I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Cơ cấu kinh tế là vấn đề chiến lược, bởi nó là định hướng không phải
chỉ một năm, mà phải 5 năm, 10 năm, thậm chí mấy chục năm và hơn nữa
đi theo với cơ cấu kinh tế còn là cơ cấu đầu tư, cơ cấu lao động cũng như
phải có hàng loạt các chính sách kinh tế xã hội.
Cơ cấu kinh tế bao gồm cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ
cấu vùng kinh tế. Vậy cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng nào và
tốc độ chuyển dịch ra sao?
II. NỘI DUNG CHÍNH:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CCKT) theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá là con đường đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là hướng
đi tất yếu để phát triển kinh tế, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng lạc hậu,
chậm phát triển trở thành một quốc gia văn minh, hiện đại. Chúng ta sẽ đi
tìm hiểu cụ thể tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời gian vừa
qua.
1. Chuyển dịch cơ cấu ngành:
Cơ cấu ngành kinh tế vừa là cơ cấu quan trọng, vừa là cơ cấu mang
tính phổ biến của thế giới. Đối với Việt Nam, đất nước đi lên từ một nước
nông nghiệp, thì cơ cấu ngành kinh tế còn đặc biệt quan trọng đã có những
chuyển biến tích cực, đồng thời có những “zích zắc” cần phải được xem xét
tổng thể. Chuyển dịch tích cực về cơ cấu ngành kinh tế được thể hiện trên
một số mặt sau:
* Về cơ cấu các ngành lớn:
Có thể nêu lên ba nhận xét liên quan đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế ba ngành kinh tế chủ chốt trong gần 20 năm qua trong thời kỳ đổi mới:
1. Để tạo nên sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ này, ngành công
nghiệp (bao gồm cả xây dựng) và các phân ngành của nó đã có tốc độ tăng
trưởng nhanh, tạo nên sự chuyển dịch vượt trước. Đặc biệt, ngành khai thác
mỏ đã có bước tiến nhanh với khai thác dầu khí, than được đẩy mạnh.
Ngành dầu khí từ chỗ chưa khai thác dầu nay đã có sản lượng gần 20 triệu
tấn/năm (quy dầu) và ngành than tăng sản lượng lên hơn 3 lần, vượt 15
liên quan đến kết cấu hạ tầng kinh tế và phát triển đô thị, nhưng sự phát
triển không đều, nhất là trong những năm gần đây đã chuyển biến chậm
hơn kinh tế nói chung, làm hạn chế sự tăng trưởng nền kinh tế. Trong
những năm đổi mới, ngành vận tải tăng sản lượng vận tải hàng hóa lên hơn
5 lần, trong đó khu vực tư nhân rất lớn mạnh hơn 10 lần trong thời kỳ đổi
mới và có sản lượng chiếm tới ¾ khối lượng hàng hóa vận chuyển. Tóm
lại, trong gần 20 năm, ngành dịch vụ cũng có bước phát triển tương đối khá
nên đã tăng được 5 điểm phần trăm, góp phần nâng cao hiệu quả của nền
kinh tế.
* Về cơ cấu các phân ngành : có thể nêu mấy nhận xét:
1. Trong lĩnh vực nông nghiệp, sản xuất thuần nông đã giảm 50% tỷ
trọng trong nền kinh tế, mặc dù đã chuyển mạnh từ sản xuất lương thực
sang cây công nghiệp (cả ngắn ngày và dài ngày), nhưng đất nước vẫn bảo
đảm an toàn lương thực, mỗi năm xuất khẩu được 3-4 triệu tấn gạo. Tuy
nhiên, hiệu quả của vấn đề xuất gạo và một số cây công nghiệp cần được
tính toán kỹ hơn để có lợi ích lâu dài cho đất nước và cho người nông dân.
2. Ngành lâm nghiệp đã chủ động điều chỉnh đúng hướng, chuyển sang
chăm sóc và tái tạo rừng, nâng cao độ che phủ. Hiện nay, tỷ lệ che phủ đã
đạt 38%. Các ngành công nghiệp chế biến gỗ đã có chuyển biến sử dụng gỗ
hợp lý hơn, kể cả cho mục đích dân sinh hay xuất khẩu.
3. Ngành thủy sản đã có sự chuyển biến vượt bậc, tăng với tốc độ trên
10% và gấp đôi tỷ trọng giá trị gia tăng trong nền kinh tế, tuy hiệu quả của
ngành này cần có bước chuyển biến mạnh hơn. Việc đầu tư cho thủy sản
phát triển bền vững vẫn là một vấn đề cần được xem xét thêm.
4. Ngành công nghiệp chế biến tuy chiếm khoảng 80% giá trị sản lượng
nhưng chỉ đóng góp 50% giá trị gia tăng của ngành CN-XD là do đã phát
triển mạnh các lĩnh vực gia công có giá trị gia tăng thấp. Đây cũng là một
nhược điểm quan trọng làm giảm hiệu quả và sức cạnh tranh trong điều
kiện hội nhập. Trong những năm tới, cần có chiến lược và chính sách cụ
thể để phát triển những lĩnh vực có tỷ lệ giá trị gia tăng cao hơn, có sức
35,7
195,
6
51,3
43,7
273,7
63,7
54,5
2,5
335,
8
70,5
59,4
7,45
4,06
3,99
1,29
6,83
3,72
3,43
2,53
* Lâm nghiệp
* Ngư nghiệp
- Công nghiệp-
xây dựng
* Công nghiệp mỏ
* Công nghiệp chế
biến
* Công nghiệp
điện, nước, gas
4,2
5,5
1,8
2,4
5,3
58,6
10,3
30,2
3,4
14,6
85,7
33,6
6,7
7,8
3,4
6,7
96,9
18,4
51,5
6,3
20,7
113,
0
44,6
8,9
10,7
5,7
2,6
8,4
129,
7,83
6,25
9,84
Nguồn: Niên giám thống kê các năm.
Sự chuyển dịch này đạt được do đã tạo ra được quy mô kinh tế mới
và tốc độ tăng trưởng lớn trong các ngành công nghiệp và dịch vụ. Chẳng
hạn, trong khi công nghiệp và xây dựng tăng giá trị gia tăng trên dưới
10%/năm, gấp 1,5 lần tốc độ chung. Trong 17 năm qua, ngành mỏ đã có giá
trị gia tăng tăng trưởng với tốc độ gần 20%/năm, tạo nên sự vượt trội của
ngành này trong cơ cấu kinh tế, từ 1,84% lên 9,43%GDP. Tất cả các ngành
công nghiệp khác và xây dựng cũng đều tăng trên 10%/năm giá trị gia tăng
đã tạo nên tỷ trọng vượt trội của công nghiệp và xây dựng. Đối với ngành
nông, lâm, ngư, do thủy sản tăng giá trị sản lượng và cả theo giá trị gia tăng
gấp đôi nông nghiệp nên đã tạo ra sự chuyển dịch có hiệu quả. Các ngành
dịch vụ cũng tăng khá, tạo ra sự chuyển dịch tích cực. Ngành dịch vụ mặc
dù có lúc có tốc độ tăng cao hơn chút ít so với tốc độ GDP, có những phân
ngành quan trọng có mức tăng trưởng khá cao, tạo nên chuyển dịch trong
ngành này, nhưng nhìn chung mấy năm gần đây chuyển biến chậm.
Trong sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cũng đã nổi lên một số vấn
đề cần xử lý:
1. Ngành nông nghiệp nói chung tăng chậm do những nguyên nhân
khách quan, nhưng sự chuyển dịch cơ cấu lao động chưa tương ứng, việc
đầu tư cũng chưa phù hợp; đầu tư thủy lợi chiếm đến 70% vốn cho nông
nghiệp, nhưng các lĩnh vực khác chưa được chú ý tương xứng. Ngành thủy
sản tuy có sự tăng trưởng vượt bậc, nhưng sự đầu tư cho lĩnh vực khuyến
ngư, thủy lợi cho ngư nghiệp, đầu tư cho khâu giống và chế biến tiêu thụ
sản phẩm cũng chưa thật cân đối. Kết quả là năng suất lao động và hiệu quả
bị giảm sút mạnh, sản lượng tăng nhanh nhưng giá trị gia tăng lại tăng
chậm, do tiêu hao vật chất tăng rất cao.
2. Ngành công nghiệp chế biến tuy tăng nhanh giá trị sản lượng, nhưng
ngoài trong tổng số vốn đàu tư xã hội, trong tổng giá trị sản xuất công
nghiệp, trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng,
trong tổng kim ngạch xuất khẩu, trong tổng số lao động đang làm việc…
còn cao tăng nhanh và cao hơn nữa. Trong tổng giá trị sản xuất công
nghiêp(tính thực tế), tỷ trọng của kinh tế tư nhân tăng từ 14.2% năm 2000
lên trên 20% nawm2007, tỷ trọng của nền kinh tế có vốn đàu tư nước ngoài
đã tăng tương đương từ 41.3% lên gần 46%, vượt xa tỷ trọng doanh nghiệp
nhà nước. Trong tổng kim ngạch xuất khẩu, khu vực có vốn đầu tư nước
ngoài hiện chiếm 57,5%. Trong tổng số vốn đầu tư phát triển, tỷ trọng vốn
của khu vực nhà nước(kể cả nguồn vốn ODA) đã giảm từ 59,8% năm 2001
xuống còn 43,3% năm 2007, khu cực nhà nước tăng từ 22,9% lên 40,7%,
khu vực có vốn đàu tư nước ngoài tăng 14,2% (2005) lên 16%(2007)..
Khi sửa đổi Luật doanh nghiệp (năm 2000), các doanh nghiệp tư
nhân đã có điều kiện thuận lợi để phát triển. Bộ luật này đã thể chế hóa
quyền tự do kinh doanh của các cá nhân trong tất cả các ngành nghề mà
pháp luật không cấm, dỡ bỏ những rào cản về hành chính đang làm trở ngại
đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp như cấp giấy phép, thủ tục,
các loại phí… Tính trong giai đoạn 2000-2004, đã có 73.000 doanh nghiệp
tư nhân đăng ký mới, tăng 3,75 lần so với giai đoạn 1991-1999. Cho đến
năm 2004, đã có 150.000 doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động theo Luật
doanh nghiệp, với tổng số vốn điều lệ là 182.000 tỷ đồng. Từ năm 1991
đến năm 2003, tỷ trọng của khu vực kinh tế tư nhân trong GDP đã tăng từ
3,1% lên 4,1%, kinh tế ngoài quốc doanh khác từ 4,4% lên 4,5%, kinh tế cá
thể giảm từ 35,9% xuống 31,2%, và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng
từ 6,4% lên 14%. Từ 1/7/2006, Luật Doanh nghiệp 2005 (áp dụng chung
cho cả doanh nghiệp trong nước và đầu tư nước ngoài) đã có hiệu lực, hứa
hẹn sự lớn mạnh của các doanh nghiệp bởi sự bình đẳng trong quyền và
nghĩa vụ của các doanh nghiệp, không phân biệt hình thức sở hữu.
Trong khu vực doanh nghiệp nhà nước, những chính sách và biện
pháp điều chỉnh, sắp xếp lại doanh nghiệp, đặc biệt là những biện pháp về
* Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sơ các công ty nhà nước,
có sự tham gia của các thành phần kinh tế. Khẩn trương cải thiện tình hình