Lời nói đầu
Với mục tiêu đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước hướng về
xuất khẩu, tận dụng mọi nguồn lực sẵn có đồng thời từng bước tham gia hội nhập
nền kinh tế khu vực, kinh tế thế giới thì việc tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có
trong nước để phát triển những mặt hàng xuất khẩu là vấn đề hết sức cần thiết
trong giai đoạn hiện nay.
Trong chiến lược hướng vào xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu ngành hàng, Đảng và
Nhà nước đã xác định mặt hàng thủ công mỹ nghệ là mặt hàng xuất khẩu chiến
lược, có khả năng tăng trưởng cao, nó không chỉ mang lại lợi ích thiết thực mà còn
có ý nghĩa chính trị xã hội rộng lớn. Với chính sách mở cửa nền kinh tế và tích cực
tham gia vào tiến trình khu vực hoấ, toàn cầu hoá đã mở ra nhiều cơ hội cho mặt
hàng thủ công mỹ nghệ. Trải qua những bước thăng trầm, hàng thủ công mỹ nghệ
của Việt Nam hiện đã có mặt trên 120 nước trên thế giới. Tuy nhiên hàng thủ công
mỹ nghệ Việt Nam đang gặp những khó khăn không nhỏ trong vấn đề sản xuất và
đẩy mạnh lượng hàng xuất khẩu và để tìm cho mình một thị trường tiêu thụ ổn định
thì hướng cần thiết nhất là khai thác để thâm nhập và mở rộng thị phần ở những thị
trường mới trong đó có Nhật Bản là một thị trường đầy tiềm năng và hứa hẹn
Quan hệ Việt Nam- Nhật Bản đã và đang diễn ra rất tốt đẹp do có nhứng nét văn
hoá truyền thống gần gũi, những mặt hàng xuất nhập khẩu của 2 nước đều có lợi
thế so sánh tương đương. Vì vậy việc xem xét khả năng thâm nhập và đẩy mạnh
xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản, một thị
trường có dung lượng lớn là có cơ sở và rất cần thiết. Tuy vậy, bên cạnh những
thuận lợi, thời cơ có được còn không ít những khó khăn thách thức, đòi hỏi không
chỉ nỗ lực rất lớn của các doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ Việt Nam mà cần có sự
hỗ trợ tích cực từ phía Nhà nước để có thể tiếp cận và đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ của Việt Nam vào thị trường Nhật Bản.
Công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ ARTEXPORT là doanh nghiệp Nhà
nước thành lập theo quyết định của Bộ Thương mại,chuyên sản xuất và thu mua
hàng thủ công mỹ nghệ để xuất khẩu ra thị trường thế giới. Trong bước chuyển
mình của toàn ngành thủ công mỹ nghệ, công ty cũng đang từng bước mở rộng thị
trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của mình sang thị trường Nhật Bản, trong
còn nhiều thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến để em có thể nhận thức một
cách hoàn thiện hơn. Qua đây em xin chân thành cảm ơn TS. Ngô Xuân Bình- thây
giáo trực tiếp hướng dẫn và thầy cô giáo trong Bộ môn Kinh tế thương mại, tập thể
phòng Xuất nhập khẩu tổng hợp 9,công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ
ARTEXPORT cung cấp tài liệu và dành thời gian cũng như ý kiến đóng góp để em
hoan thành luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn.
Chương I Một số vấn đề lý luận cơ bản về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ.
1 Sản phẩm thủ công mỹ nghệ và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ .
1.1 Một số khái niệm cơ bản.
Trong quá trình phát triển của lịch sử cũng như hiện nay đề cho thấy làng xã Việt
Nam có vị trí hết sức quan trọng trong sản xuất cũng như đời sống nhân dân ở nông
thôn. Qua thử thách của những biến động thăng trầm, những lệ làng phép nước và
phong tục tập quán ở nông thôn vẫn được duy trì đến ngày nay.
Làng xã Việt Nam phát triển từ rất lâu đời, nó thường gắn liền với nông nghiệp và
sản xuất nông thôn. Theo kết quả nghiên cứu sử học, làng xã Việt Nam xuất hiện từ
thời các vua Hùng dựng nước, những xóm làn định canh đã hình thành, dựa trên cơ
sở những công xã nông thôn. Mỗi công xã gốm một số gia đình sống quây quần
trong một khu vực địa giới nhất định. Đồng thời là nơi gắn bó các thành viên với
nhau bằng khế ước sinh hoạt cộng đồng, tâm thức tín ngưỡng,lễ hội, tập tục, luật lệ
riêng nhằm liên kết với nhau trong quá trình sản xuất và đời sống.
Từ buổi ban đầu, ngay trong một làng, phần lớn người dân đều làm nông nghiệp,
càng về sau có những bộ phận dân cư sống bằng nghề khác, họ liên kết chặt chẽ với
nhau, khiến cho nông thôn Việt Nam có thêm một số tổ chức theo nghề nghiệp, tạo
thành các phường hội: phường gốm, phường đúc đồng, phường dệt vải…từ đó, các
nghề được lan truyền và phát triển thành làng nghề. Bên cạnh những người chuyên
làm nghề thì đa phần vừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm nghề phụ. Nhưng do nhu
cầu trao đổi hàng hoá, các nghề mang tính chuyên môn sâu hơn và thường chỉ giới
hạn trong quy mô nhỏ dần dần tách khỏi nông nghiệp để chuyển hẳn sang nghề thủ
công. Những làng nghề phát triển mạnh, số hộ, số lao động làm nghề truyền thống
tâm sản xuất, có quy trình công nghệ nhất định và sống chủ yếu bằng nghề đó. Sản
phẩm làm ra có tính mỹ nghệ và đã trở thành hàng hoá trên thị trường.”
Ngành nghề truyền thống là những ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đã xuất hiện từ
lâu trong lịch sử phát triển kinh tế của nước ta còn tồn tại cho đến ngày nay, bao
gôm cả ngành nghề mà phương pháp sản xuất được cải tiến hoặc sử dụng những
máy móc hiện đại để hỗ trợ cho sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền
thống.
Như vậy từ các định nghĩa trên ta có thể hiểu cụ thể về hàng thủ công mỹ nghệ như
sau: sản phẩm thủ công mỹ nghệ là những sản phẩm mang tính truyền thống và độc
đáo của từng vùng, có giá trị chất lượng cao, vừa là hàng hoá, vừa là sản phẩm văn
hoá, nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí có thể trở thành di sản văn hoá của dân tộc,
mang bản sắc văn hoá của vùng lãnh thổ hay quốc gia sản xuất ra chúng.
Hàng thủ công mỹ nghệ bao gồm các nhóm hàng sau:
1. Nhóm sản phẩm từ gỗ( gỗ mỹ nghệ)
2. Nhóm hàng mây tre đan
3. Nhóm sản phẩm gốm sứ mỹ nghệ
4. Nhóm hàng thêu
1.2 Đặc điểm của hàng TCMN
1.2.1. Tính văn hoá
Khác với sản xuất công nghiệp, trong sản xuất tiểu thủ công , lao động chủ yếu dựa
vào đôi bàn tay khéo léo và đầu óc sáng tạo của người thợ, người nghệ nhân. Sản
phẩm làm ra bừa có giá trị sử dụng nhưng lại vừa mang dấu ấn bàn tay tài hoa của
người thợ và phong vị độc đáo của một miền quê nào đó.Cũng chính vì vậy mà
hàm lượng văn hoá ở các sản phẩm thủ công mỹ nghệ được đánh giá cao hơn nhiều
so với hang công nghiệp sản xuất hàng loạt. Ngay từ khi phát hiện ra các sản phẩm
trống đồng Đông Sơn, trống đồng Ngọc Lũ, thế giới đã biết đến một nền văn hoá
Việt Nam qua những sản phẩm phản ánh sinh động và sâu sắc nền văn hoá, tư
tưởng và xã hội thời đại Hùng Vương. Cho đến nay, những sản phẩm thủ công mỹ
nghệ mang đậm tính văn hoá như gốm Bát Tràng, hay bộ chén đĩa, tố sứ cao cấp có
hình hoa văn Châu á, mang đâm nét văn hoá Việt Nam như chim lạc, thần kim quy,
hồn của dân tộc Việt Nam , mang nét văn hoá và bản sắc của dân tộc Việt Nam ,
chính vì vậy hàng của Trung Quốc hay Nhật bản cho dù có phong phú hay đa dạng
đến đâu cũng không thể có được những nét đặc trưng đó,cho dù kiểu dáng có thể
giống nhưng không thể mang “hồn” của dân tộc Việt Nam . Cùng với đặc trưng về
văn hoá, tính riêng biệt đã mang lại ưu thế tuyệt đối cho hàng thủ công mỹ nghệ của
Việt Nam trong xuất khẩu . Đối với Việt Nam và cả khách hàng nước ngoài, nó
không những có giá trị sử dụng mà còn thúc đẩy quá trình giao lưu văn hoá giữa các
dân tộc.
1.2.4 Tính đa dạng
Tính đa dạng của sản phẩm thủ công mỹ nghệ thể hiện ở phương thức , nguyên liệu
làm nên sản phẩm đó và chính nét văn hoá trong sản phẩm. Nguyên liệu làm nên
sản phẩm có thể là gạch, đất, cói , dây chuối, xơ dừa…mỗi loại sẽ tạo nên một sản
phẩm thủ công mỹ nghệ với những sắc thái khác nhau, cho người sử dụng có những
cảm nhận khác nhau về sản phẩm. Là một đôi dép đi trong nhà, nhưng dép làm bằng
cói đã quá cũ đối với người tiêu dùng nên hiện nay, các nghệ nhân sử dụng chất liệu
dây chuối, tạo cảm giác rất mới lạ, vừa có màu vàng ngà của chuối vừa có mầu mốc
tự nhiên của thân chuối…Bên cạnh đó, tính đa dạng còn được thể hiện qua những
nét văn hoá trên sản phẩm thủ công mỹ nghệ bởi vì mỗi sản phẩm thủ công mỹ
nghệ đêù mang những nét văn hoá đặc trưng của từng vùng, từng thời đại sản xuất
ra chúng. Chính vì vậy trên thị trường có rất nhiều loại sản phẩm thủ công mỹ nghệ,
mỗi loại đều có sự khác biệt rõ rệt, không đồng nhất. Cũng là đồ gốm sứ nhưng
người ta vẫn có thể thấy đâu là gốm Việt Nam , gốm Nhật Bản , gốm Trung quốc…
1.2.5 Tính thủ công
Có thể cảm nhận ngay tính thủ công qua tên gọi của sản phẩm thủ công mỹ nghệ.
Tính chất thủ công thể hiện ở công nghệ sản xuất, các sản phẩm đều là sự kết giao
giữa phương pháp thủ công tinh xảo và sáng tạo nghệ thuật. Chính đặc tính này tạo
nên sự khác biệt giữa sản phẩm thủ công mỹ nghệ và những sản phẩm công nghiệp
hiện đại được sản xuất hàng loạt và ngày nay,cho dù không sánh kịp tính ích dụng
của các sản phẩm này nhưng sản phẩm thủ công mỹ nghệ luôn gây được sự yêu
thích của người tiêu dùng.
về chất, làm thay đổi cơ cấu sản xuất , cơ cấu lao động, cơ cấu việc làm , cơ cấu giá
trị sản lượng và cơ cấu thu nhập cua ra dân cư nông thôn bằng các nguồn lợi thu
được từ các lĩnh vực trong nông nghiệp và phi nông nghiệp. Với mục tiêu như vậy,
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ngày càng được thúc đẩy, nó diễn
ra ngay trong nội bộ ngành công nghiệp và cả các bộ phận hợp thành khác của cơ
cấu kinh tế nông thôn. Việc phát triển các làng nghề truyền thống dẫ có vai trò tích
cực trong việc góp phần tăng tỉ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ,
thu hẹp tỷ trọng của nông nghiệp, chuyển từ lao động sản xuất nông nghiệp thu
nhập thấp sang ngành nghề nông nghiệp có thu nhập cao hơn. Ngay từ đầu khi
nghề thủ công xuất hiện thì kinh tế nông thôn không chỉ có ngành nông nghiệp
thuần nhất mà bên cạnh còn có các ngành thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ
cùng tồn tại phát triển.
Mặt khác có thể thấy kết quả sản xuất ở các làng nghề cho thu nhập va giá trị sản
lượng cao hơn hẳn so với sản xuất nông nghiệp. Do từng bước tiếp cận với nền
kinh tế thị trường, năng lực thị trường được nâng lên người lao động nhanh chóng
chuyển sang đầu tư cho các ngành nghề phi nông nghiệp, dặc biệt là những sản
phẩm có khả năng tiêu thụ mạnh ở thị trường trong nước và ngoài nước. Khi đó
khu vực sản xuất nông nghiệp sẽ bị thu hẹp , khu vực sản xuất công nghiệp và tiểu
thủ công nghiệp được tăng lên.
Làng nghề truyền thống phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ ở nông thôn
mở rộng địa bàn hoạt động thu hút nhiều lao động. Khác với sản xuất nông nghiệp,
sản xuất trong các làng nghề là một quá trình liên tục, đòi hỏi sự cung cấp thường
xuyên trong việc cung ứng vật liệu và tiêu thụ sản phẩm . Do đó dịch vụ nông
thôn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức đa dạng và phong phú , đem lại thu
nhập cao cho người lao động.
Như vậy, sự phát triển của làng nghề truyền thống có tác dụng rõ rệt với quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá-
hiện đại hoá. Sự phát triển lan toả của làng nghề truyền thống đã mở rộng quy mô
và địa bàn sản xúât, thu hút rất nhiều lao động. Cho đếnnay cơ cấu kinh tế ở nhiều
làng nghề đạt 60-80% cho công nghiệp và dịch vụ, 20-40% cho nông nghiệp.
xuất khẩu thủ công mỹ nghệ còn góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho
người lao động ở nông thôn. ở nơi nào có ngành nghề phát triển thì nơi đó thu nhập
cao và mức sống cao hơn các vùng thuần nông. Nếu so sánh với mức thu nhập lao
động nông nghiệp thì thu nhập của lao động ngành nghề cao hơn khoảng 2 đến 4
lần, đặc biệt là so với chi phí lao động và diện tích sử dụng đất thấp hơn nhiều so
với sản xuất nông nghiệp. Bình quân thu nhập của 1 lao động trong hộ chuyên
ngành nghề phi nông nghiệp là 430000- 450000 đồng / tháng, ở hộ kiêm nghề từ
190000- 240000 đồng/ tháng, trong khi đó ở hộ lao động thuần nông chỉ có khoảng
70000-100000 đồng/ người/ tháng. Có những làng nghề có thu nhập cao như làng
gốm Bát Tràng : Mức bình quân thu nhập của các hộ thấp cũng đạt từ 10-20
triệu/năm. Thu nhập từ nghề gốm sứ Bát Tràng chiếm tới 86% tổng thu nhập của
toàn xã. Vì vậy thu nhập của các làng nghề truyền thống đã tạo ra sự thay đổi khá
lớn trong cơ cấu thu nhập của hộ gia đình và của địa phương.
Sự phát triển ổn định của làng nghề tạo ra nguồn hàng ổn định đối với các doanh
nghiệp kinh doanh mặt hàng này . từ đó tạo ra sự thuận lợi trong kinh doanh, mang
lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp, đồng thời nâng cao thu nhập và mức sống cho
người lao động.
Ngoài ra việc khôi phục và sản xuất sản phẩm thủ công mỹ nghệ còn kéo theo
nhiều ngành khác phát triển nhất là ngành du lịch và các ngành dịch vụ có liên
quan. Sản xuất thủ công mỹ nghệ và du lịch là 2 nhân tố có tác động 2 chiều . Các
sản phẩm thủ công mỹ nghệ luôn là một nét hấp dẫn rất quan trọng và ấn tượng đối
với khách du lịch nhất khách du lịch văn hoá ,các sản phẩm càng đa dạng phong
phú càng có tác dụng thu hút mạnh mẽ du khach tới tham quan, qua đó các dịch vụ
về du lịch phát triển đồng thời hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam cũng được các
nước bạn biết đến nhiều hơn, đây chính là một biểu hiện của hình thức xuất khẩu tại
chỗ. Ngược lại, nếu du lịch phát triển, có nhiều khách du lịch đến tham quan tại các
làng nghề c sản phẩm thủ công mỹ nghệ sẽ được biết đến nhiều hơn, được quảng bá
nhiều hơn, đó cũng là một hình thức khuyêch trương giới thiệu sản phẩm của Việt
Nam ra nước ngoài, từ đó ta có thể mở rộng quan hệ kinh doanh và có thể tăng kim
ngạch xuất khẩu thủ công mỹ nghệ.
vẫn có ý nghĩa rất lớn với nhu cầu đời sống của con người. Những sản phẩm này là
sự kết tinh, sự bảo tồn các giá trị văn hoá lâu đời của dân tộc, là sự bảo lưu những
văn hoa nghệ thuật và kỹ thuật truyền từ đời này sang đời khác tạo nên những thế hệ
nghệ nhân tài ba với những sản phẩm độc đáo mang bản sắc riêng. Chính vì vậy
xuất khẩu thủ công mỹ nghệ không những góp phần bảo tồn và phát triển các giá trị
văn hoá của dân tộc Việt nam mà còn có nhằm quảng bá chúng trên khắp thế giới .
1.3.2.2 Đối với các doanh nghiệp .
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
do doanh nghiệp sản xuất ra. Nhờ có xuất khẩu mà tên tuổi của các doanh nghiệp
không chỉ được khách hàng trong nước biết đến mà còn có mặt ở thị trường nước
ngoài.
Xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ cho các doanh nghiệp , tăng dự trữ, qua đó nâng cao
khả năng nhập khẩu ,thay thế, bổ sung, nâng cấp máy móc, thiết bị phục vụ cho quá
trình phát triển.
Xuất khẩu phát huy cao tính năng động sáng tạo của các cán bộ xuất nhập khẩu
cũng như các đơn vị tham gia, tích cực tìm tòi và phát triển các mặt hàng trong khả
năng xuất khẩu vào các thị trường có khả năng thâm nhập.
Xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoàn thiện công tác
quản trị kinh doanh , đồng thời giúp các doanh nghiệp kéo dài tuổi thọ chu kỳ sống
của sản phẩm .
Xuất khẩu dẫn đến cạnh tranh, theo dõi lẫn nhau giữa các đơn vị tham gia xuất khẩu
trong và ngoài nước. Chính vì vậy, các doanh nghiệp buộc phải nâng cao chất lượng
hàng hoá, tìm mọi cách để nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, từ đó tiết
kiệm các yếu tố đầu vào hay tiết kiệm nguồn lực.
Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động và tăng
thêm thu nhập,ổn định đời sống cán bộ công nhân viên và tăng lợi nhuận cho doanh
nghiệp.
Doanh nghiệp tiến hành hoạt động xuất khẩu có cơ hội mở rộng quan hệ buôn bán
kinh doanh với nhiều đối tác nước ngoài trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.
1. 4 Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu TCMN
* Chính sách tỷ giá hối đoái
Trong thanh toán quốc tế, người ta thường sử dụng những đồng tiền của các nước
khác nhau, do vậy tỷ suất ngoại tệ so với đồng tiền trong nước có ảnh hưởng rất lớn
đến hoạt động xuất khẩu: nếu tỷ gia hôi đoái lớn hơn tỷ suất lợi nhuận thì hoạt đông
xuất khẩu có lãi, vì vậy thúc đẩy xuất khẩu và ngược lại. Chính vì thế mà tỷ giá hối
đoái trở thành một công cụ điều tiết của Nhà nước.
* Hệ thống ngân hàng tài chính.
Hoạt động xuất nhập khẩu liên quan chặt chẽ đến vấn đề thanh toán quốc tế, thông
qua hệ thống Ngân hàng Tài chính giữa các quốc gia. Nó tạo ra những điều kiện
thuận lợi cho việc thanh toán được thực hiện một cách đơn giản, nhanh chóng, chắc
chắn. Nhờ có hệ thống ngân hàng này dẽ đảm bảo rằng người bán sẽ thu được tiền
và người mua sẽ nhận được hàng , làm giảm bớt việc phài dành nhiều thời gian và
chi phí để các bên đối tác tìm hiểu nhau.
Nếu như một quốc gia có hệ thống tài chính phát triển, hiện đại thì đó cũng là một
điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước trong hoạt động xuất khẩu và
ngược lại.
*Khả năng sản xuất
Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ của Việt nam chịu sự tác động của nhiều nhân tố,
những nhân tố này có sự biên đổi trong từng thời kỳ và tác động theo chiều hơướng
khác nhau. Chúng có thể là những nhân tố thúc đẩy nhơng ngươợc lại cũng có thể
là những nhân tố kìm hãm sự phát triển của sản xuất. ở mỗi vùng, mỗi địa phơơng,
mỗi làng nghề do có những đặc đIểm khác nhau về các đIều kiện tự nhiên, kinh tế,
xã hội , văn hóa nên sự tác động của các nhân tố này là không giống nhau. Có thể
hiểu một cách kháI quát chúng bao gồm các nhân tố sau:
Thứ nhất, nguồn nhân lực: là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sản
xuất. tại các làng nghề, nguồn nhân lực chính là các nghệ nhân, những ngươời thợ
thủ công , và những chủ cơ sở sản xuất kinh doanh. Những nghệ nhân là người có
vai trò đặc biệt quan trọng trong việc truyền nghề, dạy nghề, đồng thời là những
ngươời sáng tạo ra những sản phẩm độc đáo mang đậm tính truyền thống. Có được
nguồn nhân lực có tay nghề và trình độ cao sẽ là một yếu tố thúc đẩy sản xuất và
Thứ năm, kết cấu hạ tầng : bao gồm hệ thống các đường giao thông, điện, cấp thoát
nước, bưu chính viễn thông. Thực tế cho thấy rõ, sản xuất thủ công mỹ nghệ chỉ có
thể phát triển mạnh ở những nơi có kết cấu hạ tầng đảm bảo và đồng bộ. Đây là yếu
tố có tác dụng tạo điều kiện tiền đề cho sự ra đời và phát triển của các cơ sở sản
xuất, tạo tiền đề khai thác và phtá huy tiềm năng sẵn có của các làng nghề. Sự phát
triển của yếu tố này sẽ đảm bảo vận chuyển và cung ứng nguyên vật liệu, tiêu thụ
sản phẩm, đưa nhanh tiến bộ khoa học và công nghệ mới vào sản xuất, đồng thời
làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Hệ thống thông tin liên lạc bưu chính viễn
thông giúp doanh nghiệp nắm bắt các thông tin thị trường để có những ứng xử kịp
thời.
1.4.3 Các nhân tố thuộc môi trường vi mô
* Tiềm lực tài chính
Là một yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua khối lượng
nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh, khả năng phân phối(
đầu tư) có hiệu quả nguồn vốn. Khả năng quản lý có hiệu quả các nguồn vốn trong
kinh doanh của doanh nghiệp thể hiện qua cá chỉ tiêu: vốn chủ sở hữu, vốn huy
động, tỷ lệ tái đầu tư về lợi nhuận, khả năng trả nợ ngắn hạn và dài hạn…
* Tiềm năng con người
Trong kinh doanh con người là yếu tố quan trọng hàng đầu để đảm bảo thành công.
Chính con người với năng lực của họ mới lựa chọn đúng cơ hội và sử dụng sức
mạnh khác mà họ đã có như vốn, tài sản, kỹ thuật công nghệ một cá
* Trình độ tổ chức quản lý.
Mối doanh nghiệp là mọt hệ thống với những liên kết chặt chẽ với nhau để hướng
tới mục tiêu. Một doanh nghiệp muốn hướng tới mục tiêu của mình thì đồng thời
phải đạt tới một trình độ tổ chức quản lý tương ứng.Khả năng tố chức quản lý
doanh nghiệp dựa trên quan điểm tổng hợp, bao quát , tập trung vào những mối liên
hệ tương tác của tất cả các bộ phận tạo nên sức mạnh thật sự của doanh nghiệp.
* Cơ sở vật chất kỹ thuật.
Cơ sở vật chất kỹ thuật phản ánh nguồn tài sản cố định doanh nghiệp có thể huy
động vào kinh doanh : thiết bị, nhà xưởng…Nếu doanh nghiệp có cơ sở vật chất
* Đặc điểm thị trường Nhật Bản.
Nhật Bản là một thị trường mở quy mô rộng lớn với dân số 127 triệu người có mức
sống khá cao( GDP theo đầu người năm 2001 là 32.585 USD) và GDP năm 2003 là
4,143 tỷ USD. Nhật Bản là một trong những nước có nền công nghiệp phát triển
mạnh và đứng hàng đầu thế giới. Nhưng do đặc điểm về địa lý, Nhật Bản là một
trong những nước rất hiếm về tài nguyên thiên nhiên, ngoại trừ nguồn hải sản, do đó
hầu hết các sản phẩm gia dụng,trang trí nội ngoại thất đặc biệt là các hàng thủ công
mỹ nghệ mà chủ yếu là nguyên liệu tự nhiên, đều phải nhập khẩu.
* Tập quán tiêu dùng
Việc nắm rừ đặc điểm tiờu dựng và tớnh cỏch kinh doanh của người Nhật sẽ giỳp
cỏc doanh nghiệp Việt Nam giao tiếp và kinh doanh thành cụng với họ.
Thị hiếu của người tiờu dựng Nhật Bản rất đa dạng nhưng cũng khỏ độc đỏo. Theo
Thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản, người tiờu dựng Nhật rất chỳ ý đến chất lượng
hàng hoỏ. Sống trong mụi trường cú thu nhập cao nờn người Nhật Bản thường đũi
hỏi rất khắt khe về chất lượng hàng húa bao gồm cả vấn đề vệ sinh, hỡnh thức và
dịch vụ hậu mói.
Cú những lỗi rất nhỏ, chẳng hạn như vết xước hàng húa trong quỏ trỡnh vận
chuyển, cũng cú thể gõy ảnh hưởng rất lớn đến quỏ trỡnh tiờu thụ cả lụ hàng và ảnh
hưởng đến uy tớn.
Người Nhật Bản cũng rất nhạy cảm với giỏ tiờu dựng hàng ngày. Sau cuộc khủng
hoảng kinh tế bong búng vào cuối những năm đầu của thập kỷ 90, người Nhật Bản
khụng chỉ quan tõm đến vấn đề chất lượng mà cũn rất chỳ ý đến sự thay đổi giỏ cả.
Đặc biệt, do người mua chủ yếu là do những phụ nữ nội trợ đi mua hàng ngày, cú
nhiều thời gian (tỡnh trạng sau khi lấy chồng sẽ bỏ việc làm tại cụng ty vẫn cũn phổ
biến) nờn họ rất quan tõm đến sự thay đổi về giỏ và về mẫu mó hàng húa. Tuy vậy,
tõm lý thớch dựng hàng xịn, hàng đồ hiệu cho dự với giỏ rất cao vẫn khụng thay đổi
nhiều so với trước đõy.