Công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc Long An trong giai đoạn hiện nay - Pdf 20

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU..........................................................................................................3
PHẦN NỘI DUNG.......................................................................................................6
Chương 1.......................................................................................................................6
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÔN GIÁO VÀ VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC
VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÔNG TÁC TÔN GIÁO........................................................6
1.1. Quan điểm của chủ nghóa Mác – Lênin và Đảng ta về tôn giáo....................6
1.1.1. Quan điểm của chủ nghóa Mác – Lênin về tôn giáo.............................6
1.1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng ta về tôn giáo và công tác tôn
giáo.................................................................................................................7
1.2. Đặc điểm, tình hình tôn giáo và tác động của các tôn giáo trong đời sống xã
hội ở nước ta........................................................................................................11
1.2.1. Vài nét chung về đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam................................11
1.2.2. Tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay............................................12
1.2.3.Tác động của các tôn giáo trong đời sống xã hội ở nước ta................16
Những tác động tích cực ..............................................................................16
1.3. Vai trò của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam đối với công tác tôn giáo trong giai
đoạn hiện nay.......................................................................................................21
Chương 2.....................................................................................................................24
CÔNG TÁC TÔN GIÁO CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TỈNH LONG
AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY .....................................................................24
2.1 Điều kiện tự nhiên – tình hình kinh tế xã hội và đặc điểm, tình hình tôn giáo
của tỉnh Long An..................................................................................................24
2.1.1. Điều kiện tự nhiên – tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Long An........24
* Tình hình kinh tế – xã hội tỉnh của Long An ...........................................25
2.1.2.Tình hình, đặc điểm tôn giáo của tỉnh Long An hiện nay .................27
Trang 1
2.2.1 Những kết quả đạt được trong công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc
tỉnh Long An trong giai đoạn hiện nay..........................................................32
2.2.2. Những hạn chế trong công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc tỉnh
Long An trong giai đoạn hiện nay.................................................................43

trình phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta. Hơn nữa, Việt Nam là một nước có
nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo và đang có xu hướng phát triển cho nên Nghò
quyết 24 về công tác tôn giáo của Bộ Chính trò 1990 đã khẳng đònh: “Tôn giáo là
vấn đề còn tồn tại lâu dài. Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân
dân. Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”.
Nhằm cụ thể hơn Nghò quyết 24, Bộ Chính trò đã họp và ra Chỉ thò 37CT/TW ngày
2/7/1998 về “Công tác tôn giáo trong tình hình mới” tạo thêm động lực cho công
tác tôn giáo trong giai đoạn hiện nay, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghóa
xã hội và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Trang 3
Trong mấy thập kỷ gần đây, vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo được nhiều người quan
tâm, theo dõi trên cả phương diện lý luận cũng như thực tiễn. Thực tiễn làm công
tác tôn giáo sẽ rất khó khăn và lúng túng nếu không có ánh sáng của lý luận soi
đường và lý luận về tôn giáo sẽ xơ cứng nếu không bắt rễ được vào thực tiễn công
tác tôn giáo.
Vấn đề đặt ra cần phải quan tâm, giải quyết vấn đề tôn giáo và công tác tôn
giáo như thế nào cho phù hợp với tình hình mới và ở từng đòa phương cụ thể. Làm
sao để công tác tôn giáo thực sự là động lực để phát huy sức mạnh của khối đại
đoàn kết toàn dân. Tất cả những vấn đề đó đòi hỏi cần phải nghiên cứu và tìm hiểu
một cách cụ thể ở từng đòa phương. Do đó, từ những lý luận chung và trên cơ sở
thực tiễn cụ thể ở tỉnh Long An, chúng ta tổng kết được những thành tựu và hạn
chế, từ đó đề ra những giải pháp cụ thể nhằm huy động toàn xã hội tham giai vào
công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Long An. Đây là một nhiệm
vụ quan trọng góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân nhằm thực hiện mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Từ những nhận thức trên, tác giả đã chọn vấn đề “Công tác tôn giáo của Mặt
trận Tổ quốc tỉnh Long An trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài tiểu luận cho mình.
II. Tổng quan nghiên cứu
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội, gắn liền với sự hình thành và phát triển của
nhân loại. Trước đây vấn đề công tác tôn giáo chưa được quan tâm và nghiên cứu

Phần mở đầu, phần nội dung và kết luận.
Trong phần nội dung gồm: 3 chương, 7 mục và 13 tiểu mục.
Trang 5
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÔN GIÁO VÀ VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ
QUỐC VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÔNG TÁC TÔN GIÁO
1.1.
1.1.
Quan điểm của chủ nghóa Mác – Lênin và Đảng ta về tôn giáo
Quan điểm của chủ nghóa Mác – Lênin và Đảng ta về tôn giáo
1.1.1. Quan điểm của chủ nghóa Mác – Lênin về tôn giáo
Tôn giáo theo học thuyết Mác là thuật ngữ có nhiều sự biến đổi, nó được sản
sinh trong quá trình phát triển của xã hội loài người. Mác xem xét vấn đề tôn giáo
như một hình thái ý thức xã hội, trên quan điểm lòch sử cụ thể và có liên hệ với
các giai đoạn phát triển của xã hội loài người. Các Mác không bao giờ coi tôn giáo
như một hiện tượng xã hội độc lập tách khỏi lòch sử loài người mà ngược lại, sự
hình thành, tồn tại và mất đi của tôn giáo đều bắt nguồn từ nguyên nhân trần thế.
Suy cho cùng, sự biến động của tôn giáo với mọi hình thức của nó được quy đònh
bởi sự tồn tại xã hội. Như vậy, theo Mác, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội,
một mặt nó phản ánh tồn tại xã hội, mặt khác, nó lại có xu hướng phản kháng lại
xã hội đã sản sinh ra nó. Vì tôn giáo là một thuật ngữ có nhiều sự biến đổi cho nên
khó có thể đưa ra một đònh nghóa chung về tôn giáo nhưng về cơ bản tôn giáo là
niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên và được chấp nhận một cách trực giác và tác
động qua lại một cách siêu thực nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như
thế giới bên kia. Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng tuỳ thuộc vào những thời
kỳ lòch sử và hoàn cảnh đòa lý khác nhau. Cho nên, xét về mặt chất thì theo Mác,
tôn giáo là sản phẩm của lòch sử, tôn giáo là sự tự ý thức và là sự tự cảm giác của
con người. Tôn giáo là tình cảm tự thân của con người khi họ chưa làm chủ được
bản thân, Mác khẳng đònh: Con người sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng

thỏa mãn nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân loại, trong xã hội có áp bức giai
cấp thì tôn giáo còn bò các giai cấp thống trò lợi dụng. Tôn giáo trở thành một công
cụ để bảo vệ lợi ích giai cấp. Vì vậy, vấn đề bức thiết đặt ra là làm sao để đoàn kết
lương – giáo, đoàn kết dân tộc, tăng cường sức mạnh dân tộc, hướng sức mạnh đó
vào mục tiêu chủ yếu của cách mạng, đấu tranh thắng lợi với âm mưu chia rẽ của
kẻ thù.
Vấn đề quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của nhân dân ta được Đảng và
Nhà nước rất quan tâm và đã trở thành chính sách nhất quán xuyên suốt trong mọi
thời kì do Đảng lãnh đạo. Và trong mọi thời kì Đảng ta điều khẳng đònh: “Đảng lấy
chủ nghóa Mác - Lênin và Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho
hành động” chính vì vậy mà tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở của Đảng ta trong việc
đề ra các chính sách về tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Theo Hồ Chí Minh thì tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một quyền rất tiêu biểu
của mọi người dân. Do đó, theo Người phải bảo đảm mọi điều kiện cho quyền đó
được thực thi trong thực tế Hồ Chí Minh đã xem xét vấn đề tôn giáo với tinh thần
biện chứng mác xít một cách sáng tạo. Người nhấn mạnh: “ Tôn giáo là duy tâm,
cộng sản là duy vật nhưng trong điều kiện hiện tại, người theo đạo vẫn vào Đảng
được” [15,115].
Người khẳng đònh tự do tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ
phận dân cư vì thế người nói: người dân đi theo cách mạng nhưng vẫn đồng thời
theo các tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau được xem là bình thường. Cho nên Người
rất đúng khi nhận thấy sự hòa hợp giữa đạo và đời. Không những thế chính sách tự
do tín ngưỡng, tôn giáo của Người đã góp phần làm nên thắng lợi của cuộc cách
mạng tháng Tám năm 1945. Bên cạnh đó Người còn chú trọng đến việc khẳng đònh
tính pháp lý của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Người thấy được rằng bọn thực
dân phong kiến đang thực hiện chính sách chia rẽ tôn giáo cho nên Người đã cho
Trang 8
rằng dưới chế độ thực dân phong kiến đồng bào các tôn giáo đều bò áp bức, bóc lột
nặng nề. Khi tổ quốc bò ngoại bang đô hộ thì các tôn giáo cũng không được tự do,
cho nên Người nói rằng đồng bào các tôn giáo cần đoàn kết lại và đoàn kết toàn

giáo nhưng Người đã đi sâu giải quyết những vấn đề thuộc quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo của nhân dân ta và ngay từ đầu Người đã nhìn thấy được con đường phát
triển của tôn giáo và Người cũng vạch ra được những nội dung cốt lõi trong công
tác tôn giáo đó là: Thứ nhất, phải quan tâm chăm lo đến phần đời và phần đạo của
quần chúng tín đồ các tôn giáo. Thứ hai, tôn trọng quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo
nhưng kiên quyết xử lí những phần tử lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo, vi phạm pháp
luật. Thứ ba, quan tâm đối với tín đồ tôn giáo và chân thành đối với chức sắc tôn
giáo động viên họ tham gia vào sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc. Thứ tư,
cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng có tín ngưỡng. Và
theo Người muốn thực hiện tốt công tác tôn giáo phải nghiên cứu sâu sắc tình hình
thực tế và phải biết đoàn kết, thu hút mọi người dù có đạo hay không có đạo để
phấn đấu cho mục tiêu chung của dân tộc. Quán triệt tư tưởng đó của Hồ Chí Minh,
Đảng và Nhà Nước ta tiếp tục cũng cố, vận dụng sáng tạo nó và trong công cuộc
đổi mới đất nước. Điều đó đã được thể hiện trong Văn Kiện Đại Hội đại biểu toàn
quốc của Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VI và VIII. Đó là: “Công dân Việt
Nam có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.
Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng,
tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được tự do xâm phạm tự do tín ngưỡng,
tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách
hiện hành của nhà nước”. Như vậy, qua đó ta thấy được rằng quan điểm về tôn
giáo và công tác tôn giáo của Đảng và Nhà Nước ta là dựa trên nền tảng của chủ
nghóa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng sáng tạo vào trong tình
Trang 10
hình mới. Từ đó có thể nói tôn giáo là hệ thống các quan niệm tín ngưỡng sùng bái
một hay nhiều vò thần linh nào đó. Và nó là một hình thái ý thức xã hội, nó mang
đậm tính lòch sử và tính quần chúng rộng rãi. Cho nên khi nghiên cứu tôn giáo cần
phân biệt được tôn giáo với các hình thức mê tín dò đoan. Ngoài ra, tôn giáo còn là
vấn đề tồn tại lâu dài, tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận
nhân dân, đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng chủ
nghóa xã hội. Ngày nay, các giáo hội và các tổ chức tôn giáo có đường hướng hành

thường phụ nữ, song đến Việt Nam các tôn giáo ấy đã phải thay đổi ít nhiều cho
phù hợp với vai trò, vò trí của người phụ nữ trong xã hội Việt Nam. Đã từ lâu trong
đời sống của nhân dân ta vai trò của người phụ nữ không bò hạ thấp, khinh miệt như
nhiều nước khác, ngược lại còn được coi trọng, đề cao trong xã hội. Nhiều nơi như
đình, chùa, miếu, điện, thánh thất, nhà thờ là chốn hương hoa, oản quả thờ phụng
những bậc thánh thần, tiên phật thuộc giới nữ. Vì lẽ đó người ta nói ở nước ta có
đạo thờ Mẫu.
Đặc điểm nổi bật của tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam đó là thờ cúng tổ tiên,
những người có công với gia đình, làng, nước… Đây là một nét đặc sắc của tín
ngưỡng, tôn giáo truyền thống của nước ta.
Chính vì tôn giáo là vấn đề tâm linh huyền bí nên các thế lực phản động trong
và ngoài nước thường lợi dụng tôn giáo vì mục đích chính trò của chúng. Những
năm gần đây, các thế lực thù đòch đặc biệt coi trọng vấn đề lợi dụng tôn giáo, coi
đây là biện pháp đột phá, chỉa mũi xung kích trong việc thực hiện chiến lược “diễn
biến hoà bình” nhằm xoá bỏ chủ nghóa xã hội ở Việt Nam. Chúng tăng cường phát
triển đạo Tin Lành ở các vùng dân tộc miền núi. Đối với vùng Tây Bắc, chúng tăng
cường phát triể đạo Tin Lành trong đồng bào Mông, Dao… âm mưu thành lập
“Vương quốc người Mông”. Đối với vùng Tây Nguyên, chúng tuyên truyền, phát
triển đạo Tin Lành và chủ trương tách “Tin Lành người Thượng” ra khỏi “Tin Lành
người Kinh”, lập ra “Tin Lành Đềga” làm ngọn cờ tư tưởng tập hợp lực lượng, âm
mưu thành lập nhà nước “Đềga độc lập”.
1.2.2. Tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Việt Nam có truyền thống văn hóa lâu đời và là một quốc gia đa dân tộc, đa
tôn giáo. Cũng như nhiều nước trên thế giới, mỗi dân tộc trong cộng đồng 54 dân
tộc Việt Nam có những tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau gắn với đời sống kinh tế,
văn hóa và xã hội.
Trang 12
Nhằm đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, ngay từ Hiến
pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1946) đến Hiến pháp của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghóa Việt Nam ngày nay (1992) đều luôn khẳng đònh

- Bà – la – môn.
Với sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng tôn giáo như trên, người ta thường ví
Việt Nam như bảo tàng tôn giáo thế giới. Về khía cạnh văn hóa, sự đa dạng các
loại hình tín ngưỡng, tôn giáo sẽ góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam phong
phú và đặc sắc. Tuy nhiên, đó là những khó khăn đặt ra cho Đảng và Nhà nước ta
trong việc thực hiện chủ trương, chính sách đối với tôn giáo nói chung và đối với
từng tôn giáo cụ thể.
* Ở Việt Nam, tôn giáo không chỉ có trong người Kinh mà còn có cả trong
vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Cụ thể:
- Dân tộc Khơ-me theo Phật giáo Nam tông.
- Hồi giáo có mối quan hệ đặc biệt với dân tộc Chăm.
- Đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên và Tây Bắc theo đạo Công giáo,
đặc biệt là đạo Tin Lành.
Khoảng 20 năm trở lại đây, có trên 100 nghìn đồng bào người Mông, Dao theo
đạo Tin Lành, sự phát triển nhanh chống như vậy đang là vấn đề rất lớn liên quan
đến vần đề tư tưởng, vần đề tôn giáo và an ninh chính trò ở khu vực Tây Bắc.
* Đa số tín đồ các tôn giáo là người lao động, trong đó chủ yếu là người nông
dân.
Theo ước tính của Ban Tôn giáo Chính phủ, tín đồ là nông dân của đạo Phật,
Công giáo chiếm 80% - 85%; của Cao Đài, Hòa Hảo là 95%; của Tin Lành là
65%...
Trang 14
* Lực lượng chức sắc, nhà tu hành – những người hoạt động tôn giáo chuyên
nghiệp khá đông đảo. Các chức sắc, nhà tu hành là lực lượng quan trọng trong mối
quan hệ giữa Giáo hội với Nhà nước và là đầu mối quan trọng trong quản lý Nhà
nước và hoạt động tôn giáo.
* Tôn giáo ở Việt Nam có mối quan hệ quốc tế rộng rãi:
Trong 6 tôn giáo ở Việt Nam thì có 4 tôn giáo du nhập từ bên ngoài vào là:
Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành và Hồi giáo. Điều đó cũng có nghóa là tôn
giáo Việt Nam có mối quan hệ quốc tế rộng rãi.

Đó cũng chính là cơ sở thực tiễn để Đảng và Nhà nước hoạch đònh chủ trương,
chính sách đối với tôn giáo ở tầm vó mô.
1.2.3.Tác động của các tôn giáo trong đời sống xã hội ở nước ta
Những tác động tích cực
* Về chính trò
Việc thực hiện các giáo lý tôn giáo góp phần ổn đònh trật tự an ninh xã hội và
hạn chế tệ nạn xã hội.
Không ai phủ nhận được vai trò của tôn giáo trong việc dệt nên những sợi dây
vô hình gắn kết cộng đồng, những cái phanh hãm về mặt tâm linh với một bộ phận
không nhỏ quần chúng. Pavlov – một nhà khoa học Nga từng phát biểu đại ý: Tôi
là một nhà khoa học, một con người duy lý, không liên quan gì đến tôn giáo nhưng
tôi luôn kính trọng tôn giáo bởi vì rất nhiều người thân của tôi họ không thể sống
thiếu tôn giáo… Tôn giáo trong chừng mực nào đó là một thứ kỷ cương của tâm
linh. Do đó, khi thực hiện tốt các giáo lý cũng như thực hiện tốt sinh hoạt lễ nghi,
phụng sự và hội nhập văn hóa của Công giáo; nhập thế, hiện đại hóa và đạo pháp
- dân tộc – chủ nghóa xã hội của Phật giáo; nước vinh, đạo sáng của đạo Cao Đài;
Trang 16
phụng đạo, yêu nước, gắn bó với dân tộc của Phật giáo Hòa Hảo; và đối với đạo
Tin Lành thì mục tiêu sống phúc âm, phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và
dân tộc… sẽ là chất xúc tác giúp các tín đồ có những việc làm, hành động đúng đắn,
góp phần giảm thiểu những tệ nạn xã hội như: trộm cắp, ma túy, cờ bạc,… ổn đònh
an ninh, trật tự xã hội.
* Về kinh tế
Với quan niệm “tốt đời, đẹp đạo” các tổ chức tôn giáo đã kêu gọi, giúp đỡ
những người theo đạo xây dựng đời sống kinh tế, nâng cao thu nhập, góp phần thúc
đẩy phát triển kinh tế. Trong những năm qua đã xuất hiện hàng ngàn hộ đồng bào
các tôn giáo đạt nhiều thành tích xuất sắc trong phong trào xóa đói, giảm nghèo,
thi đua làm kinh tế giỏi, thực hiện tốt chính sách phát triển văn hóa – xã hội, xây
dựng đòa phương, cơ sở vững mạnh. Nhiều làng nghề truyền thống ở vùng đồng bào
theo đạo đã được khôi phục với đội ngũ lao động có tay nghề cao, thu hút và giải

đùm lá rách” của dân tộc lại được khơi dậy và phát huy mạnh mẽ.
Phong trào “Xây dựng đời sống văn hóa” ở khu dân cư được quần chúng tín
đồ các tôn giáo tích cực hưởng ứng và đạt nhiều danh hiệu “Cơ sở tôn giáo văn
hóa” và “Gia đình văn hóa”. Nhiều tổ chức giáo hội có chương trình, kế hoạch cụ
thể để hưởng ứng và tham gia như phong trào xây dựng “Chùa cảnh tinh tiến” hay
“Chùa cảnh văn hóa” trong Phật giáo. Đồng bào Công giáo ở nhiều đòa phương đã
có những sáng kiến hay và đề ra những nội dung, tiêu chuẩn cụ thể gắn với đặc
điểm sinh hoạt tôn giáo, đồng thời vận động từng gia đình giáo dân phấn đấu thực
hiện để đạt các danh hiệu “Xứ họ đạo tiên tiến”, “Gia đình Công giáo gương mẫu”
Điều chỉnh, hoàn thiện tính cách con người, hướng con người tới những điều
tốt thông qua những điều răn dạy trong giáo lý của các tôn giáo.Tôn giáo nào cũng
dạy con người làm điều lành, tránh làm điều dữ; gạt điều dở, giữ điều hay, hướng
Trang 18
con người vươn tới chân, thiện, mỹ. Nếu Khổng giáo dạy con người về nhân, nghóa
thì Đạo giáo giáo dục con người biết quý trọng và sống hài hòa với tự nhiên, nếu
Công giáo dạy con người bác ái thì đạo Phật dạy người ta về từ bi, hỷ xả, vô ngã vò
tha, gạt bỏ tham, sân, si.
Ví dụ: Vào những ngày rằm, mồng một âm lòch, những ngày lễ tết hay những
ngày đại lễ Phật Đản, Vu Lan đông đảo khách thập phương với đủ mọi thành phần
đã quy tụ về chùa. Thông qua các đại lễ, họ cảm thấy gắn bó với nhauhơn, tình yêu
quê hương, đất nước được khơi dậy, nhớ ơn tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã có công nuôi
lớn, dưỡng dục mình.
Phản ánh một khát vọng vươn tới một xã hội tốt đẹp. Tôn giáo đã làm tốt
nhiệm vụ của mình đó chính là nơi mà con người có thể tìm đến để được xoa dòu
những nỗi đau tinh thần, những mất mát trong cuộc sống… điều đó đã được các tôn
giáo thể hiện như: Đạo Thiên chúa với từng bàn tay nhân ái của tu só đã và đang
xoa dòu những nỗi đau bệnh tật cũng như nhọc nhằn trên nhân thế. Những đoàn cứu
trợ, những trại mồ côi, những mái ấm cưu mang những kiếp số lỗi lầm. Còn đạo
Phật với tư tưởng từ bi, cứu khổ, những ngôi Chùa đã dang rộng vòng tay đón các
bác xe ôm, xích lô, các bà bán hàng rong, các cháu bán báo, vé số, đánh giày…vào

Nếu dành quá nhiều tiền của, thời gian cho việc đi lễ, cúng bái sẽ ảnh hưởng
đến hoạt động sản xuất kinh doanh và lợi ích kinh tế của các cá nhân.
Nhiều người lợi dụng nơi thiêng liêng, đức tin của người khác để bày chuyện
quyên góp trục lợi về kinh tế.
Một số người lợi dụng viện trợ tôn giáo để gây mất ổ đònh đời sống tôn giáo,
phục vụ cho âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù đòch.
* Về văn hóa – tư tưởng
Trang 20
Hạn chế khả năng vươn lên của con người, không đánh giá đúng năng lực của
các cá nhân, làm cho con người an phận, không phấn đấu cải tạo tự nhiên, xã hội.
Các tôn giáo đều muốn san bằng mọi bất công, mâu thuẫn trong xã hội bằng đạo
đức. Ý tưởng đó dù rất đẹp nhưng khó có thể hiện thực hóa trong đời sống trần thế.
Bởi vì, về bản chất, chúng ta không thể quên rằng, thế giới quan tôn giáo là thế
giới quan tiêu cực. Một khi đã thâm nhập vào ý thức con người, nó sẽ làm cho con
người lãng quên hiện thực, đặt tất cả tinh thần, tâm tưởng vào thần thánh hư ảo mà
họ tin đó là giá trò đích thực. Chức năng thế giới quan của tôn giáo là dẫn dắt các
tín đồ theo một triết lý sống không hành động, không đấu tranh trong thực tại, lấy
tu dưỡng tâm tính làm điều cốt yếu để mau chóng được giải thoát ở bên ngoài thực
tại, nơi Thiên đường của Chúa hay Niết bàn của Phật.
Tôn giáo hướng con người tới khát vọng hạnh phúc nhưng là hạnh phúc hư ảo.
Tôn giáo không đề cao cuộc sống trần gian. Tôn giáo làm cho nhân dân đắùm chìm
vào đam mê, làm tê liệt ý chí đấu tranh giai cấp cũng chính vì thế mà Các Mác đã
gọi “tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”.
1.3.
1.3.
Vai trò của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam đối với công tác tôn
Vai trò của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam đối với công tác tôngiáo trong giai đoạn hiện nay

sách và các chương trình phát triển kinh tế xã hội với đồng bào có đạo và chức sắc,
cơ sở tôn giáo.
Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, đưa nhanh nghò quyết của Đảng vào
đời sống của đồng bào tôn giáo, khuyến khích vận động các tín đồ tham gia vào
việc đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Đồng thời chống lại âm
mưu phá cách mạng của các thế lực phản động và thù đòch. Chú trọng thu hút
những người cao tuổi, nhân só, trí thức chuyên gia thuộc các tôn giáo khác nhau vào
tham gia công tác của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như phong trào chống tội phạm ,
Trang 22
ma túy, tệ nạn xã hội, đảm bảo trật tự an toàn xã hội và giải quyết việc làm… cảm
hóa giáo dục những người có đạo mà vi phạm pháp luật hòa nhập cộng đồng.Thực
hiện phát động các chương trình từ thiện vào trong đồng bào có đạo và các chức
sắc tôn giáo như : ngày vì người nghèo, ủng hộ thiên tai lũ lụt, xây dựng nhà tình
thương, thăm các bà mẹ Việt Nam anh hùng, khuyến khích tăng gia sản xuất trong
các đồng bào có đạo, xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghóa…Tích cực vận động
mọi tín đồ, chức sắc tôn giáo tham gia bầu cử, tuyên truyền trong nước và ngoài
nước về truyền thống đoàn kết dân tộc, tôn giáo, ngăn chặn và đấu tranh các luận
điệu xuyên tạc về tôn giáo của các thế lực thù đòch, đưa báo người Công giáo Việt
Nam đến các tổ đoàn kết, các vò chức sắêc trong xứ đạo. Đồng thời trong mọi điều
kiện Mặt trận cũng đều phải đảm bảo cho việc thực hiện sắc lệnh của Chủ tòch
nước về vấn đề tôn giáo chính như “đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ
cúng của nhân dân không ai được xâm phạm quyền tự do đó. Mọi người Việt Nam
đều có quyền tự do theo tôn giáo hoặc không theo một tôn giáo nào” để làm tốt vai
trò của mình thì Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần phải phối hợp chặt chẽ với Đảng
và Nhà nước, đặc biệt là đồng bào có đạo và các vò chức sắc tôn giáo. Qua đó góp
phần vào việc phát huy khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp xây dựng đất
nước.
Trang 23
Chương 2
CÔNG TÁC TÔN GIÁO CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TỈNH

sông Bourbon do Pháp đầu tư với tàu có tải trọng khoảng 5000 tấn nhập cảng.
Diện tích tự nhiên của tỉnh là 4491,221 km
2
chiếm tỉ lệ 1,3% so với diện tích cả
nước và bằng 8,74% diện tích của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tọa độ đòa lý :
105030’30” đến 106047’02’’ kinh độ Đông và 10023’40’’đến 1102’00’’ vó độ
Bắc.Trên đòa bàn Tỉnh có một thò xã và 13 huyện trong đó có 6 huyện nằm trong
khu vực Đồng Tháp Mười đòa hình trũng bao gồm Tân Hưng,Vónh Hưng, Mộc Hóa,
Tân Thạnh, Thạnh Hóa và Đức Huệ với diện tích đất tự nhiên là 298.243 ha chiếm
66,4% diện tích đất tự nhiên thường xuyên bò ngập lụt hằng năm. Đòa hình bò chia
cắt bởi hai sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây với hệ thống kênh rạch chằng chòt
nằm ở phía Bắc và Đông Bắc của Tỉnh. Các huyện còn lại là khu vực phát triển
khá ổn đònh và đa dạng .
* Tình hình kinh tế – xã hội tỉnh của Long An
Những năm gần đây, tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Long An có
những chuyển biến tích cực, tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao đạt 9,7%
(trong đó năm 2006 đạt 11,2%). Tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội năm
2008, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 14,3% trong đó khu vực I tăng trưởng đạt 5,7%,
khu vực II tăng 25,7%, khu vực III tăng trưởng 11,2% - 11,5%; thu hút vốn đầu tư
phát triển đạt mức kế hoạch đề ra, bằng 45,5% GDP. Thu ngân sách Nhà nước ước
vượt 23,5% dự đoán Hội đồng nhân dân Tỉnh giao. Tỉ lệ hộ nghèo giảm còn 5,2%,
giải quyết việc làm cho 35000 người,… Công nghiệp - xây dựng khẳng đònh vai trò
đóng góp quyết đònh vào tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế, tăng trưởng
mạnh với tốc độ 18,5%/năm. Nông nghiệp nông thôn có nhiều chuyển biến tích
cực, tăng trưởng bình quân đạt 5,2%; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dòch theo
hướng công nghiệp hóa; hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn được
xây dựng khá đồng bộ, bộ mặt nông thôn được đổi mới. Môi trường đầu tư thông
Trang 25

Trích đoạn Tăng cường cơng tác vận động quần chúng, xây dựng lực lượng chính trị ở Nâng cao trình độ dân trí cho đồng bào cĩ đạo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status