LỜI MỞ ĐẦU
Hơn 10 năm đổi mới cùng với các chính sách phát triển kinh tế. Đảng và
Nhà nước đã ban hành một hệ thống chính sách xã hội hướng vào phục vụ lợi
ích và phát triển toàn diện con người như: Chính sách giải quyết việc làm và thu
nhập, giáo dục, chăm sóc bảo vệ sức khoẻ, chính sách dân tộc và tôn giáo, chính
sách đối với người có công với đất nước... Nhờ đó Việt Nam đã đạt được những
thắng lợi to lớn về kinh tế - xã hội. Từ một nước cái gì cũng thiếu nay đã dư
thừa, từ chỗ lạc hậu về cơ sở hạ tầng nay từng bước xây dựng hiện đại. Nói
chung nước ta trở thành một nước có nền kinh tế năng động, ổn định và phát
triển nhanh. Tuy nhiên để thu hẹp khoảng cách giữa Việt Nam với nước phát
triển còn rất nhiều chính sách chúng ta phải giải quyết, những chính sách xã hội:
nổi lên gay gắt như: Người chưa có việc làm, thiếu việc làm ngày càng tăng. Sự
phân hoá giàu nghèo tăng nhanh tệ nạn xã hội và tội phạm có chiều hướng gia
tăng, trong các chính sách nêu trên lao động và việc làm đang là một sức ép lớn,
là một trong những chính sách có tính toàn cầu, là mối quan tâm lớn của nhân
loại nói chung và của mỗi quốc gia nói riêng trong đó có Việt Nam chúng ta.
Hiện nay Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước do đó việc nghiên cứu chính sách giải quyết việc làm có ý nghĩa rất
thiết thực, chính sách giải quyết việc làm và chống thất nghiệp là một trong
những tiêu chí bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, là chính sách xã hội cơ
bản góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển xã hội.
Với ý nghĩa muốn tìm hiểu nhận thức đượcchủ trương, chính sách của
Nhà nước về chính sách giải quyết việc làm. Em xin mạo muội được viết và lấy
tên đề tài của mình là “Chính sách việc làm trong nền kinh tế thị trường ở
nước ta hiện nay”.
1
CHƯƠNG II
TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM
I. CÁC KHÁI NIỆM
Để nghiên cứu và xây dựng chính sách việc làm, vấn đề quan trọnglà
chúng ta phải thống nhất về mặt khái niệm. Đó chính là các chuẩn mực cơ bản
II. VỊ TRÍ VÀ Ý NGHĨA CỦA CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM
1. Vị trí chính sách việc làm trong hệ thống các chính sách kinh tế -
xã hội
Khi nghiên cứu lý thuyết về sự phát triển, mọi người đều nhận thức rằng
một trong những chính sách cơ bản nhất trong cấu trúc của nó là phát triển
nguồn nhân lực, coi đó là đỉnh cao nhất, là mục tiêu cuối cùng của mọi quá trình
phát triển. Điều này hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với nhận thức mới về phát
triển con người trong thế giới hiện đại. Theo lý thuyết này thì chính sách trung
tâm của thời đại chúng ta là chính sách con người và sự tham gia của con người
vào tiến trình phát triển xã hội và tiến bộ xã hội.
Mấy chục năm qua, cùng với chính sách phát triển kinh tế. Đảng và Nhà
nước ta đã ban hành một hệ thống chính sách xã hội nhân bản, hướng vào phục
vụ lợi ích của con người và phát triển con người toàn diện trong đó đặc biệt là
chính sách phát triển dân trí, bảo vệ sức khoẻ, đảm bảo công ăn việc làm, an
toàn xã hội tự do tín ngưỡng, bình đẳng giữa các dân tộc... chính vì vậy mà chỉ
số phát triển con người ở Việt Nam đã nâng cao. Để thực hiện mục tiêucủa chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam là “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn
minh”, hệ thống chính sách xã hội phải dựa trên nền tảng cốt lõi nhất là coi
trọng yếu tố con người và phát huy đến mức cao nhất tiềm năng của con người,
song suy cho cùng hệ thống chính sách xã hội phải bảo đảm các yêu cầu có tính
nguyên tắc sau:
- Mọi người có việc làm, có thu nhập đảm bảo cuộc sống hàng ngày...
- Thực hiện nguyên tắc công bằng, dân chủ, bình đẳng trong mọi quan hệ
xã hội trước pháp luật.
3
- Xây dựng một xã hội phát triển tương đối đồng đều, giảm dần sự cách
biệt giữa lao động chân tay và lao động trí óc, giữa phụ nữ và nam giới, giữa
nông thôn và thành thị, giữa người giàu và người nghèo giữa người có hoàn
cảnh bất lợi, rủi ro với người có hoàn cảnh thuận lợi...
Chính sách xã hội với yêu cầu như trên, là yếu tố của sự phát triển và nằm
dục, phòng chống tệ nạn xã hội, xoá đói giảm nghèo...).
Chính sách việc làm cho đối tượng chưa có việc làm, thất nghiệp hoặc
thiếu việc làm. Nhà nước ta thường quan tâm đến loại chính sách này tức là đối
tượng cấp bách nhất cần có việc làm ổn định, an toàn xã hội.
Chính sách việc làm là một loại chính sách xã hội liên quan đến một trong
những mặt sống còn của cuộc sống con người, là một trong những yếu tố cơ bản
phát triển con người vì vậy chính sách việc làm liên quan đến thoả mãn nhu cầu
cơ bản của con người và là nguồn gốc căn nguyên của mọi chính sách xã hội
khác, chính sách việc làm có mục tiêu xã hội rất rõ nét là một trong những nội
dung cơ bản của công bằng xã hội và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.
Cùng với chính sách xã hội khác. Chính sách việc làm góp phần ổn định, phát
triển và tiến bộ xã hội. Bởi vậy chính sách việc làm mang tính xã hội, nhân văn
và nhân đạo sâu sắc.
Đối tượng của chính sách việc làm là mọi người lao động có khả năng lao
động và có nhu cầu việc làm.
Để thực hiện chính sách việc làm đến đúng mục tiêu đối tượng và hiệu
quả thì chúng ta không thể thực hiện theo kiểu hành chính, mà phải có cơ chế và
quy trình vận hành riêng.
2. Mục tiêu của chính sách việc làm
Đối với chính sách giải quyết việc làm là một trong những chính sách xã
hội nên khi đưa ra có rất nhiều mục tiêu nhưng ta có thể đưa ra một số mục tiêu
cơ bản sau:
- Mục tiêu hiệu quả kinh tế - xã hội.
- Chống thất nghiệp.
- Tăng thu nhập
- Nâng cao mức sống
5
- Giảm nghèo khổ.
3. Các giải pháp của chính sách giải quyết việc làm
Các giải pháp được thể hiện ở một số mô hình giải quyết việc làm sau
có xu hướng ngày càng giảm dần chỉ còn 0,5% ở năm 1998.
Về trình độ văn hoá, số người không biết chữ từ 10 tuổi trở lên có5,44
triệu người vào năm 1979 và 5,3 triệu người vào năm 1989, đến năm 1999 thì
hầu như mọi người dân đều biết chữ và đều đã phổ cập tiểu học và trung học.
Tóm lại: Nước ta có nguồn lao động rất dồi dào tốc độ phát triển nguồn
lao động vẫn ở mức cao, lại phân bố không đều, phần lớn tập trung ở khu vực
nông thôn (gần 80%); chất lượng nguồn lao động rất thấp, đặc biệt chưa qua đào
tạo, lại đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, nên dẫn đến tình trạng rất
khó khăn về việc làm và tạo ra cơ cấu lao động hợp lý, đáp ứng yêu cầu của sự
7
thay đổi cấu trúc nền kinh tế tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế - xã
hội.
2. Đặc điểm thị trường lao động và việc làm
a. Áp lực lớn về việc làm.
Lực lượng lao động ở Việt Nam trong những năm gần đây đã liên tục tăng
với tốc độ cao, một mặt tạo nguồn lựclớn cho phát triển đất nước, nhưng mặt
khác cũng tạo ra áp lực về đào tạo nghề và giải quyết việc làm: đây là điểm dễ
thấy về quan hệ cung - cầu lao động.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công
nghiệp và dịch vụ đã bước đầu có tác dụng nhất định với việc thu hút, chuyển
dịch cơ cấu lao động. Tuy nhiên, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn rất chậm
cụ thể: trong vòng 10 năm từ năm 1990 đến năm 2000, khu vực công nghiệp và
dịch vụ lực lượng lao động tăng 14,2%, trong khi đó lực lượng lao động nông
nghiệp chỉ giảm 4% (từ 72% năm 1990 xuống 68% năm 1999).
Chính vì vậy tình trạng thiếu việc làm và dư thừa lao động càng trở nên
bức xúc: tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi ở khu vực thành
thị có xu hướng gia tăng nếu năm 1996 là 5,8% thì năm 1997 là 6,01% năm
1998 là 6,85% và năm 1999 là 7,4% (trong đó nữ là 8,26%) đồng thời tỷ lệ lao
động thất nghiệp ở khu vực thành thị chủ yếu tập trung ở lực lượng lao động trẻ
có độ tuổi từ 15 - 25 lực lượng lao động ở nhóm tuổi càng cao, tỷ lệ thất nghiệp
24,5%
35%
35%
Các nhà khoa học
Kỹ sư
Chuyên viên kỹ thuật
Lao động lành nghề
Lao động không lành nghề
Hình 1 Hình 2
Cơ cấu lực lượng lao động kỹ thuật Việt Nam 1979 - 1998
1979 1989 1999
Số lượng
(nghìn
người)
Tỷ lệ
%
Số lượng
(nghìn
người)
Tỷ lệ
%
Số lượng
(nghìn
người)
Tỷ lệ
%
Tổng số 2.474 100 3.295 100 3.898 100
Công nhân
kỹ thuật
1.699 68,6 1.478 44,9 1.590 40,8
(1986 - 1996), số học sinh học nghề giảm 2,5%. Số giáo viên dạy nghề giảm
31%, số trường dạy nghề giảm trên 40%, trong khi đó có tới 70 - 80% số sinh
viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng ra trường không có việc làm.
Thứ ba, lực lượng lao động nông nghiệp chủ yếu trong cơ cấu lao động
theo ngành: sự nghiệp công nghiệp hoá đã được tiến hành vài thập kỷ, song cho
đến nay nền kinh tế nước ta vẫn còn mang đậm dấu ấn một nền kinh tế thuần
nông thể hiện rõ trong cơ cấu nguồn lao động theo ngành, năm 1993, lao động
nông nghiệp chiếm tới 71% trong khi lao động công nghiệp chỉ có 12% và dịch
vụ 17% trong tổng lực lượng lao động công nghiệp chỉ có 12% và dịch vụ 17%
trong tổng lực lượng lao động xã hội, năm 1998 cơ cấu lao động theo ngành đã
chuyển biến tích cực, nhưng so với yêu cầu còn rất chậm: lao động nông nghiệp
giảm xuống còn 66% lao động công nghiệp và dịch vụ tăng lên là 13%, 21%
nhưng so với khu vực ta còn rất lạc hậu.
Thứ tư, thiếu cân đối trong cơ cấu lao động theo vùng lãnh thổ:
Hiện nay, tỷ trọng lao động ở hai vùng đồng bằng sông Hồng và Sông
Cửu Long cao nhất nước (20,5% và 21,7% tổng lực lượng lao động xã hội)
trong khi đó vùng tây nguyên rộng lớn lực lượng lao động chỉ có 4%, vùng
duyên hải miền Trung 10,4% và Đông Nam Bộ 12,7%, sự mất cân đối này
không chỉ gây lên khó khăn cho chính sách công ăn việc làm, mà còn ảnh hưởng
xấu đến phát triển kinh tế, xã hội cũng như an ninh quốc phòng của đất nước.
c. Hiện trạng việc làm ở khu vực thành thị:
Dân số và lao động thành thị nước ta không lớn song tình trạngviệc làm ở
khu vực thành thị luôn luôn diễn ra căng thẳng và cấp bách. Theo kết quả điều
tra lao động - việc làm ở khu vực thành thị 1/7/1999, tỷ lệ thất nghiệp của lực
lượng lao động từ đủ 15 tuổi trở lên ở khu vực thành thị cả nước là 7,15%. Với
tổng số lao động thất nghiệp là 614,7 ngàn người, bình quân hàng năm 1996 -
11
1999 số lao động thất nghiệp nói chung tăng thêm 16% so với mức tăng tuyệt
đối là 73.625 người.
Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động không có trình độ chuyên môn
nhiều chính sách nảy sinh, lực lượng sản xuất hàng hoá tập trung trên một quy
mô mới cao hơn, chất lượng của nguồn lực lao động nông thôn còn thấp so với
nhu cầu thực tiễn.
Nước ta hiện có 37,407 triệu người từ đủ 15 tuổi trở lên tham gia HĐKT
thường xuyên, trong đó lao động nông thôn (LĐNT) là 29,758 triệu người
(chiếm 79,55%), tuy vậy chất lượng lao động nông thôn lại là chính sách cần
phải tìm giải pháp giải quyết.
Về trình độ học vấn : Lao động trong nông nghiệp nông thôn mới có
10,98% tốt nghiệp cấp III; 33,26% tốt nghiệp cấp II; 30,96% tốt nghiệp cấp I;
20,32% chưa tốt nghiệp cấp I, trong khi đó còn 4,48% chưa biết chữ (bảng 1)
Bảng 1: Số người từ đủ 15 tuổi trở lên HĐKT thường xuyên chia theo
trình độ học vấn ở khu vực nông thôn.
Đơn vị: ngàn người.
Chưa
biết chữ
Chưa TN
cấp I
Đã TN
cấp
Đã TN
cấp II
Đã TN
cấp III
Tổng số 29757 1333 6046 9213 9899 3267
Tỷ lệ 100% 4,48% 20,32% 30,96% 33,26% 10,98%
Nữ 14988 834 3404 4594 4796 1361
Tỷ lệ 100% 5,56% 22,71% 30,65% 32,00% 9,08%
Về trình độ chuyên môn kỹ thuật (CMKT): có tới 91,94% lao động nông
thôn không có trình độ chuyên môn kỹ thuật; tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chỉ
chiếm 8,06%. Tổng số lao động nông thôn (xem bảng 2).
15.24 25.34 35.44 45.54 55.59
≥60
Tổng
số
8.219 2.519 2.440 1953 905 222 180
Tỷ lệ 100% 30,65% 29,68% 23,76% 11,01% 2,70% 2,19%
Nữ 3.826 1.209 1114 914 422 99 68
Tỷ lệ 100% 31,60% 29,11% 23,89% 11,02% 2,60% 1,78%
e. Tình hình lao động nữ:
Chúng ta đều biết, phụ nữ luôn giữ một vai trò và địa vị quan trọng trong
sự nghiệp phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc và của toàn nhân loại. Cùng
với sự phát triển của đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, vai trò và địa vị
người phụ nữ càng được nâng cao. Sự nâng cao vai trò và địa vị của phụ nữ
được thể hiện thông qua việc phụ nữ tham gia quản lý các nguồn lực, tham gia
vào các hoạt động kinh tế xã hội ngoài phạm vi gia đình. Một trong những chỉ
tiêu thể hiện vai trò và địa vị của phụ nữ là tỷ lệ tham gia vào lực lượng lao
động. ở Việt Nam tỷ lệ này là 73%, một tỷ lệ khá cao ở Châu á.
Trong tổng số dân Việt Nam, phụ nữ chiếm 51% trong lực lượng lao động
cũng vậy. Khoảng 27% hộ gia đìh do phụ nữ làm chủ hộ. Phụ nữ có mặt trong
hầu hết các ngành kinh tế của đất nước từ công nghiệp, nông nghiệp đến dịch
14
vụ. Từ đó các hoạt động mang tính sản xuất, kinh doanh đến các hoạt động quản
lý nhà nước, quản lý xã hội có rất nhiều khu vực mà phụ nữ chiếm đa số. Phụ nữ
chiếm 2/3 lực lượng lao động xã hội trong khu vực nông - lâm nghiệp, công
nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp, nội thương, giáo dục và y tế: chiếm khoảng
1/3 trong các ngành xây dựng, công nghiệp nặng, giao thông vận tải, bưu chính
viễn thông, người ta ước lượng rằng phụ nữ đảm đương 2/3 các công việc nặng
nhọc trong nông nghiệp. Từ khi chuyển sang kinh tế thị trường và khuyến khích
sự phát triển các thành phần kinh tế, phụ nữ đã tham gia rất nhiều vào khu vực
phi kết cấu; 2/3 số người hoạt động trong lĩnh vực này là phụ nữ.