QoS trong mạng IP NGHIÊN CỨU CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TRONG MẠNG IP CHƯƠNG 1_2 - Pdf 20

Đồ án tốt nghiệp Chất lượng dịch vụ trong mạng IP
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP HỆ THỐNG
MẠNG Đề tài:

NGHIÊN CỨU CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TRONG
MẠNG IP

1.3.2 IPv6
 Định dạng gói IPv6
Định dạng gói IPv6 được cho ở hình 1.12. Mỗi gói gồm hai phần: tiêu đề cơ sở và tải
tin. Tải tin lại gồm hai phần: các tiêu đề mở rộng tùy chọn và dữ liệu tầng trên. Tiêu đề cơ
sở chiếm 40 byte, trong khi tiêu đề mở rộng và dữ liệu có chiều dài tối đa 65535 byte.

Hình 1.12: Gói IPv6
 Tiêu đề cơ sở
Hình 1.13 minh họa định dạng gói IPv6.
0-3 4-7 8-10 11-15 16-19 20-23 24-27 28-31
Version
Traffic class (8 bit)
Flow Label
Payload Length
Next Header

Hop Limit
Source Address (128 bitss)
Destination Address (128 bitss)
Đồ án tốt nghiệp Chất lượng dịch vụ trong mạng IP
Hình 1.13: Định dạng gói IPv6

kế tốt, nhưng nó vẫn có một số hạn chế mà trở nên không phù hợp với sự phát triển
nhanh của Internet:
- IPv4 sử dụng 32 bít để đánh địa chỉ và chia khoảng địa chỉ thành các lớp A, B, C,
D, E. Khoảng địa chỉ IPv4 là không đủ cho sự phát triển nhanh chóng của Internet.
- Internet phải điều tiết truyền video và âm thanh thời gian thực. Các kiểu truyền
này yêu cầu độ trễ tối thiểu và khả năng dành trước tài nguyên. Những điều chưa
được hỗ trợ trong IPv4.
- IPv4 không hỗ trợ mật mã và chứng thực.
Để vượt qua những hạn chế này, IPv6 đã được phát triển. Trong IPv6, giao thức IP
được thay đổi để điều tiết sự thay đổi không thể đoán trước của Internet. Định dạng và
chiều dài của địa chỉ IP được thay đổi cùng với định dạng gói.
IPv6 có một số ưu điểm so với IPv4:
- Khoảng địa chỉ lớn hơn. Địa chỉ IPv6 dài 128 bít, nghĩa là gấp bốn lần chiều dài
địa chỉ IPv4.
- Định dạng tiêu đề tốt hơn. IPv6 sử dụng định dạng tiêu đề mới, trong đó các tùy
chọn được tách khỏi phần tiêu đề cơ sở và nếu cần, được thêm vào giữa phần tiêu
đề cơ sở và dữ liệu. Do vậy, làm đơn giản và tăng tốc độ xử lý định tuyến vì hầu
hết các tùy chọn đều không cần được router kiểm tra.
- Các tùy chọn mới. IPv6 có một số tùy chọn mới cho phép các chức năng bổ sung.
- Cho phép mở rộng. IPv6 được thiết kế để cho phép mở rộng khi có yêu cầu.
- Hỗ trợ cấp phát tài nguyên. Trong IPv6, trường loại dịch vụ được bỏ đi, nhưng
một cơ chế (được gọi là nhãn luồng) được thêm vào để cho phép nguồn yêu cầu
xử lý gói đặc biệt. Cơ chế này có thể được sử dụng để hỗ trợ lưu lượng video
hoặc âm thanh thời gian thực.
- Bảo mật hơn. Tùy chọn mật mã và chứng thực trong IPv6 cung cấp tính toàn vẹn
và tính bảo mật của gói.
Đồ án tốt nghiệp Chất lượng dịch vụ trong mạng IP
Kết luận chương I:
TCP/IP là nền tảng cho mạng Internet, nói cách khác tìm hiểu về mô hình TCP/IP
chính là tìm hiểu bản chất của mạng IP. ChươngI trình bày sự ra đời, khái niệm, kiến

đều được đảm bảo QoS như đã được quy định trong các chuẩn liên quan cho điện thoại.
Nếu nhìn từ góc độ mạng thì bất cứ một mạng nào cũng bao gồm:
- Hosts (chẳng hạn như: Servers, PC…).
- Các bộ định tuyến và các thiết bị chuyển mạch.
- Đường truyền dẫn.
Nếu nhìn từ khía cạnh thương mại:
- Băng thông, độ trễ, jitter, mất gói, tính sẵn sàng và bảo mật đều được coi là tài
nguyên của mạng. Do đó với người dùng cụ thể phải được đảm bảo sử dụng các
tài nguyên một cách nhiều nhất.
- QoS là một cách quản lý tài nguyên tiên tiến của mạng để đảm bảo có một chính
sách ứng dụng đảm bảo.
Vậy sự định nghĩa chính xác QoS là rất khó khăn nhưng ta có thể hiểu chúng gần
như là khả năng cung cấp dịch vụ (ở lớp phần tử mạng, vvv ) đưa ra cho khách hàng
thông qua những yêu cầu chính xác (trên khả năng thực tế hay lý thuyết) có thể đáp
ứng dựa trên bản hợp đồng về thoả thuận lưu lượng. Sự định nghĩa khuôn dạng của nó
kết thành chất lượng dịch vụ của lớp mạng do sự phân phát chất lượng dịch vụ của
peer-to-peer (cùng lớp) edge-to-edge (biên tới biên) hay end-to-end (đầu cuối tới đầu
cuối). Lẽ tự nhiên những yêu cầu này có thể thay đổi từ phía ứng dụng cho ứng dụng
hay từ phân phối dịch vụ.
Vậy trong tất cả những điều đã nêu về cấp QoS, đảm bảo chất lượng và SLA, để
thoả mãn ta phải làm như thế nào? Vấn đề là bản chất định hướng IP là một mạng nỗ
lực tối đa do đó “không tin cậy" khi yêu cầu nó đảm bảo về QoS. Cách tiếp cận gần
nhất để các nhà cung cấp dịch vụ IP có thể đạt tới đảm bảo QoS hay SLA giữa khách
hàng và ISP là với dịch vụ mạng IP được quản lý . Thuật ngữ được quản lý ở đây là
bất cứ cái gì mà nhà cung cấp dịch vụ quản lý thay mặt cho khách hàng , điều đó cũng
làm nâng cao được chất lượng dịch vụ.
2.2 Các thông số QoS
Phần này sẽ giới thiệu qua về các thông số của QoS. Sáu thông số chung về chất
lượng dịch vụ:
- Băng thông.

Đồ án tốt nghiệp Chất lượng dịch vụ trong mạng IP
do đó tạo ra trễ trên mạng. Để giải quyết sự hạn chế băng thông này mà nhiều giải
pháp tiết kiệm, hay khắc phục băng thông được đưa ra.
Khi được sử dụng như là một thông số QoS, băng thông là yếu tố tối thiểu mà một
ứng dụng cần để hoạt động. Ví dụ, thoại PCM 64 kb/s cần băng thông là 64 kb/s. Điều
này không tạo ra khác biệt khi mạng xương sống có kết nối 45 Mb/s giữa các nút mạng
lớn. Băng thông cần thiết được xác định bởi băng thông nhỏ nhất sẵn có trên mạng. Nếu
truy nhập mạng thông qua một MODEM V.34 hỗ trợ chỉ 33.6 kb/s, thì mạng xương
sống 45 Mb/s sẽ làm cho ứng dụng thoại 64 kb/s không hoạt động được. Băng thông
QoS nhỏ nhất phải sẵn sàng tại tất cả các điểm giữa các người sử dụng. Các ứng dụng
dữ liệu được lợi nhất từ việc đạt được băng thông cao hơn. Điều này được gọi là các
“ứng dụng giới hạn băng thông”, bởi vì hiệu quả của ứng dụng dữ liệu trực tiếp liên
quan tới lượng nhỏ nhất của băng thông sẵn sàng trên mạng. Mặt khác, các ứng dụng
thoại như thoại PCM 64 kb/s được gọi là các “ứng dụng giới hạn trễ”. Thoại PCM 64
kb/s này sẽ không hoạt động tốt hơn chút nào nếu có băng thông 128 kb/s. Loại thoại
này phụ thuộc hoàn toàn vào thông số QoS trễ của mạng để có thể hoạt động đúng đắn.
2.2.2 Trễ
Trễ liên quan chặt chẽ với băng thông khi nó là một thông số QoS. Với các ứng dụng
giới hạn băng thông thì băng thông càng lớn trễ sẽ càng nhỏ. Đối với các ứng dụng giới
hạn trễ, như là thoại PCM 64 kb/s, thông số QoS trễ xác định trễ lớn nhất các bit gặp
phải khi truyền qua mạng. Tất nhiên là các bit có thể đến với độ trễ nhỏ hơn.

Hình 2.1 (a) băng thông , (b) trễ
Trễ được định nghĩa là khoảng thời gian chênh lệch giữa hai thời điểm của cùng
một bít khi đi vào mạng (thời điểm bít đầu tiên vào với bít đầu tiên ra) .
Đồ án tốt nghiệp Chất lượng dịch vụ trong mạng IP
Với băng thông có nhiều cách tính, giá trị băng thông có thể thường xuyên thay đổi.
Nhưng thông thường giá trị băng thông được định nghĩa là số bit của một khung chia
cho thời gian trôi qua kể từ khi bit đầu tiên rời khỏi mạng cho đến khi bit cuối cùng rời
mạng.

không phải là lớn nhất). Nếu trễ là 200 ms, thì 10 phần trăm giá trị jitter sẽ cho phép
bất kỳ trễ nào trong khoảng 180 đến 220 ms. Mặt khác, jitter tuyệt đối giới hạn cộng
trừ 5 ms sẽ giới hạn jitter trong các ví dụ trên trong khoảng từ 95 tới 105 ms và từ
195 tới 205 ms.
Các ứng dụng nhạy cảm nhất đối với giới hạn của jitter là các ứng dụng thời gian
thực như thoại hay video. Nhưng đối với các trang Web hay với truyền tập tin qua
mạng thì lại ít quan tâm hơn đến jitter. Internet, là gốc của mạng dữ liệu, có ít khuyến
nghị về jitter. Các biến đổi của trễ tiếp tục là vấn đề gây bực mình nhất gặp phải đối
với các ứng dụng video và thoại dựa trên Internet.
2.2.4 Mất gói
Mất thông tin là một thông số QoS không được đề cập thường xuyên như là băng
thông và trễ, đặc biệt đối với mạng Internet. Đó bởi vì bản chất tự nhiên được thừa nhận
của mạng Internet là "cố gắng tối đa". Nếu các gói IP không đến được đích thì Internet
không hề bị đổ lỗi vì đã làm mất chúng. Điều này không có nghĩa là ứng dụng sẽ tất yếu
bị lỗi, bởi vì đối với những dịch vụ khác nhau đều đặt ra giá trị ngưỡng của riêng mình.
Nếu các thông tin bị mất vẫn cần thiết đối với ứng dụng thì nó sẽ yêu cầu bên gửi gửi lại
bản sao của thông tin bị mất. Bản thân mạng không quan tâm giúp đỡ vấn đề này, bởi vì
bản sao của thông tin bị mất không được lưu lại tại bất cứ nút nào của mạng.
Thực ra Internet là mạng của các mạng và không có cơ chế giám sát đầy đủ nào
đảm bảo chất lượng thông tin truyền. Hiện tượng mất gói tin là kết quả của rất nhiều
nguyên nhân :
 Quá tải lượng người truy nhập cùng lúc mà tài nguyên mạng còn hạn chế.
 Hiện tượng xung đột trên mạng LAN.
 Lỗi do các thiết bị vật lý và các liên kết truy nhập mạng.
Cho một ví dụ nếu một kết nối bị hỏng, thì tất cả các bit đang truyền trên liên kết
này sẽ không, và không thể, tới được đích. Nếu một nút mạng ví dụ như bộ định tuyến
hỏng, thì tất cả các bit hiện đang ở trong bộ đệm và đang được xử lý bởi nút đó sẽ biến
mất không để lại dấu vết. Do những loại hư hỏng này trên mạng có thể xảy ra bất cứ
lúc nào, nên việc một vài thông tin bị mất do lỗi trên mạng là không thể tránh khỏi.
Đồ án tốt nghiệp Chất lượng dịch vụ trong mạng IP

Internet và Web đã thay đổi tất cả. Mọi mạng toàn cầu phải giải quyết vấn đề rằng
thực sự có một số người luôn cố gắng truy nhập vào mạng tại một số địa điểm. Và thậm
chí Internet có thể thậm chí có ích ở nhà vào 10 giờ tối hơn là ở cơ quan vào 2 giờ chiều.
Đồ án tốt nghiệp Chất lượng dịch vụ trong mạng IP
Tuy nhiên, nếu người sử dụng nhận thức rõ rằng họ không thể có mạng như mong
muốn trong tất cả thời gian
Tuy nhiên thông số QoS khả dụng thường được quy cho mỗi vị trí hoặc liên kết
riêng lẻ.
2.2.6 Bảo mật
Bảo mật là một thông số mới trong danh sách QoS, nhưng lại là một thông số quan
trọng. Thực tế, trong một số trường hợp độ bảo mật có thể được xét ngay sau băng
thông. Gần đây, do sự đe doạ rộng rãi của các hacker và sự lan tràn của virus trên
mạng Internet toàn cầu đã làm cho bảo mật trở thành vấn đề hàng đầu.
Hầu hết vấn đề bảo mật liên quan tới các vấn đề như tính riêng tư, sự tin cẩn và
xác nhận khách và chủ. Các vấn đề liên quan đến bảo mật thường được gắn với một
vài hình thức của phương pháp mật mã, như mã hoá và giải mã. Các phương pháp mật
mã cũng được sử dụng trên mạng cho việc xác nhận (authentication), nhưng những
phương pháp này thường không liên quan chút nào đến vấn đề giải mã.
Toàn bộ kiến trúc đều xuất phát từ việc bổ sung thêm tính riêng tư hoặc bí mật và
sự xác nhận hoặc nhận thực cho mạng Internet. Giao thức bảo mật chính thức cho IP,
gọi là IPSec, đang trở thành một kiến trúc cơ bản để cung cấp thương mại điện tử
trên Internet và ngăn ngừa gian lận trong môi trường VoIP. Thật trớ trêu là mạng
Internet công cộng toàn cầu, thường xuyên bị coi là thiếu bảo mật nhất, đã đưa vấn
đề về bảo mật trở thành một phần của IP ngay từ khi bắt đầu. Một bit trong trường
loại dịch vụ (ToS) trong phần tiêu để gói IP được đặt riêng cho ứng dụng để có thể
bắt buộc bảo mật khi chuyển mạch gói. Tuy nhiên lại nảy sinh một vấn đề là không
có sự thống nhất giữa các nhà sản xuất bộ định tuyến khi sử dụng trường ToS.
Người sử dụng và ứng dụng có thể thêm phần bảo mật của riêng mình vào mạng,
và trong thực tế, cách này đã được thực hiện trong nhiều năm. Nếu có chút nào bảo
mật mạng, thì nó thường dưới dạng một mật khẩu truy nhập vào mạng. Các mạng ngày

buộc nó phản ánh trực tiếp tính chính xác thời gian gốc, việc bắt buộc theo thời gian
gốc là hoạt động song song cùng với các hoạt động quản lý nguồn (ví dụ như lập lịch,
quản lý luồng, định tuyến, quản lý QoS ) trong môi trường truyền thông phân tán.
Nguyên tắc thực thi: gộp rất nhiều các quy tắc bổ sung vào các hệ thống truyền
thông được thực hiện bởi QoS được công nhận rộng rãi mà các hệ thống đó hướng dẫn
sự phân chia chức năng trong việc cấu trúc nên các giao thức truyền thông để có hiệu
quả cao tuỳ theo các nguyên lý thiết kế hệ thống, tránh phải ghép kênh, khuyến nghị
cho việc cấu trúc nên các giao thức truyền thông, và sử dụng các trợ giúp phần cứng
cho quá trình xử lý giao thức có hiệu quả.
Đồ án tốt nghiệp Chất lượng dịch vụ trong mạng IP
2.4 Đặc tính kỹ thuật của QoS
Đặc tính kỹ thuật của QoS bao gồm các yêu cầu QoS mức ứng dụng và chính sách
quản lý. Đặc tính kỹ thuật của QoS nói chung là khác nhau tại mỗi lớp hệ thống và được
sử dụng để cấu hình và duy trì cơ chế QoS thuộc về các hệ thống đầu cuối và mạng.
Đặc tính kỹ thuật về đồng bộ luồng: đặc trưng cho mức độ đồng bộ (tức là tính
chính xác) giữa rất nhiều luồng liên quan. Ví dụ các cảnh video được ghi đồng thời
phải được chiếu lần lượt chính xác từng khung một để cho mọi người xem đồng thời
các đặc điểm liên quan.
Đặc tính hoạt động của luồng: đặc trưng cho yêu cầu chất lượng luồng của người
dùng. Khả năng đảm bảo tốc độ lưu lượng đi qua một giao diện, trễ, jitter và tỷ lệ tổn
thất nó đặc biệt quan trọng đối với tuyền thông đa phương tiện. Phương pháp chọn
tuyến đường dựa trên chất lượng và hiệu quả có thể thay đổi từ ứng dụng này sang ứng
dụng khác. Để có thể công nhận tài nguyên mạng và hệ thống đầu cuối cần thiết, thì
QoS FrameWork phải có trước các thông tin về các đặc tính lưu lượng sẽ đến trong
mỗi luồng trước khi tài nguyên được cấp phát.
Mức dịch vụ: chỉ ra mức độ thừa nhận tài nguyên từ đầu cuối đến đầu cuối yêu cầu.
Trong khi đặc tính chất lượng luồng cho phép người dùng được chọn tuyến có chất lượng
yêu cầu bằng phương pháp định lượng, mức dịch vụ cho phép các yêu cầu này được lọc
theo tiêu chí chất lượng để phân biệt giữa sự đảm bảo chất lượng mềm và cứng.
Chính sách quản lý QoS: chúng bao gồm mức độ đáp ứng QoS mà một luồng có

nhận nếu như kiểm tra điều khiển đầu vào từ đầu cuối đến đầu cuối thành công (tích luỹ
việc kiểm tra theo từng chặng nếu tất cả các chặng đều thoả mãn thì thành công).
Giao thức dự trữ tài nguyên: bố trí cho việc cấp phát tài nguyên mạng và hệ thống
đầu cuối phù hợp tuỳ theo các đặc trưng QoS của người dùng. Để làm được như vậy,
thì giao thức dự trữ tài nguyên tương tác với việc định tuyến dựa trên QoS để thiết lập
một đường xuyên qua mạng trong trường hợp đầu tiên và sau đó, dựa vào QoS
mapping và việc điều khiển đầu vào tại mỗi module tài nguyên nội tại được truyền qua
(ví dụ CPU, bộ nhớ, thiết bị vào/ra, chuyển mạch, các bộ định tuyến ) tài nguyên từ
đầu cuối đến đầu cuối mới được cấp phát. Kết quả cuối cùng đó là các cơ chế điều
khiển QoS như tế bào ở mức mạng/bộ lập lịch trình gói và luồng của hệ thống đầu cuối
là được cấu hình tuỳ theo.
2.5.2 Các cơ chế điều khiển QoS
Các cơ chế điều khiển QoS cho phép điều khiển lưu lượng thời gian thực của các
luồng dựa trên mức QoS yêu cầu được thiết lập trong pha cung cấp QoS. Các cơ chế
điều khiển QoS gồm có:
Đồ án tốt nghiệp Chất lượng dịch vụ trong mạng IP
Định dạng luồng: chúng điều tiết các luồng dựa trên các đặc trưng chất lượng luồng
được cung cấp bởi người dùng. Định dạng luồng được dựa trên thông lượng với tốc độ
cố định (ví dụ tốc độ đỉnh) hoặc một số hình thức mô tả thống kê của băng thông yêu
cầu (ví dụ tốc độ cho phép). Lợi ích của việc định dạng lưu lượng đó là cho phép QoS
Framework cam kết đủ tài nguyên từ đầu cuối đến đầu cuối và cấu hình bộ lập lịch trình
luồng để điều tiết lưu lượng xuyên qua hệ thống đầu cuối và mạng. Nó được chứng
minh về mặt toán học là sự kết hợp định dạng lưu lượng tại vùng ngoài của mạng và lập
lịch trình trong mạng có thể đưa ra sự đảm bảo chất lượng một cách chính xác.
Lập lịch cho luồng: nó quản lý việc chuyển mạch luồng trong các hệ thống đầu
cuối và mạng (gói hoặc/và tế bào) trong một phương pháp tích hợp. Các luồng nói
chung được lập lịch một cách độc lập trong các hệ thống đầu cuối nhưng cũng có thể
được kết hợp và lập lịch một cụm trong mạng. Điều này là hoàn toàn độc lập với mức
dịch vụ và các quy tắc lập lịch đã được chấp nhận.
Chính sách luồng: có thể xem như hai công việc giám sát: công việc giám sát sau

vòng lặp hồi tiếp duy trì QoS mà vòng lặp này duy trì QoS đạt được bởi các
module tài nguyên. Các thuật toán giám sát hoạt động ở các thời gian khác nhau. Ví
dụ chúng có thể hoạt động như một phần của bộ lập lịch trình (như một cơ chế điều
khiển QoS) để đo chất lượng riêng rẽ của các luồng hoạt động. Trong trường hợp
này các số liệu thống kê đo được có thể được sử dụng để điều khiển lịch trình gói
và điều khiển đầu vào. Hoặc, giám sát QoS có thể hoạt động trên cơ sở từ đầu cuối
đến đầu cuối như là một phần của một cơ chế hồi tiếp mức truyền tải hoặc như là
một phần của bản thân ứng dụng.
Duy trì QoS: chúng so sánh QoS được giám sát với chất lượng được mong đợi và
sau đó sử dụng các hoạt động cộng hưởng (ví dụ, điều chỉnh tài nguyên tốt hay không
tốt) trên module tài nguyên để duy trì QoS được cấp phát. Việc điều chỉnh tài nguyên
tốt sẽ chống lại sự giảm sút QoS bằng cách điều chỉnh các module tài nguyên nội tại.
Giảm QoS: đưa ra chỉ thị QoS tới người dùng khi xác định rằng lớp thấp hơn đã
thất bại trong việc duy trì QoS của luồng và không có gì khác có thể được thực hiện
bằng các cơ chế duy trì QoS. Để đáp ứng lại chỉ thị như vậy người dùng có thể chọn để
thích ngi với mức hiện có của QoS hay giảm đến mức thấp hơn (ví dụ thoả thuận lại
từ đầu cuối đến đầu cuối).
Tính sẵn sàng của QoS: cho phép ứng dụng chỉ ra khoảng thời gian mà trên đó
một hay nhiều tham số QoS (như trễ, jitter, băng thông, tổn thất, đồng bộ) có thể được
giám sát và ứng dụng được thông báo về chất lượng được cấp phát thông qua một tín
hiệu QoS. Một hay nhiều tín hiệu QoS có thể được lựa chọn tuỳ theo người dùng có
yêu cầu chính sách quản lý QoS hay không.
Đồ án tốt nghiệp Chất lượng dịch vụ trong mạng IP
2.6 Một số kỹ thuật hỗ trợ chất lượng dịch vụ
Phân loại-Nhận dạng luồng: Để cung cấp sự ưu tiên cho một số luồng nhất định,
thì luồng phải được nhận dạng và nếu cần còn phải đánh dấu. Hai nhiệm vụ này lại
thường liên quan đến việc phân loại luồng. Khi gói được nhận dạng nhưng không được
đánh dấu, thì phân loại được gọi là trên cơ sở từng chặng. Đó là khi việc phân loại chỉ
liên quan đến thiết bị chứa gói đó mà không được chuyển tới bộ định tuyến kế tiếp.
Điều này xảy ra cùng với cơ chế xếp hàng theo yêu cầu (CQ) và xếp hàng ưu tiên

Lập chính sách: Lập chính sách bao gồm các bước sau:
- Một vài lưu lượng có thể được hạn chế tới một tốc độ cụ thể.
- Những gói vượt quá mức quy định có thể bị huỷ hay đánh dấu đặc biệt.
Các bước trong việc định dạng lưu lượng:
- Lưu lượng được hạn chế tới một tốc độ cụ thể đảm bảo phù hợp với các chính sách
định ra cho nó.
- Những gói vượt quá mức quy định sẽ được xếp vào hàng đợi chứ không bị huỷ
hay đánh dấu giống như việc lập chính sách.
Có thể sử dụng định dạng lưu lượng để:
- Kiểm soát việc sử dụng băng thông hiện có.
- Thiết lập chính sách lưu lượng.
- Điều phối luồng lưu lượng để tránh tắc nghẽn.
Lập lịch: Lập lịch đặc trưng về điều khiển thời gian của việc lưu thoát gói khỏi
mỗi hàng đợi. Lập lịch liên quan mật thiết tới hàng đợi-thường tại giao diện đầu ra
hướng tới router hoặc host tiếp theo, nhưng cũng có thể là tại các điểm hàng đợi trong
một router. Như vậy lập lịch có nhiệm vụ đơn giản là lôi các gói ra khỏi hàng đợi
nhanh bằng khả năng kết nối có thể chuyển được. Bộ lập lịch tồn tại trong các router
có kiến trúc CQS, mỗi giao diện có một tầng bộ lập lịch chia sẻ khả năng chứa của kết
nối đầu ra giữa sự kết hợp các hàng đợi trong giao diện.
Bộ lập lịch chủ yếu cưỡng chế quyền ưu tiên tương đối, hạn chế trễ, hoặc băng
thông chủ định giữa các lớp lưu lượng khác nhau. Một bộ lập lịch có thể thiết lập băng
thông khả dụng nhỏ nhất cho một lớp đặc biệt bằng cách đảm bảo rằng các gói được
lấy ra khỏi hàng đợi có quan hệ với các lớp đó một cách thông thường.
Kết luận chương
Chương II nói về tổng quan chất lượng dịch vụ trong mạng IP. Trình bày khái
niệm chất lượng dịch vụ, với các thông số , các nguyên tắc với những đặc tính kỹ thuật
QoS trong mạng IP Các thành pÌân QoS trong mạng IP
cơ chế của nó. Ngoài ra đề cập đến một số kỹ thuật hỗ trợ dịch vụ. Ở các chương sau
sẽ trình bày chi tiết hơn những vấn đề trình trên.
QoS trong mạng IP Các thành pÌân QoS trong mạng IP


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status