CÁC PHƯƠNG PHÁP THĂM DÒ HÌNH THÁI
VÀ CHỨC NĂNG TUYẾN NỘI TIẾT
1. Các xét nghiệm thăm dò tuyến yên.
Trong các xét nghiệm dưới đây chủ yếu nói tới các hormon do tuyến yên tiết ra để
kích thích các tuyến ngoại vi:
1.1. Thăm dò chức năng:
+ Thăm dò chức năng tiết TSH của tuyến yên:
Test kích thích bằng TRH: tiêm tĩnh mạch 200g TRH sẽ làm tăng TSH (thyroid
stimulating hormon), nồng độ TSH sẽ đạt tối đa sau tiêm 30 phút và trở về bình
thường sau 2 giờ.
Bình thường, TSH = 0,10 - 5mIU/l. TSH tăng khi có u hoặc phì đại tuyến yên và
giảm khi có suy chức năng tuyến yên.
+ Thăm dò chức năng hormon tuyến thượng thận:
Bình thường, nồng độ ACTH thay đổi theo nhịp ngày đêm từ khoảng 35ng/l tiết
cao nhất vào buổi sáng (8h sáng), ban đêm tiết thấp nhất vào khoảng 2 - 3h.
Test kìm hãm tiết hormon tuyến thượng thận:
Test dexamethason: cho bệnh nhân uống 1mg dexamethason vào lúc 0h. 8h sáng
hôm sau định lượng ACTH và cortisol. Bình thường, ACTH và cortisol sẽ giảm vì
khi cho corticoid thì tuyến yên sẽ bị ức chế không tiết ACTH. Trong trường hợp u
hoặc phì đại tuyến yên thì ACTH và cortisol sẽ tăng cao.
+ Thăm dò chức năng tiết GH: (hormon phát triển hay STH).
Bình thường GH < 5ng/ml ở người lớn (lúc 8h sáng). GH tăng khi có u hoặc phì
đại tuyến yên; GH giảm khi có suy tuyến yên.
+ Thăm dò chức năng tiết prolactin:
Bình thường, prolactin tăng cao nhất vào ban đêm, trở lại bình thường vào 6 - 8h
sáng.
Nữ: 10 - 13mg/l.
Nam: 9 - 12mg/l.
Prolactin tăng khi có u hoặc phì đại tuyến yên và giảm khi có suy chức năng tuyến
yên.
4
(thyroxin) toàn phần 50 - 150nmol/l.
- FT
3
(T
3
tự do): 0,4ng/dl.
- FT
4
(T
4
tự do): 0,8 - 2,4ng/dl.
Tùy từng phòng xét nghiệm, các trị số có thể khác nhau: các xét nghiệm hormon
tuyến giáp tăng trong cường chức năng tuyến giáp và giảm trong suy chức năng
tuyến giáp.
+ Đo độ tập trung
131
I tại tuyến giáp: là một nghiệm pháp để thăm dò chức năng
tuyến giáp.
Đồ thị 1. Đồ thị tập trung
131
I ở bệnh nhân cường chức năng tuyến giáp .
. Dạng thứ 1: đồ thị lên nhanh trong những giờ đầu và vẫn giữ ở mức cao (thường
gặp ở những bệnh nhân mới bị bệnh), dự trữ kích tố còn nhiều.
. Dạng thứ 2: đồ thị lên cao trong những giờ đầu, sau đó giảm nhanh và tạo thành
góc thoát, dạng này thường gặp ở những bệnh nhân Basedow nặng, vai trò hormon
tuyến giáp đã cạn.
131
I vào tuyến nhiều, được sử dụng để tổng hợp kích tố ngay và
đưa nhanh vào máu.
- Trong suy giáp: đồ thị luôn ở mức thấp hơn bình thường.
Đồ thị 3. Đồ thị tập trung
131
I ở bệnh nhân suy chức năng tuyến giáp
+ Xạ hình tuyến giáp (ghi hình nhấp nháy).
Là phương pháp có giá trị trong chẩn đoán bệnh tuyến giáp. Ngay từ năm 1952,
H.Allen và W.Grodwin là những người đầu tiên dùng đồng vị phóng xạ để ghi
hình tuyến giáp. Nó không những chỉ là phương pháp chẩn đoán hình ảnh đơn
thuần về hình thái mà còn giúp ta hiểu được chức năng và một số biến đổi bệnh lý
khác.
Để ghi hình tuyến giáp, người ta dựa trên khả năng bắt iod với nồng độ cao và giữ
lâu dài trong tuyến nên có thể ghi được hình thể tuyến giáp khi đưa vào cơ thể một
lượng iod phóng xạ
131
ít hơn, hay gặp trong carcinoma.
Nhân “độc”: trên hình chỉ thấy một nhân với hoạt tính phóng xạ cao bất thường.
- Suy chức năng tuyến giáp: hoạt tính phóng xạ giảm rõ rệt hoặc tuyến giáp nhỏ. Hình 15. Tuyến giáp bình thường Hình 16. Tuyến giáp bình thường
ghi hình với Tc-99m ghi hình với
131
I
121
I
Hình 23. Tuyến giáp lạc chỗ (A: thẳng; B: nghiêng).
+ Nghiệm pháp Werner (nghiệm pháp ức chế).
Bình thường: tuyến giáp hoạt động dưới sự kích thích của TSH (hormon tuyến
yên). Khi nồng độ T
3
, T
4
của tuyến giáp giảm sẽ kích thích tuyến yên tăng tiết
TSH ngược lại
- Trong cường chức năng tuyến giáp: tổ chức tuyến giáp không chịu sự chi phối
bởi TSH của tuyến yên mà bởi một số globulin miễn dịch.
Khi cho bệnh nhân uống hormon giáp (T
3
) để nâng nồng độ trong máu vẫn không
làm giảm được hoạt động chức năng của tuyến giáp.
- Cách làm: đo độ tập trung
131
I trước khi uống T
3
thường là 8mg/24h.
Các xét nghiệm này tăng trong cường chức năng tủy thượng thận và giảm trong suy
chức năng tuyến thượng thận.
4. Các xét nghiệm thăm dò chức năng tuyến cận giáp.
- Định lượng Ca
++
huyết: bình thường canxi toàn phần 2,0-2,5 mmol/l và
Ca
++
ion: 1 - 1,3 mmol/l.
- Phospho: 1 - 1,9 mmol/l.
- Phosphataza kiềm tăng trong tình trạng hủy xương và tạo xương.
- Định lượng PTH (parathyroid hormon ) bằng miễn dịch phóng xạ: bình thường là
30 - 120 pg/ml; tăng trong cường tuyến cận giáp.
5. Các xét nghiệm thăm dò chức năng sinh dục.
+ Nam:
- 17 cetosteroid nước tiểu. Bình thường 12 - 18mg/24h.
- Chức năng ngoại tiết: số lượng, chất lượng của tinh dịch.
+ Nữ:
- Chụp X quang tử cung, vòi trứng.
- Định lượng androgen, progesterol.
6. Các xét nghiệm kháng thể.
- Định lượng kháng thể kháng tế bào bêta đảo Langerhans.
Đối với bệnh nhân đái tháo đường týp 1: nếu thấy kháng tế bào Langerhans có
thể nghĩ tới nguyên nhân tự miễn.
- Định lượng LATS (long acting thyroid stimulator): là một globulin. Hiện nay
người ta tìm thấy LATS có 2 chất đó là:
. TSI (thyroid stimulating immunoglobulin).
. TGI (thyroid growth immunoglobulin).
LATS tăng trong bệnh Basedow và giảm trong suy chức năng tuyến giáp.