp vay vốn với lãi suất ưu đãi, tạo điều kiện cho
doanh nghiệp dễ dàng hoạt động, tìm kiếm cơ hội. Tất nhiên, việc dùng mệnh lệnh
hành chính để áp đặt lãi suất như vậy đã phải là giải pháp tối ưu hay chưa cũng là
vấn đề gây tranh luận trong giới các nhà kinh tế và những người hoạch định chính
sách (nhất là trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường).
 Các giải pháp về chính sách thuế:
Nghị quyết 11/NQ-CP cũng nêu rõ định hướng việc điều hành chính sách thuế của nhà
nước trong bối cảnh khó khăn kinh tế hiện thời như sau:
+ Chủ động áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý về thuế, phí để điều tiết lợi
nhuận do kinh doanh xuất khẩu một số mặt hàng như thép, xi măng… thu được từ việc
19
được sử dụng một số yếu tố đầu vào giá hiện còn thấp hơn giá thị trường.
+ Xem xét, miễn, giảm thuế, gia hạn thời gian nộp thuế nguyên liệu đầu vào nhập
khẩu phục vụ sản xuất, xuất khẩu đối với những ngành hàng trong nước còn thiếu nguyên
liệu như dệt may, da giầy, thuỷ sản, hạt điều, gỗ, dược phẩm,…; tiếp tục thực hiện tạm
hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hàng hóa thực xuất khẩu trong năm 2011.
+ Kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc kê khai, áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi
đặc biệt theo cam kết tại các thoả thuận thương mại tự do, các chính sách ưu đãi về thuế
tại các khu phi thuế quan theo đúng quy định. Rà soát để giảm thuế đối với các mặt hàng
là nguyên liệu đầu vào của sản xuất mà trong nước chưa sản xuất được; nghiên cứu tăng
thuế xuất khẩu lên mức phù hợp đối với các mặt hàng không khuyến khích xuất khẩu, tài
nguyên, nguyên liệu thô.
Trong Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10/5/2012 về “một số giải pháp tháo gỡ khó
khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường”, Chính phủ đã ban hành các biện pháp
gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng (6 tháng) đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc
doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động trong một số lĩnh vực; gia hạn thời hạn nộp thuế thu

tạo điều kiện cho nhiều doanh nghiệp thu hút được nhân tài với chi phí đầu tư vừa phải
khi nhiều công ty lớn, kể cả công ty có vốn đầu tư nước ngoài bị buộc phải cắt giảm nhân
sự.
Khủng hoảng đương nhiên là nguy cơ. Nhưng trong khủng hoảng cũng có rất nhiều
cơ hội. Nắm bắt được cơ hội trong khủng hoảng, doanh nghiệp sẽ làm được nhiều việc
hơn, với chi phí thấp hơn so với giai đoạn bình thường.
Nhà doanh nghiệp phải có ý thức nhanh chóng rút ra bài học từ những thất bại,
không lặp lại những sai lầm đã dẫn đến phá sản doanh nghiệp. Tiết giảm chi phí , cơ cấu
lại sản xuất là cách mà nhiều doanh nghiệp hiện nay lựa chọn. Thuốc "lãi suất” và "lạm
phát” đã được chỉ ra như cứu cánh cho doanh nghiệp. Nhưng cũng cần nhấn mạnh rằng,
cộng đồng doanh nghiệp đang rơi vào giai đoạn "sống thực vật”. Do vậy đổ "thuốc” vào
thời điểm này có khi còn nguy hiểm hơn. Binh pháp hiệu quả nhất cho doanh nghiệp hiện
nay được các chuyên gia chỉ ra là tự thay đổi chính bản thân mình, thêm kích thích từ
chính sách nhà nước.
Trước hết các doanh nghiệp cần lưu ý đến những thất bại của một số lĩnh vực
ngành hàng mà đã vấp phải để chọn nước đi cho chính mình. Khi đó, tái cấu trúc trong nội
tại doanh nghiệp phải theo xu hướng cơ cấu kinh tế 2 tầng. Tầng 1 là các doanh nghiệp
chủ động thay đổi mô hình quản trị, nhân sự, tiết giảm chi phí. Tầng 2 là chủ động chuyên
21
môn hóa sâu và có quan hệ hợp tác chặt chẽ hơn với các doanh nghiệp khác, tham gia liên
kết vào các khâu của chuỗi giá trị kinh doanh toàn cầu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status