Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan chuyên đề “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay hộ
sản xuất tại chi nhánh NHNo & PTNT Huyện Thanh Trì" là công trình nghiên cứu
riêng của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong chuyên đề là trung thực xuất phát từ tình
hình thực tế của đơn vị thực tập, Nếu có dấu hiệu sai lệch tôI xin hoàn toàn chịu
trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 05/11/2005
Người trình bày: Đặng thị thanh hoài.
Lời nói đầu
Trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, từ nền kinh tế hành chính quan liêu bao
cấp sang cơ chế hoạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế quốc dân bao
gồm nhiều thành phần kinh tế, nhiều ngành nghề với quy mô và trình độ khác nhau,
công nghệ khác nhau. Phát triển nông - lâm -ngư - nghiệp gắn liền công nghệ chế
biến và xây dựng nông thôn mới. Để đưa nền kinh tế nông thôn phát triển ngang tầm
nền kinh tế thành thị, từng bước công nghiệp hoá - hiện đại hoá trong nông nghiệp.
Vì thế việc phát triển và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ hàng đầu, nó có tầm
quan trọng trong việc nâng cao và ổn định đời sống của hộ sản xuất nông nghiệp,
không ngừng tăng cường và phát triển đời sống mới ở nông thôn.
Muốn đạt được mục đích trên trước hết phải chú ý đến nền sản xuất nông nghiệp
hiện nay bằng cách trong sản xuất nông nghiệp phải thay đổi cơ cấu và tính chất
trong quan hệ sản xuất nông nghiệp, lấy sản xuất hộ nông dân là mặt trận hàng đầu,
thông qua việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, đẩy mạnh việc phát triển trong chăn
nuôi gia súc, gắn liền với việc sản xuất hàng hoá tiêu dùng phải đẩy mạnh sản xuất
hàng hoá xuất khẩu, mở rộng kinh tế đối ngoại phát triển kinh tế dịch vụ, đẩy mạnh
việc mở rộng và phát triển ngành nghề truyền thống. Từng bước xây dựng đồng bộ
kết cấu hạ tầng, xây dựng nền công nghiệp nặng với bước đi thích hợp.
Trước hết là các ngành dịch vụ cho việc phát triển trong sản xuất nông nghiệp, thực
hiện chuyên môn hoá, tự động hoá trong sản xuất chúng ta thấy nước ta sản xuất
nông nghiệp là chủ yếu chiếm 70% trong nền sản xuất hàng hoá. Thu nhập chính
đã vượt lên làm giầu chính đáng vì vậy đầu tư vốn cho hộ sản xuất là rất cần thiết,
thực sự là ý Đảng lòng dân luôn được các cấp các ngành quan tâm giúp đỡ.
Chính vì vậy, em mạnh dạn chọn đề tài: "Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Thanh
Trì”.
Phương pháp nghiên cứu của đề tài là sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử và lý luận kinh tế, quản lý trên lĩnh vực tài chính ngân hàng để thống kê,
phân tích tổng hợp, tổng kết thực tiễn, nhằm đưa ra các giải pháp cho hoạt động tín
dụng ngân hàng.
Chuyên đề được chia thành 2 chương:
Chương I: Tín dụng hộ sản suất – thực trạng cho vay Hộ sản xuất trong thời gian
qua tại NHNN & PTNT Huyện Thanh Trì.
Chương II: Các giải pháp hoàn thiện và mở rộng cho vay hộ sản xuất trong thời gian
tới tại NHNN&PTNT huyện Thanh Trì.
Chương I: Tín dụng Hộ Sản xuất - Thực trạng cho vay
Hộ sản xuất tại NHNn&PTNT Thanh trì
1.1. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội huyện Thanh Trì .
1.1.1, tình hình kinh tế – xã hội huyện thanh trì:
Huyện Thanh Trì là huyện nằm ở vùng trũng phía Nam Hà Nội, kinh tế nông nghiệp
là chủ yếu. Trong những năm gần đây, thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo đúng tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Huyện lần thứ XX kinh tế Huyện đã
có bước phát triển khá. Hiện nay Huyện đang tập trung chỉ đạo phát triển kinh tế
nông nghiệp, xây dựng nông thôn, có chính sách ưu tiên hỗ trợ nông thôn chuyển đổi
cơ cấu sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, chỉ đạo thực hiện các dự án
phát triển làng nghề, quy hoạch khu sinh thái, các dự án phát triển rau, hoa cao cấp
có giá trị kinh tế cao
Tuy nhiên hiện nay diện tích đất cho sản xuất nông nghiệp hiện đang bị thu hẹp do
Nhà nước triển khai nhiều dự án vào địa bàn Huyện, làm giảm tỷ trọng ngành nông
nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - xây dựng cơ bản và
nghiệp của ngân hàng bị thu hẹp.
- Phòng giao dịch của ngân hàng chính sách xã hội, phòng giao dịch của ngân hàng
Đầu tư Hà Nội ra đời, thêm vào đó, NHNo Hoàng Mai được khai trương vào đầu
năm 2005 tạo ra sự cạnh tranh về huy động vốn, cho vay và chia sẻ thị phần của
NHNo Thanh Trì tại khu vực.
- Do đối tượng vay của NHNo & PTNT Thanh Trì chủ yếu là bà con nông dân với
đối tượng đầu tư là cây trồng, con giống, gia súc, thả cá, sản xuất nông nghiệp với số
món tuy nhiều nhưng lượng nhỏ lẻ, manh mún, nên dư nợ cho vay hộ sản xuất còn ít.
Hơn nữa, trình độ dân trí nhìn chung còn thấp, hiểu biết hạn chế, vì vậy rủi ro lớn.
Trước những thuận lợi và khó khăn đó, chi nhánh NHNo & PTNT Thanh Trì
đã, đang và sẽ nỗ lực hết mình để có thể vừa vượt qua được những khó khăn thử
thách để đứng vững trong cạnh tranh, phát huy hơn nữa thế mạnh cũng như khai thác
những điều kiện thuận lợi để phát triển hoạt động kinh doanh của mình.
1.1.2. Sự cần thiết của tín dụng hộ sản xuất trong nền kinh tế
Tình hình kinh tế – xã hội huyện Thanh trì cho chúng ta thấy việc phát triển kinh tế
nông nghiệp ở nông thôn hiện nay giữ một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình
sản xuất nông nghiệp, kinh doanh hàng hoá, phát triển và mở rộng các ngành nghề
truyền thống, khi đồng tiền này sẵn có trong nông nghiệp. Hộ sản xuất là một trong
những nhân tố quyết định tạo ra của cải vật chất cho xã hội, làm phong phú và đã
dạng hoá trong nông nghiệp. Từ việc sản xuất hàng hoá mang tính chất tự cung tự
cấp, đến việc trao đổi hàng hoá trên thị trường. Hộ sản xuất là đơn vị sản xuất hàng
hoá tự chủ tiến hành sản xuất trong điều kiện tự nhiên, phải tham gia cạnh tranh của
nhiều thành phần kinh tế, trong quá trình sản xuất và tiêu thụ hàng hoá. Ngày nay
kinh tế hộ đã và đang phát triển nhờ có cơ chế chính sách mới của Đảng cho hộ tự
chủ trong sản xuất kinh doanh đã phát huy được thế mạnh tính năng động sáng tạo,
tính nhanh nhạy trong việc: Thay đổi cơ cấu sản xuất, Thay đổi cơ cấu đầu tư. Mạnh
dạn đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị cao, hàng
hoá sản xuất ra ngày càng phong phú. Đời sống nhân dân được cải thiện. Như vậy từ
việc phát triển kinh tế hộ đã hình thành nên các thị trường tiêu thụ hàng hoá ngày
dụng đ• đến với tất cả các loại hộ sản xuất.
- Hộ giầu có điều kiện mở rộng sản xuất cải tiến kỹ thuật thu hút lao động tổ chức
sản xuất lớn tạo ra nhiều sản phẩm có năng suất chất lượng tốt giá trị cao đáp ứng thị
hiếu tiêu dùng. Bù đắp đủ chi phí còn có tích luỹ ngày càng nhiều hộ giầu ngày càng
giầu thêm.
- Hộ trung bình vay thêm vốn tín dụng ngân hàng có điều kiện mở rộng sản xuất.
Từng bước đầu tư thiết bị tăng năng suất lao động sản phẩm sản xuất ra nhiều hơn đủ
chi dùng cho gia đình còn dôi thừa, dần dần có tích luỹ để tái tạo sản xuất để trở
thành hộ sản xuất khá dẫn đến giầu.
- Hộ nghèo đói có vốn tín dụng dần từng bước tiếp thu khoa học kỹ thuật tự tổ chức
sản xuất làm ra sản phẩm dần cải thiện đời sống đủ bù đắp chi phí sinh hoạt cho gia
đình từ hộ nghèo đói phấn đấu trở thành hộ trung bình.
Việc thực hiện chủ trương chính sách cho vay đối với kinh tế hộ ở ngân hàng nông
nghiệp thực hiện theo văn bản 499A. Đảm bảo thực hiện đúng nguyên tắc tín dụng
hộ sản xuất sử dụng vốn tín dụng ngân hàng phải sử dụng đúng mục đích bảo toàn
vốn sử dụng có hiệu quả, hoàn trả vốn ngân hàng đầy đủ cả gốc và lãi, ngân hàng sẽ
tiếp tục đầu tư vốn để thực hiện chu kỳ sản xuất tiếp theo.
Như vậy việc đầu tư vốn tín dụng cho các hộ là rất cần thiết đây cũng là một chính
sách mới của Đảng đối với kinh tế hộ đã làm cho quá trình phân hoá giàu nghèo ở
nông thôn được rút ngắn, kinh tế nông thôn ngày càng đổi mới.
Tóm lại: Tín dụng ngân hàng đối với việc mở rộng và phát triển kinh tế hộ ở nông
thôn là một chủ trương lớn của Đảng. Thông qua việc cho vay trực tiếp đến hộ sản
xuất, thông qua việc đầu tư vốn đã khuyến khích tạo điều kiện cho hộ thiếu vốn có
vốn sản xuất, phát triển các ngành nghề truyền thống. Tín dụng ngân hàng đã làm
thay đổi về cơ cấu sản xuất ở nông thôn thông qua việc đầu tư vốn đã xoá hẳn nạn
cho vay nặng lãi, bước đầu đã làm cho nền kinh tế nông thôn phát triển nâng cao đời
sống của nông dân nông thôn.
1.2 thực trạng cho vay hộ sản xuất tại ngân hàng thanh trì trong thời gian qua.
1.2.1. Hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT Thanh Trì thời gian qua.
Đơn vị: Triệu đồng
TG của dân cư
TG của TCKT
TG của TCTD
Tổng nguồn vốn
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh NHNo & PTNT Thanh Trì)
Qua bảng số liệu ta thấy tổng nguồn vốn của chi nhánh có xu hướng tăng lên. Năm
2004 tổng nguồn tăng 53.700 triệu đồng so với năm2003 (tương đương 9%). Trong
đó nguồn tiền gửi của dân cư có xu hướng tăng nhanh hơn so với nguồn tiền gửi của
các tổ chức kinh tế và tiền gửi của tổ chức tín dụng.
Năm 2004, tiền gửi của dân cư tăng 18.000 triệu đồng so với 2003 (tương đương với
10,8%). Nguồn tiền gửi của các tổ chức kinh tế cũng đã tăng lên (năm 2004 gấp
2,35% so với năm 2003). Xét về cơ cấu tỉ trọng thì nguồn tiền gửi của dân cư là cao
nhất ở cả 2 năm, sau đó đến tỉ trọng tiền gửi của các tổ chức kinh tế, các tổ chức tín
dụng.
Bảng 2.2: Cơ cấu nguồn vốn theo thời hạn huy động
Đơn vị: triệu đồng
Không kỳ hạn
Kỳ hạn < 12 tháng
Kỳ hạn > 12 tháng
Tổng nguồn vốn
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh NHNo & PTNT Thanh Trì)
Theo thời hạn huy động ta thấy tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi kỳ hạn trên 12
tháng có xu hướng tăng lên, tiền gửi kỳ hạn < 12 tháng có xu hướng giảm qua 2 năm.
Trong đó nguồn tiền gửi không kỳ hạn tăng 22.700 triệu đồng (tương đương với
18,45%), nguồn vốn này tăng chủ yếu là do tiền gửi của các tổ chức kinh tế tăngvà
tập trung chủ yếu ở hai đơn vị lớn là kho bạc Hoàng Mai và ban quản lý dự án Thăng
Long thường xuyên có trên dưới 70 tỷ năm 2004. Nguồn tiền gửi này tuy tăng không
nhiều nhưng mang lại lợi nhuận cao cho chi nhánh. Tính riêng năm 2004, với lãi suất
hiện khoán lương tới từng người để nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ tín dụng
trong việc mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng.
Việc mở rộng cho vay vẫn được tiến hành với mọi đối tượng khách hàng như cho
vay phục vụ nhu cầu đời sống với cán bộ công nhân viên trong các doanh nghiệp
Nhà nước có thu nhập từ lương ổn định, trú trọng mở rộng cho vay các đơn vị nhỏ.
Được sự quan tâm của cấp trên, chi nhánh NHNo Thanh Trì đã tham gia đầu tư dài
hạn các dự án lớn như dự án xi măng Bút Sơn, các dự án xây dựng cơ bản. Chi
nhánh luôn phối hợp cùng các ban ngành của huyện và quận Hoàng Mai để xây dựng
các dự án tiểu vùng, đề án mang tính chiến lược lâu dài và mang tính chính trị của
huyện, quận. Chi nhánh đã có định hướng đúng trong hoạt động đầu tư, chỉ đạo uyển
chuyển linh hoạt về mức lãi suất cho vay xác định đối tượng được ưu tiên, ưu đãi về
lãi suất.
Dư nợ của mỗi CBTD được nâng cao, chất lượng hoạt động tín dụng tăng (thể hiện ở
tỷ lệ NQH thấp) là nhờ có chính sách đối với cán bộ công nhân viên của ngân hàng.
Bên cạnh đó, hiện nay các phòng nghiệp vụ đều lên kế hoạch tập huấn nghiệp vụ cho
cán bộ vào ngày thứ 7, chủ nhật. Chi nhánh tập trung cán bộ học các quy chế nghiệp
vụ cho vay, bảo đảm tiền vay và thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy
trình nghiệp vụ cho vay để chấn chỉnh kịp thời sai sót.
Bảng 2.3: Cơ cấu dư nợ cho vay theo thời hạn cho vay.
Ngắn hạn
Trung, dài hạn
Tổng dư nợ
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh NHNo & PTNT Thanh Trì)
Bảng 2.3 cho ta thấy dư nợ cho vay năm 2004 đã tăng lên rất cao sovới năm 2003:
Năm 2004 tăng 114.000 triệu đồng so với 2003 (tương đương 50%). Chi nhánh thực
hiện cho vay ngắn hạn là chủ yếu. Năm 2003, dư nợ ngắn hạn là 85%, và năm 2004
là 81,3% so với tổng dư nợ.
Về xu hướng ta thấy dư nợ ngắn hạn có xu hướng giảm dần, dư nợ trung, dài hàn có
798 triệu đồng chiếm 0,4% tổng dư nợ. Đến 31/12/2004 nợ quá hạn là 702 triệu,
chiếm 0,22% tổng dư nợ và chỉ tập trung vào hộ sản xuất, không có doanh nghiệp
nào nợ quá hạn. Trong số 702 triệu nợ quá hạn thì nợ quá hạn của dự án 2561 (WB)
cho vay từ những năm 1994 - 1997 chiếm 552 triệu. Như vậy thực chất nợ quá hạn
mới phát sinh là 150 triệu đồng (150 triệu đồng/88000 triệu đồng dư nợ hộ sản xuất
và tư nhân, khoảng 0,17%). Để đạt được thành công này trước hết phải nói đến vai
trò của cán bộ tín dụng, nhờ thực hiện tốt quy trình nghiệp vụ cho vay, thẩm định kỹ
lưỡng trước khi cho vay nên nợ quá hạn rất thấp.
Cũng trong năm 2004, nhờ sự tích cực và thái độ kiên quyết thu hồi nợ, đồng thời
nhờ có việc các dự án trên địa bàn Hoàng Mai, Thanh Trì đền bù giải phóng mặt
bằng cho dân cư, chi nhánh đã thu hồi được 1390 triệu đồng đã xử lý rủi ro trong đó
785 triệu đồng nợ gốc. Đây là thành công mà chi nhánh nên phát huy hơn nữa.
c) Các hoạt động khác:
- Hoạt động kế toán - ngân quỹ: Cùng với sự đổi mới công nghệ ngân hàng đáp
ứng yêu cầu của chương trình thanh toán mới, NHNo Thanh Trì đã tổ chức mở các
lớp đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ kế toán - ngân quỹ, cử cán bộ kế toán -
ngân quỹ tham gia học các lớp do Trung tâm điều hành tổ chức, các cán bộ này sẽ
hướng dẫn các kế toán viên cho chi nhánh. Năm 2004 vừa qua, các cán bộ phòng kế
toán - ngân quỹ đã có những thành tích rất đáng khen ngợi, đó là việc cải tiến chiếc
máy đếm tiền cũ trước kia để đếm tiền giấy thành máy đếm tiền có thể sử dụng đếm
tiền Polime, tiết kiệm cho chi nhánh chi phí mua sắm thiết bị ngân hàng. Hoạt động
kế toán ngân quỹ của chi nhánh luôn thực hiện đúng các quy định, các văn bản
hướng dẫn do NHNo & PTNT ban hành. Với phương châm phục vụ khách hàng tốt
nhất, đáp ứng mọi nhu cầu cho khách hàng nên ngân hàng luôn có đủ khả năng thanh
toán tức thời cho khách hàng khi họ có nhu cầu về tiền mặt cả nội tệ và ngoại tệ,
thực hiện điều chỉnh kịp thời, nhanh chóng, an toàn, chính xác giữa các phòng giao
dịch, các ngân hàng với nhau.
- Hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ: Đây là mảng hoạt động còn
mới mẻ đối với ngân hàng, phòng thanh toán quốc tế và nghiệp vụ kinh doanh ngoại
khăn phức tạp. Hoạt động tín dụng trong những năm bao cấp chỉ có một số khách
hàng, nay số khách hàng tăng lên đáng kể vì thế công việc của tín dụng cũng tăng lên
và đa dạng hoá dẫn đến chất lượng tín dụng càng gặp khó khăn, tỷ lệ quá hạn lớn dẫn
đến rủi ro nhiều.
Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn huyện Thanh Trì đã tiến hành
cho vay thu nợ trực tiếp cho hộ sản xuất nông nghiệp cho các đối tượng.
*) Thực tế thực hiện quy trình nghiệp vụ tín dụng.
- Cho vay ngắn hạn :
Bổ sung nhu cầu thiếu vốn tạm thời trong quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành
cho vay hộ có nhu cầu về vốn vay chăn nuôi gia súc (lợn,, thả cá )
+ Cho vay mua giống, phân bón thực hiện quá trình sản xuất nông nghiệp trên địa
bàn
+ Cho vay sản xuất các mặt hàng truyền thống như mộc, nghề thủ công mỹ nghệ .
+ Cho vay tiêu dùng (mua xe gắn máy).
+ Cho vay phương tiện vận chuyển trên địa bàn (như ô tô, xe công nông, tàu thuyền
và trâu bò kéo).
Căn cứ vào nhu cầu vay vốn của hộ sản xuất mà cán bộ tín dụng trực tiếp đến từng
hộ vay điều tra, thẩm định tài sản thế chấp, khi đủ điều kiện vay vốn thì tiến hành
hướng dẫn làm dự án, tiến hành phát tiền vay.
- Cho vay trung và dài hạn.
Nhằm mục đích bổ sung vốn để đầu tư mua sắm thêm công cụ, xây dựng nhà xưởng.
Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển huyện Thanh Trì đã thực hiện đúng đắn quy
trình hướng dẫn cho vay vốn trực tiếp đến hộ sản xuất, tiến hành đầu tư vốn bằng các
hình thức cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Hộ vay vốn sử dụng vốn đúng
mục đích, trong sản xuất kinh doanh đã có hiệu quả. Đã góp phần làm tăng trưởng
nền kinh tế của địa phương xoá được nạn cho vay nặng lãi ở nông thôn và thành thị,
góp phần tích cực vào chủ trương xoá đói giảm nghèo tạo điều kiện cho một số hộ
vươn lên làm giầu chính đáng.
Từ thực trạng kết cấu dư nợ được phân tích ở trên, hoạt động tín dụng năm
2004 của Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn huyện Thanh Trì có
thể đánh giá : Khối lượng dư nợ được tập trung đầu tư và bố trí theo một cơ cấu có
điều chỉnh để hợp lý với yêu cầu chỉ đạo sản xuất kinh doanh của các thành phần
kinh tế trên địa bàn. Tạo thế ổn định vốn, giải quyết các chi phí sản xuất kinh doanh
cần thiết, tối thiểu để hoàn thành kế hoạch mục tiêu của Đảng bộ địa phương đã đề
ra.
- Dư nợ đầu tư cho hộ nghèo thiếu vốn sản xuất kinh doanh được thông qua các tổ
tương trợ như hội nông dân, hội phụ nữ, cùng các tổ chức chính trị xã hội từ các cấp,
cơ sở, giúp ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Thanh Trì giải
ngân đúng chính sách, đúng chế độ, các hộ nghèo được vay vốn với lãi xuất ưu đãi
này đã sử dụng vốn đúng mục đích sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi tạo lập được
phong cách làm ăn có tính toán giải quyết khó khăn về đời sống người lao động đang
từng bước xoá đói giảm nghèo. Đó cũng chính là mục tiêu mà ngân hàng nông
nghiệp và phát triển nông thôn huyện Thanh trì phấn đấu trong năm 2004 để góp
phần vào thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo theo tinh thần nghị quyết của
Đảng bộ.
- Chất lượng tín dụng với sự chỉ đạo của ngân hàng nông nghiệp Việt Nam ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Thanh Trì đã tiến hành rà soát lại
100% dư nợ về các mặt như : Hồ sơ tín dụng, quy trình nghiệp vụ và thực hiện đối
chiếu nợ công khai thực chất là kiểm kê lại dư nợ trong các hộ sản xuất kinh doanh.
Qua đó kết hợp với cơ quan pháp luật và chính quyền các cấp xử lý một số hộ có dư
nợ quá hạn. Giá trị tài sản thế chấp cần xử lý để thu hồi nợ đọng ngày càng giảm. So
với dư nợ nên giải quyết thu hồi nợ chậm, nợ quá hạn còn tồn tại cuối năm 2004 là
702 triệu đồng chiếm tỷ trọng 0.22% trong tổng dự nợ.
1.3.1: Kết quả đầu tư vốn như sau :
Trong năm đã có hơn 4000 lượt hộ vay vốn ngân hàng để sản xuất kinh doanh dịch
vụ. Với số tiền 88.000 triệu đồng
- Về trồng trọt : Đã cho vay để mua giống mới lúa, ngô, khoai, cây ăn quả có năng
Đảng, của Nhà nước và của nhân dân.
- Chuyển sang kinh doanh, quán triệt quan điểm hạch toán tập trung thống nhất
toàn ngành nhưng phải thực hiện cơ chế phân cấp quản lý cho cơ sở. (Điều mà người
ta thường nói ngân hàng nông nghiệp đi theo phương pháp hạch toán phi tập trung
hoá).
- Trong cơ chế kinh doanh, phải từng bước hoàn thiện quy trình, quy chế quản lý,
điều hành, tác nghiệp, có kỷ cương và kích thích sự sáng tạo của cơ sở. Mọi hoạt
động phải được phân công rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm trước doanh nghiệp và
trước pháp luật.
- Coi trọng công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện ngăn chặn các hành vi sai phạm và
xử lý nghiêm minh, đặc biệt là hành vi tư lợi, tham nhũng.
1.3.2: Tồn tại nguyên nhân tồn tại :
- Trong quá trình thẩm định hồ sơ cho vay - thu nợ cán bộ tín dụng chưa nắm sát địa
bàn dẫn đến còn một số hộ quá hạn. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến nợ quá hạn,
song việc cho vay chủ yếu là hộ hộ sản xuất nông nghiệp ở nông thôn nên NHNo
huyện Thanh trì có những nguyên nhân chủ yếu sau:
Nguyên nhân khách quan:
+ Nền kinh tế trong quá trình chuyển đổi, do vậy chính sách cơ chế của nhà nước
cũng luôn thay đổi và đI tới hoàn thiện. Quá trình thay đổi đó nhiều khi làm các chủ
thể kinh tế hướng không kịp, không giảI phóng được vốn, gây khó khăn trong việc
trả nợ ngân hàng.
+Sự biến động của giá cả thị trường, nhất là giá nông sản người nông dân bán sản
phẩm không bù đắp nổi chi phí , nên đợi giá chưa bán được dẫn đến không có tiền
trả nợ.
+ Do địa bàn kinh doanh rộng, khách hàng chủ yếu là hộ sản xuất, ở vùng nông thôn
cho vay vốn món nhỏ, trong khi đó hình thức vay trực tiếp là chủ yếu, nên đã có biểu
hiện quá tảI về công việc đối với CBTD.
Nguyên nhân chủ quan: