QUẢN LÝ, SỬ DỤNG LAO ĐỘNG - Pdf 20

LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển cùng với quá trình hội nhập
mở cửa cùng với thế giới tạo ra sự cạnh tranh về mọi mặt ngày càng gay gắt và
quyết liệt, nên hiệu quả sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp đòi hỏi phải
cao để có thể tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh khốc liệt hiện
nay. Đứng trước những thử thách trên các doanh nghiệp phải tự tìm cho mình
một hướng đi phù hợp với các quy luật của nền kinh tế, phù hợp với điều kiện
hoạt động của mỗi doanh nghiệp. Từ đó, vạch ra cho mình một chiến lược kinh
doanh phù hợp và hiệu quả nhất để áp dụng cho doanh nghiệp mình, trong đó
chính sách quản trị nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định cho sự thành công
và phát triển của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp phải quản trị nguồn nhân lực
và sử dụng nguồn lao động của mình sao cho có hiệu quả là một vấn đề khó
khăn và thử thách lớn đối với các doanh nhiệp hiện nay.
Như ta biết con người không chỉ là trung tâm trong lĩnh vực xã hội mà
ngay cả trong lĩnh vực kinh tế con người vẫn là trung tâm: Con người đã tạo
nên nền kinh tế và nền kinh tế hoạt động để phục vụ con người. Cùng với thời
gian, ngày càng quan tâm đến vấn đề con người trong doanh nghiệp, làm sao sử
dụng hiệu quả nguồn lao động này và đồng thời duy trì và phát triển nguồn lao
động này. Từ đó, người ta xem người lao động như một tài sản vô cùng quý giá
của doanh nghiệp.
Công ty giấy Hoàng Văn Thụ là một doanh nghiệp chuyên sản xuất giấy
xi măng và các loại giấy bao bì. Thời gian qua, tình hình kinh doanh của Công
ty đã đạt được những thành công như: Lợi nhuận năm sau cao hơn năm trước,
quy mô sản xuất mở rộng.
Nội dung của đề tài được thể hiện qua 3 phần:
Phần I: Cơ sở lý thuyết về quản lý và sử dụng lao động.
Phần II: Phân tích tình hình lao động tại Công ty giấy Hoàng Văn Thụ
Phần III. Một số biện pháp nhằm hoàn thiện quản lý và sử dụng lao động
tại Công ty giấy Hoàng Văn Thụ
Mặc dù dã cố gắng hết sức trong quá trình nghiên cứu và trình bày, song
thiếu sót là không thể tránh khỏi. Rất mong nhận được những ý kiến bổ xung,

người lao động trong các tổ chức”.
- Nhưng hiện nay, ở các nước phát triển người ta đưa ra định nghĩa hiện
đại sau: “ quản lý nguồn nhân lực là những hoạt động nhằm tăng cường những
đóng góp có hiệu quả của cá nhân vào mục tiêu chung của tổ chức trong khi
đồng thời cố gắng đạt được các mục tiêu xã hội và mục tiêu cá nhân”. Như vậy
quản lý nguồn nhân lực được xem là một nghệ thuật, là một tập hợp các hoạt
động có ý thức nhằm nâng cao hiệu suất của một tổ chức, bằng cách nâng cao
hiệu quả lao động của mỗi thành viên của tổ chức đó.
- Quản trị lao động là một khoa học nghiên cứu phương pháp tuyển chọn,
sử dụng, đào tạo và bồi dưỡng nguồn lao động trong quá trình hoạt động lao
động (Lao động trí óc và lao động chân tay) của con người. Nội dung cụ thể của
nó bao gồm từ việc tuyển chọn đội ngũ lao động, tổ chức phân tích công việc,
xây dựng định mức lao động cho đến công tác bảo hộ, đào tạo, nâng cao năng
lực lao động và cuối cùng là tổ chức thù lao, tính toán hiệu quả sử dụng lao động
của người công nhân.
- Khi nhận định về nguồn nhân lực, các nhà khinh tế và giáo sư đã phát
biểu như sau:
- Giáo sư tiến sĩ Letter C.Thurow – nhà kinh tế và quản trị học thuộc viện
công nghệ kỹ thuật Matsachuset ( MIT ) cho rằng. “Điều quyết định cho sự tồn
tại và phát triển của công ty là những con người mà công ty đang có. Đó phải là
những con người có học vấn cao, được đào tạo tốt, có đạo đức, có văn hoá và
biết cách làm việc có hiệu quả”.
- Giáo sư tiến sĩ Gary Backer đã viết “ Các công ty nên tính toán, phân
chia hợp lý cho việc chăm lo sức khoẻ, huấn luyện, nâng cao trình độ ngườilao
động để đạt năng suất cao nhất. Chi phí cho giáo dục, đào tạo, chăm lo sức khoẻ
của nhân viên phải được xem là hình thức đầu tư …”.
- Giáo sư tiến sĩ Robert Reich cho rằng: “ Trong tương lai gần đây các
công ty sẽ không còn quốc tịch mà chỉ còn tên riêng cuả công ty, bởi vì các công
ty đã trở thành mạng lưới bao phủ toàn cầu. Tài nguyên duy nhất của công ty
thật sự còn có tính cách quốc gia là nhân công, năng lực và óc sáng tạo của họ. Đó

nhiệm cụ thể của công việc.
Khi nghiên cứu và phân tích công việc, người nhân viên nhân lực cần phải
thu thập tất cả các loại thông tin sau:
Thứ tự Loại thông tin
1 Thông tin về công việc cụ thể: sản phẩm, chi tiết, độ phức tạp công
việc, các yêu cầu kỹ thuật
2 Thông tin về quy trình công nghệ để thực hiện công việc: vật tư, máy
móc, trang bị công nghệ, dụng cụ khác
3 Thông tin về các tiêu chuẩn, mẫu đánh giá, mức thời gian, mức sản
lượng,…
4 Thông tin về các điều kiện lao động: độc hại sản xuất, bảo hộ lao
động, tiền lương, chế độ làm việc và nghỉ ngơi,…
5 Thông tin về người lao động thực hiện công việc: trình độ tay nghề,
học vấn, ngoại ngữ, tiền lương
Trong các tổ chức việc thu thập các thông tin này thường được tiến hành
với các phương pháp như: quan sát, phỏng vấn, phiếu câu hỏi điều tra và sự mô
tả .
Thiết kế công việc là xác định một cách hợp lý các nhiệm vụ, trách nhiệm
cụ thể của mỗi cá nhân trong một điều kiện lao động khoa học nhất cho phép, để
từ đó đề ra được những tiêu chuẩn về hiểu biết, kỹ năng,, năng lực và các yếu tố
khác cần thiết đối với người thực hiện công việc đó.
- Lập kế hoạch nhân lực:
Lập kế hoạch nhân lực là một quá trình triển khai và thực hiện kế hoạch
về nhân lực nhằm đảm bảo rằng doanh nghiệp có đúng số lượng, đúng chất
lượng lao động, được bố trí đúng lúc và đúng chỗ.
- Tuyển dụng nhân viên:
Đó là một quá trình thu hút, nghiên cứu, lựa chọn và quết định tiếp nhận
một cá nhân vào một vị trí của tổ chức.
2.2. Nội dung tổ chức và sử dụng có hiệu quả nhân lực
- Phân công và hợp tác lao động:

của từng cá nhân sau quá trình lao động.
2.3.Nội dung phát triển nhân lực
- Đào tạo và đào tạo lại:
- Đào tạo là tổng hợp những hoạt động nhằm nâng cao trình dộ học vấn,
trình độ làm việc và chuyên môn cho người lao động.
- Đào tạo lại quá trình cho những người có trình độ học vấn rồi đi học
thêm nhằm nâng cao trình độ của họ hơn nữa.
- Đề bạt và thăng tiến:
- Thay đổi, thuyên chuyền, cho thôi việc và xa thải:
- Ngoài ra, quản lý nguồn nhân lực còn giải quyết một số nội dung quan
trọng như:
- Bảo đảm thông tin cho người lao động.
- Đẩy mạnh các hoạt động công đoàn.
- Thực hiện tốt các quan hệ nhân sự trong xã hội và lao động.
- Phúc lợi và chia lợi nhuận.
Các nội dung trên đều có quan hệ và tác động qua lại mật thiết, chặt chẽ
với nhau. Với một nội dung đòi hỏi có những hình thức và phương pháp tiếp cận
khoa học linh hoạt. Tổng thể nội dung đó tạo thành một hệ thống, cơ chế thích
hợp nhất nhằm kích thích và động viên mọi người lao dộng doanh nghiệp tích
cực hoàn thành mục tiêu chung cũng như thực hiện được các mục tiêu bộ phận
và mỗi cá nhân.
3. Các quy định về sử dụng lao động
3.1. Quy định của nhà nước
a. Thời giờ làm việc:
Điều 68:
1. Thời giờ làm viêc không quá 8 giờ trong một ngày hoặc 48 giờ trong
một tuần. Người sử dụng lao động có quyết định thời làm việc theo ngày hoặc
tuần, nhưng phải thông báo trước cho người lao động biết.
2. Thời giờ làm việc hàng ngày được rút ngắn từ một đến hai giờ đối với
những người làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục

lao động được nghỉ bù vào ngày tiếp theo.
Điều 74:
1. Người lao động có 12 tháng làm việc tại một doanh nghiệp hoặc với
một ngừơi sử dụng lao động thì được nghỉ hàng năm, hưởng nguyên lương theo
quy định sau đây:
- 12 ngày làm việc, đối với người làm công việc trong điều kiện bình
thường.
- 14 ngày làm việc đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy
hiểm hoặc làm việc ở những nơi có điều kiên sinh sống khắc nghiệt và đối với
người dưới 18 tuổi .
- 16 ngày làm việc, đối với người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc
hại, nguy hiểm; người làm công việc nặng nhọc, độc hại nguy hiểm ở những nơi
có điều kiện sinh sống khắc nghiệt.
2. Thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hàng năm do chính phủ quy định .
Điều 78:
Người lao động được nghỉ về việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương
trong những trường hợp sau
1. Kết hôn, nghỉ ba ngày.
2. Con kết hôn nghỉ một ngày
3. Bố mẹ (cả bên chồng và bên vợ) chết, vợ hoặc chồng chết, con chết nghỉ
ba ngày .
4. Xác định nhu cầu lao động trong doanh nghiệp :
Việc xác định nhu cầu về lao động trong doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho
doanh nghiệp có được đúng người, đúng việc, vào đúng thời điểm cần thiết và
đối phó linh hoạt với sự thay đổi của thị trường.
4.1. Các căn cứ xác định nhu cầu lao động
Dựa vào các yếu tố chủ yếu sau:
- Khối lượng công việc hay khối lượng sản phẩm cần hoàn thành trong
kỳ.
- Phân tích công việc làm cơ sở để xác định lượng lao động hao phí cần

- CN : Số lượng công nhân cần có trong năm .
- Q
i
: Số lượng sản phẩm i ( khối lượng công việc i ) trong năm.
- Đti : Định mức thời gian lao động hao phí để sản xuất một đơn vi sản
phẩm hay hoàn thành khối lượng công việc i trong năm (giờ ).
- Tbq : Thời gian làm việc thực tế bình quân một công nhân sản xuất
trong năm ( giờ / người / năm ).
* Căn cứ vào định mức sản lượng trên đơn vị thời gian, số lượng công
nhân xác định theo công thức:

=
bqsi
i
xTD
Q
CN
Trong đó :
- Dsi : định mức sản lượng sản phẩm i trên một đơn vị thời gian.
b. Theo định mức đứng máy :
Những căn cứ xác định công nhân theo phương pháp này là : số máy
(hoặc số nơi làm việc ), định mức số công nhân dành cho mỗi máy ( mỗi nơi làm
việc ) số ca làm việc một ngày đêm và hệ số sử dụng thời gian làm việc theo chế
độ của công nhân trong năm.
Số công nhân được xác định theo công thức sau:

=
=
n
1i

số lượng lao động của Công ty, tình hình bố trí lao động, từ đó có biện pháp sử
dụng hợp lý, tiết kiệm sức lao động .
- Đánh giá tình hình quảnlý sử dụng thời gian lao động, trình độ thành
thạo của lao động, tình hình năng suất lao động, thấy rõ khả năng tiềm tàng về
lao động, trên cơ sở đó khai thác có hiệu quả.
- Qua phân tích mới có biện pháp quản lý, sử dụng hợp lý sức lao động và
tăng năng suất lao động.
* Nhiệm vụ của phân tích là:
- Phân tích tình hình tăng giảm số lượng lao động, tình hình bố trí lao
động .
- Phân tích tình hình năng suất lao động, điều này cho ta đánh giá tình
hình sử dụng thời gian lao động, tình hình cải tiến kỹ thuật, tổ chức lao động.
5.2. Nội dung phân tích
5.2.1. Phân tích tình hình sử dụng số lượng lao động:
5.2.1.1. Phân tích tình hình tăng (giảm) số công nhân sản xuất:
Tổng số lao động của Công ty thường được phân thành các loại, có thể
khái quát theo sơ đồ sau:
Tổng số lao động của doanh nghiệp thường được chia thành hai loại:công
nhân viên sản xuất và nhân viên ngoài sản xuất.
Công nhân sản xuất là người trực tiếp làm ra sản phẩm, trực tiếp phục vụ
sản xuất, sự biến động của lực lượng lao động này ảnh hưởng rất lớn đến kết quả
sản xuất của Công ty.
Số lượng và chất lương lao động là một trong những yếu tố cơ bản quyết
định quy mô kết quả sản xuất, kinh doanh. Do vậy, việc phân tích tình hình sử
dụng số lượng lao động cần xác định mức tiết kiệm hay lãng phí lao động.
a. Nội dung trình tự phân tích:
- So sánh số lượng công nhân giữa thực tế và kế hoạch.
- Xác định mức biến động tuỵet đối và mức biến động tương đối mức
hoàn thành kế hoạch sử dụng số lượng lao động, theo trình tự sau:
+Mức biến động tuyệt đối :

x100%
Q
Q
.T
T
k
1
k
1
Sử dụng số lượng lao động
Trong đó:
k1
Q,Q
: Sản lượng sản phẩm kỳ thực tế và kỳ kế hoạch.
+ Mức chênh lệch tuyệt đối:
∆T=
k
1
k1
Q
Q
xTT

* Ý nghĩa : cách phân tích này là: cho ta biết được khi số lao động trong
doanh nghiệp tăng (giảm) bao nhiêu người thì số lượng sản phẩm do họ làm ra
sẽ tăng (giảm ) bao nhiêu.
b. Phương pháp phân tích:
Vận dụng phương pháp so sánh có liên hệ đến tình hình hoàn thành kế
hoạch sản lượng sản phẩm và số lượng lao động
Bảng I. 1: Bảng phân tích biến động số lượng lao động.

Số nhân viên quản lý kinh tế
x 100%
tế so với công nhân sản xuất số công nhân sản xuất
3. Tỷ lệ nhân viên quản lý hành
=
Số nhân viên quản lý hành chính
x 100%
chính so với công nhân sản xuất số công nhân sản xuất
Hai chỉ tiêu này cho thấy hiệu suất công tác của bộ phận quản lý Công ty.
Chỉ tiêu này giảm thì đánh giá tích cực bởi Công ty tiết kiệm chi phí quản lý.
4. Tỷ lệ tổng số nhân viên
=
Tổng số nhân viên
x 100%
so với công nhân sản xuất số công nhân sản xuất
5.2.2.Phân tích tình hình sử dụng thời gian lao động
Sử dụng tốt ngày công lao động là biện pháp quan trọng để tăng năng suất
lao động, tăng sản lượng, hạ giá thành. Vì thế cần thiết phải phân tích tình hình
sử dụng ngày công để thấy rõ tình hình này.
Ngày công trong Công ty được chia ra lám các loại sau:
- Số ngày công theo lịch: là số ngày tính theo dương lịch (365 ngày ).
- Số ngày nghỉ theo chế độ: là số ngày công nghỉ vào ngày lễ và ngày
ngày chủ nhật.
- Số ngày công theo chế độ: là số ngày công theo lịch trừ số ngày công
nghỉ theo chế độ.
- Số ngày công thiệt hại bao gồm số ngày công ngừng việc và vắng mặt.
Trong đó:
- Số ngày công vắng mặt: bao gồm số ngày công nghỉ phép định kì, ốm
đau, thai sản hội họp, tai nạn lao động và nghỉ vì lí do khác
- Số ngày công ngừng việc bao gồm: số ngày công nghỉ vì lý do máy móc

Năm thực
hiện
Năm thực
hiện
So sánh
1. Tổng số ngày theo dương lịch
2. Số ngày nghỉ lễ tết
3. Số ngày nghỉ chủ nhật
4. Tổng số ngày nghỉ theo chế độ
5. Tổng số ngày vắng mặt với lý do:
- Phép năm
- Nghỉ ốm
- Thai sản
- Họp công tác
- Thiếu hàng sửa chữa lớn.
-Vắng mặt không có lý do
6. Số ngày công làm thêm
7. Tổng số ngày có mặt làm việc
5.2.3. Phân tích tình hình phân công lao động sản xuất
Phân công lao động sản xuất là sự phân chia trong doanh nghiệp thành
những phần việc khác nhau theo số lượng và tỷ lệ nhất định, phù hợp với đặc
điểm kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó bố trí công nhân cho từng
công việc phù hợp với khả năng và sở trường của họ.
5.2.3.1. Các hình thức phân công lao động
a, Phân công lao động theo công nghệ: là sự phân công dựa vào nội dung
công nghệ của công việc và nội dung nghề nghiệp của công nhân.
Ví dụ: ngành dệt công việc dệt được giao cho công nhân dệt thực hiện.
b) Phân công lao động theo trình độ:
Là phân công lao động theo mức độ phức tạp của công việc và trình độ
lành nghề của công nhân .

i
T
: Số lượng đông bậc thợ loại i ( i=1,n)
i
H
: Bậc thợ loại i (i =1,n)
n : Các loại bậc thợ.
- Hệ số sử dụng
lao động có mặt
=
Số lao động đã phân công làm việc
Số lao động có mặt trong ca làm việc
- Hệ số giao
nhiêm vụ
=
Số lao động đã phân công đúng nhiệm vụ
Số lao động đã phân công làm việc
Các chỉ tiêu trên phản ánh tình hình tổ chức lao động sản xuất, là những
tài liệu đánh giá tình hình sử dụng lao động sản xuất trong kỳ phân tích của
doanh nghiệp.
5.2.4. Phân tích năng suất lao động
5.2.4.1. Khái niệm và cách tính toán năng suất lao động
Khái niệm:
Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động có thể sáng
tạo ra một số sản phẩm vật chất có ích trong một thời gian nhất định, hoặc là
thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một sản phẩm. Năng suất lao động là
chỉ tiêu chất lượng tổng hợp, biểu hiện kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh,
không ngừng nâng cao năng suất lao động là biện pháp chủ yếu để tăng sản
lượng, hạ giá thành sản phẩm.
Năng suất lao động được tính toán như sau:

Năng xuất
lao động lao động giờ
Như vậy năng suất lao động ngày chịu ảnh hưởng bởi năng suất lao động
giờ và độ dài ngày lao động. Nếu tốc độ tăng năng suất lao động ngày lớn hơn
năng suất lao động giờ, chứng tỏ số giờ làm việc trong ngày tăng lên.
c,Năng xuất lao động năm
Năng xuất lao động năm =
Giá trị sản xuất
Tổng số công nhân
(Hoặc) Năng xuất
lao động năm
=
Số ngày làm việc bình quân
x
Năng xuất
năm của công nhân lao động ngày
Như vậy năng suất lao động năm vừa chịu ảnh hưởng bởi năng suất lao
động ngày và số ngày làm việc bình quân của một công nhân trong năm. Nếu
tốc độ tăng năng suất lao động năm lớn hơn năng suất lao động ngày, chứng tỏ
số ngày làm việc bình quân của một công nhân tăng lên.
5.2.4.2. Nội dung phương pháp phân tích
Bước 1: Phân tích chung tình hình năng suất lao động:
Phân tích chung tình hình đồng thời tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng
đến sự biến động đó nhằm năng suất lao động là xem xét đánh giá tình hình
biến động năng suất lao động giờ, ngày, năm xác định trọng tâm phân tích, đề ra
biện pháp nhằm không ngừng nâng cao năng suất lao động.
Phương pháp phân tích:
- Phương pháp so sánh: so sánh năng suất lao động các loại giữa thực tế
và kế hoạch, giữa năm này với năm trước.
So sánh tốc độ tăng (giảm) giữa các loại năng suất lao động.

Ta có công thức:
G
TSL
= S x N x g x W
g
Trong đó:
G
TSL
: Giá trị sản xuất.
S : Số công nhân.
N : Số ngày làm việc bình quân của một công nhân.
g : Số giờ làm việc bình quân trong ngày cho một người công nhân.
W
g
: Năng suất lao động giờ.
Phương pháp phân tích : áp dụng phương pháp số chênh lệch hoặc
phương pháp thay thế liên hoàn. Cụ thể:
* G
TSL
= G
TSL 1
- G
TSL 0
Trong đó:
G
TSL
: số sai lệch.
G
TSL1
: số thực tế.

(g)
= S
1
x N
1
x g
1
x (W
g1
- W
g0
).
Kết luận: qua phân tích ta thấy trong kỳ tới muốn tăng giá trị sản xuất thì
theo biện pháp nào.
5.3. Một số phương pháp dùng để phân tích về lao động và quản lý sử
dụng lao động
* Phương pháp so sánh
Đối chiếu giữa số thực tế với số kế hoạch hoặc số định mức, số dự toán, số gốc.
- So sánh tuyệt đối.
- So sánh tương đối.
*Mục đích: dùng để xác định xu hướng, mức biến động của chỉ tiêu phân
tích.
*Ứng dụng: đánh giá mức biến động so với các mục tiêu đã dự kiến.
Dùng để so sánh khả năng đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp so với thực
tế trên thị trường.
* Phương pháp thay thế liên hoàn:
Là thay thế dần các số gốc, kế hoạch, định mức, dự toán bằng số thực tế
của một nhân tố nào đó. Nhân tố được thay thế sẽ phản ánh mức độ ảnh hưởng
của nó đến chỉ tiêu. Còn nhân tố khác tạm thời coi như không đổi.
* Phương pháp đồ thị:

Những phương hướng cải tiến tổ chức lao động chủ yếu để lập kế hoạch
tăng năng suất lao động:
- Một là: cải tiến các hình thức phân công và hiệp tác lao động bên trong
doanh nghiệp, giữa các phân xưởng, các bộ phận với nhau. Việc này sẽ liên
quan đến các vấn đề sắp xếp công việc hợp lý trong quá trình lao động, việc
phân công hợp lý và có hiệu quả nhất, có tính đến khả năng của mỗi người lao
động và các công việc giữa những người tham gia sản xuất. Việc phối hợp một
cách hợp nhất là giữa các ngành nghề, mục tiêu là làm sao phát huy cao nhất
khả năng sáng tạo của từng người lao động tham gia vào hoạt động sản xuất
kinh doạnh.
- Hai là: tổ chức một cách hợp lý việc phục vụ nơi làm việc. Mục đích của
phương pháp này là bảo đảm các điều kiện cho người lao động có thể hoàn
thành một cách bình thường chức năng của mình. Liên quan đến phương hướng
này là các vấn đề bảo đảm một cách kịp thời cho công nhân đủ nguyên vật liệu,
vật tư, công cụ. Thiết kế mặt bằng và chiếu sáng một cách hợp lý nơi làm việc.
- Ba là: nghiên cứu và phổ biến các biện pháp và phương pháp lao động
tiên tiến. Điều thực tế ta thường thấy các công nhân cùng làm một công việc
như nhau, nhưng họ lại tạo ra những khối lượng sản phẩm khác nhau. Nguyên
nhân của thực trạng này là sự chênh lệch về trình độ tay nghề. Trong trường
hợp này phải nhờ đến việc phổ biến những kinh nghiệm tiên tiến như là một
phương hướng quan trọng của việc hoàn thiện tổ chức lao động.
- Bốn là: tạo ra cho người lao động những điều kiện thuận lợi nhất để lao
động và nghỉ ngơi. Điều này liên quan đến các vấn đề cải tiến những điều kiện
vệ sinh lao động nơi làm việc, việc giảm tiếng ồn trong sản xuất xuống mức
bình thường. Điều này chính bản thân nó thể hiện một ảnh hưởng lớn đến năng
suất lao động, đến tâm trạng của người lao động.
Ngoài bốn phương hướng đã xem xét trên, trong việc cải tiến tổ chức lao
động, một hướng nữa mà chúng ta cần phải quan tâm là định mức lao động.
8. Các chính sách liên quan đến phát triển nguồn nhân lực
8.1. Tuyển dụng nhân viên

thân họ.
PHẦN II
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LAO ĐỘNG CỦA CÔNG TY
A. GIỚI THIỆU ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CÔNG TY
1. Quá trình thành lập và phát triển của Công ty
- Công ty giấy Hoàng Văn Thụ là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc
Tổng công ty giấy Việt Nam, trong nghành giấy Công ty Giấy Hoàng Văn Thụ
là Công ty có lịch sử phát triển lâu đời nhất
Ngay từ những năm đầu của thập kỷ 20, tư bản Pháp với chính sách cai trị
thuộc địa đã cho xây dựng nhà máy giấy Đáp Cầu, đó là nhà máy giấy đầu tiên ở
Đông Dương. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, công nhân nhà máy đã tháo
dỡ máy móc vận chuyển hành nghìn tấn thiết bị lên chiến khu Việt Bắc. Nhà
máy được đặt tại Định Hoá- Thái Nguyên và được đổi tên thành nhà máy giấy
Hoàng Văn Thụ. Trong thời kỳ này, tuy sẵn tre, nứa nhưng còn các nguyên liệu
khác như phèn, xút...rất khó khăn nhưng nhà máy cũng đã được giao nhiệm vụ
sản xuất giấy in tiền cho nghành ngân hàng ( tiền tài chính ). Hoà bình lập lại
(1954) nhà máy được chuyển về phường Quán Triều Tp Thái Nguyên. Đây là
một phường nằm ở phía bắc, cach trung tâm thành phố 3km và là một địa điểm
thuận lợi cho việc sản xuất kinh doanh của nhà máy.
Phía đông bắc nằm kề bên bãi nguyên liệu của nhà máy là con sông cầu,
nguyên liệu như nứa, vầu, tre, gỗ...đóng thành bè ở vùng thượng nguồn xuôi về
cập bến nguyên liệu của nhà máy.
Phía tây nam của nhà máy là quốc lộ 3 và đường sắt Hà Nội – Quán
Triều – Núi Hồng.
Như vậy nhà máy có lợi thế về phương tiện vận chuyển nguyên liệu, nhiên liệu
và chuyên chở hàng hoá đi bán cho các bạn hàng trên cả 3 phương tiện: Đường
sắt, đường bộ, đường sông, từ đó góp phần giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm
tăng sự cạnh tranh trên thị trường.
Một ưu thế nữa là nhà máy nằm vùng nguyên liệu dồi dào với những cánh
rừng vầu, nứa bạt ngàn ở phía bắc. Đồng thời cũng nằm trên địa bàn với nhà

Trích đoạn Một số phương hướng phỏt trỉờn nguồn nhõn lực và hoàn thiện cụng tỏc sử dụng lao động So sỏnh hiệu quả nhận được khi thực hiờn giải phỏp: Bảng III.2 : So sỏnh hiệu quả khi thực hiờn giải phỏp thực hiện giải phỏp này thi Cụng ty cần phải làm:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status