thử nghiệm mô hình nuôi thương phẩm và khảo sát tập tính ăn nhau của ếch Thái Lan - Pdf 20

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA THỦY SẢN
  
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI :
THỬ NGHIỆM MÔ HÌNH NUÔI THƯƠNG
PHẨM VÀ KHẢO SÁT TẬP TÍNH ĂN NHAU
CỦA ẾCH THÁI LAN (Rana tigerina)
NGÀNH: THỦY SẢN
KHÓA: 2001 – 2005
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN ĐÌNH THỌ
PHAN NGUYỆT THI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2005
- 2 -
THỬ NGHIỆM MÔ HÌNH NUÔI ẾCH THƯƠNG PHẨM VÀ
KHẢO SÁT TẬP TÍNH ĂN NHAU CỦA ẾCH THÁI LAN
(Rana tigerina)
Thực hiện bởi
NGUYỄN ĐÌNH THỌ
PHAN NGUYỆT THI
Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng kỹ sư nuôi trồng thủy sản
Giáo viên hướng dẫn: NGUYỄN VĂN TƯ
Thành Phố Hồ Chí Minh
09/2005
- 2 -
TÓM TẮT
Đề tài “Thử nghiệm nuôi thương phẩm và khảo sát tập tính ăn nhau của ếch
Thái Lan (Rana tigerina)” được thực hiện tại Trại thực nghiệm Khoa Thủy Sản
Trường Đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh.

ABSTRACT
A study on size differentiation cannibalism and growth performance of
Thailand frog (Rana tigerina) was conducted at Experimental Farm for Aquacuture of
Fisheries Faculty Nong Lam University – Ho Chi Minh City.
* Experiment 1: tadpoles of frog from one-day old to twenty-five-day old were
stocked in 3-L bottles and fed for whole experiment. There were three densities of
one, three and five pairs per bottle.
Results of experiment 1 showed that cannibalism did not occur with the
tadpoles from one to four-day old and over twenty two days of stocking. The
cannibalism occured more requent with tadpoles from ten to sixteen-day old and with
stocking density of five pairs per bottle. There was no cannibalism observed with
stocking density one pair per bottle.
* Experiment 2 was comprised four age groups of the tadpoles, seven, forteen,
twenty one and twenty eight-day old. The tadpoles were starved for twenty four,
thirsty six and fourty eight hours. There were three treaments (one, three and five
pairs per 3-L bottle).
Results of experiment 2 showed that the longer starved time and the more
crowded stocking, the higher cannibalism.
* Experiment 3: the frog initial size of three and five (g) were stocked in
aquarium with bigger-size frogs at stocking densities of one and five pairs per
aquarium. Cannibalistic habit of the frog was observed for 48 hours.
Results of experiment 3 showed that the cannibalistic rate of the frogs was
increased with higher-size difference and reduced with higher initial size.
* Experiment 4 on growth performance
Thailand frog was reared in hapas suspended in earthen pond, with two
stocking densities of thristy and fourty individuals per m
2
and with two kinds of hole
and holeless-plastic subtrates for 75 days. There were 4 treaments namely NTC40,
NTC30, NTK40 and NTK30.

TÓM TẮT TIẾNG VIỆT ii
TÓM TẮT TIẾNG ANH iii
CẢM TẠ iv
MỤC LỤC v
DANH SÁCH CÁC BẢNG viii
DANH SÁCH HÌNH ẢNH và ĐỒ THỊ ix
I. GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt Vấn Đề 1
1.2 Mục Tiêu Đề Tài 2
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Giới Thiệu về Đặc Điểm Sinh Học của Ếch 3
2.1.1 Phân loại 3
2.1.2 Phân bố 3
2.1.3 Đặc điểm hình thái của ếch 4
2.1.4 Cấu tạo trong 5
2.1.5 Sinh trưởng và phát triển 7
2.1.6 Điều kiện sống của ếch 8
2.1.7 Tập tính ăn 10
2.2 Sơ Lược về Thành Phần Dinh Dưỡng các Loại Thức Ăn của Ếch 10
2.2.1 Thức ăn tự nhiên (mồi di động) 10
2.2.2 Moina 11
2.2.3 Trùn chỉ 11
2.2.4 Thức ăn công nghiệp 11
2.3 Một Số Mô Hình Nuôi Ếch Công Nghiệp 12
2.3.1 Nuôi ếch trong bể xi-măng 12
2.3.2 Nuôi ếch trong giai, nuôi đăng quầng 12
2.3.3 Nuôi ếch trong ao đất 13
2.3.4 Nuôi ếch kết hợp với nuôi cá trê 13
2.4 Triển Vọng Nghề Nuôi Ếch 13
2.4.1 Tình hình nuôi ếch 14

4.2.4 Tỷ lệ sống 46
4.2.5 Sự phân đàn 48
4.2.6 Năng suất 53
V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 60
5.1 Kết Luận 60
5.1.1 Khảo sát tính ăn nhau 60
5.1.2 Nuôi thương phẩm 60
5.2 Đề Nghò 61
- vi -
5.2.1 Khảo sát ăn nhau 61
5.2.2 Nuôi thương phẩm 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Tài liệu tiếng việt 62
Tài liệu tiếng anh 63
PHỤ LỤC 1 64
1. Chỉ tiêu chất lượng nước ở thí nghiệm 1 và 2 64
2. Chỉ tiêu chất lượng nước trong nuôi thương phẩm 65
PHỤ LỤC 2 66
1. Kết quả nòng nọc ăn nhau theo ngày tuổi 66
2. Kết quả nòng nọc ăn nhau theo thời gian nhòn đói 67
3. Kết quả ếch ăn nhau theo sự chênh lệch trọng lượng 68
PHỤ LỤC 3 69
1. Trọng lượng ếch sau 15 ngày nuôi 69
2. Trọng lượng ếch sau 30 ngày nuôi 70
3. Trọng lượng ếch sau 45 ngày nuôi 71
4. Trọng lượng ếch sau 60 ngày nuôi 72
5. Trọng lượng ếch sau 75 ngày nuôi 73
PHỤ LỤC 4 KẾT QUẢ XỬ LÝ THỐNG KÊ 74
- vii -
DANH SÁCH CÁC BẢNG

Hình 3.3 Bể kính và keo thí nghiệm 22
Hình 4.1 Hiện tượng ăn nhau ở giai đoạn nòng nọc 37
Hình 4.2 Hiện tượng ăn nhau ở giai đoạn ếch giống 38
Hình 4.3 Ếch ban đầu thí nghiệm 54
Hình 4.4 Ếch sau khi nuôi 15 ngày ở nghiệm thức xốp có lỗ 55
Hình 4.5 Ếch sau khi nuôi 15 ngày ở nghiệm thức xốp không lỗ 55
Hình 4.6 Ếch sau khi nuôi 30 ngày ở nghiệm thức xốp có lỗ 56
Hình 4.7 Ếch sau khi nuôi 30 ngày ở nghiệm thức xốp không lỗ 56
Hình 4.8 Ếch sau khi nuôi 45 ngày ở nghiệm thức xốp có lỗ 57
Hình 4.9 Ếch sau khi nuôi 45 ngày ở nghiệm thức xốp không lỗ 57
Hình 4.10 Ếch sau khi nuôi 60 ngày ở nghiệm thức xốp có lỗ 58
Hình 4.11 Ếch sau khi nuôi 60 ngày ở nghiệm thức xốp không lỗ 58
Hình 4.12 Ếch sau khi nuôi 75 ngày ở nghiệm thức xốp có lỗ 59
Hình 4.13 Ếch sau khi nuôi 75 ngày ở nghiệm thức xốp không lỗ 59
ĐỒ THỊ
Đồ thò 4.1 Tỷ lệ ăn nhau của nòng nọc ếch theo ngày tuổi 30
Đồ thò 4.2 Tỷ lệ ăn nhau ở nghiệm thức 1 cặp qua thời gian nhòn đói 32
Đồ thò 4.3 Tỷ lệ ăn nhau ở nghiệm thức 3 cặp qua thời gian nhòn đói 33
Đồ thò 4.4 Tỷ lệ ăn nhau ở nghiệm thức 5 cặp qua thời gian nhòn đói 34
Đồ thò 4.5 Tỷ lệ ăn nhau của ếch có trọng lượng 3 g so với các cỡ ếch khác 35
Đồ thò 4.6 Tỷ lệ ăn nhau của ếch có trọng lượng 5 g so với các cỡ ếch khác 36
Đồ thò 4.7 Sự biến động nhiệt độ nước theo thời gian 39
Đồø thò 4.8 Sự biến động nhiệt độ không khí theo thời gian 40
Đồø thò 4.9 Sự biến động pH nước theo thời gian 41
Đồ thò 4.10 Tăng trọng của ếch ở các nghiệm thức theo thời gian 42
Đồ thò 4.11 Tăng trọng của ếch thí nghiệm 42
Đồ thò 4.12 Tăng trọng tuyệt đối của ếch 45
Đồ thò 4.13 Tỷ lệ sống của ếch sau 75 ngày nuôi 47
Đồ thò 4.14 Phân bố tần số về trọng lượng ếch sau 30 ngày nuôi 49
- ix -

chúng ta cũng biết ếch có tập tính ăn nhau, dẫn đến sự hao hụt trong quá trình ương,
nuôi. Do đó cần tìm hiểu điều kiện dẫn đến sự ăn nhau của chúng để khắc phục và
tìm ra biện pháp nuôi có hiệu quả hơn.
Xuất phát từ những yều cầu trên, được sự phân công của Khoa Thủy Sản
Trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, chúng tôi tiến hành thực hiện đề
tài: “Thử Nghiệm Mô Hình Nuôi Thương Phẩm và Khảo Sát Tập Tính Ăn Nhau
của Ếch Thái Lan (Rana tigerina)”.
- 2 -
1.2 Mục Tiêu Đề Tài
Đề tài thực hiện với mục tiêu sau:
- Tìm ra mô hình nuôi ếch thương phẩm thích hợp với giá thể là tấm “xốp cao
su” có đục lỗ (tùy theo kích cỡ ếch) và không đục lỗ, và mật độ nuôi khác nhau.
- Tìm hiểu điều kiện dẫn đến sự ăn nhau trên ếch từ giai đoạn nòng nọc (khi
ếch tiêu hết noãn hoàng) đến khi thành ếch con, từ đó đề xuất phương pháp ương nuôi
đạt hiệu quả hơn.
- 3 -
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Giới Thiệu về Đặc Điểm Sinh Học của Ếch
2.1.1 Phân loại
Ếch được phân loại như sau:
Ngành: Chordata
Lớp: Amphibia
Bộ: Anura
Bộ phụ: Phaneroglossa
Họ: Ranidae
Giống: Rana
Loài: Rana tigerina Daudin, 1802
Tên Việt Nam: Ếch Thái Lan.
2.1.2 Phân bố
Trên thế giới có trên 2000 loài ếch nhái, họ ếch là một trong những họ lớn

liền với lớp cơ bên dưới, có thể nhấc da qua lại. Da chỉ gắn với lớp cơ bên dưới theo
một vài đường tạo thành những xoang chứa đầy bạch huyết góp phần làm da ếch ẩm
ướt thích ứng với sự vận chuyển và hô hấp.
Lưng ếch hơi gù, mặt bụng hơi sáng và trơn láng, mình ngắn và không phân
cách với đầu. Cuối thân có một lỗ gọi là lỗ huyệt (Trần Kiên, 1996).
2.1.3.3 Tứ chi
Chi trước có 4 ngón vừa ngắn vừa nhỏ và vừa yếu. Trong sinh hoạt hàng ngày,
hai chân trước của ếch chỉ giúp nó giữ được con mồi, giữ được thế cân bằng trong di
chuyển. Ở chi trước, gốc ngón thứ 1 (ngón hướng vào trong cơ thể) của con đực khi
trưởng thành có một mấu lồi gọi là “chai sinh dục”. Chai này phát triển to trong mùa
sinh sản và có vai trò như cái mấu. Khi giao phối con đực ôm con cái, hai mấu đó mắc
vào nhau làm cho động tác ôm con cái được chặt hơn, làm hai tay không bò tuột.
Chi sau có 5 ngón dính liền nhau bằng một màng mỏng như chân vòt, màng này
giúp ếch bơi dễ dàng trong nước. Hai chân sau của ếch khá dài, có cơ bắp to khoẻ
giúp ếch phóng xa, bơi lội, leo cây,…
2.1.4 Cấu tạo trong
2.1.4.1 Hệ hô hấp
Ếch là động vật lưỡng cư vừa sống dưới nước vừa sống trên cạn. Cơ quan hô
hấp của ếch gồm hai bộ phận: da và phổi. Phổi ếch là cơ quan hô hấp khi ếch sống
trên cạn còn da giúp ếch thở trong nước hoặc trong môi trường ẩm ướt.
Theo Phạm Văn Trang và Phạm Báu (1999), da ếch có khả năng vận chuyển
51% O
2
và 86% CO
2
. Trên da ếch có nhiều mao mạch, O
2
trong không khí hoà tan vào
chất nhầy trên da, thấm qua da vào các mao mạch, CO
2

còn ếch cái có buồng trứng rất lớn. Thể mỡ là nơi dự trữ năng lượng cho tinh hoàn và
buồng trứng.
Ếch đực có một đôi tinh hoàn nhỏ hình bầu dục, ếch cái có hai buồng trứng.
Tinh dòch được đổ vào ống dẫn niệu rồi vào xoang huyệt. Trứng rơi vào trong ống dẫn
trứng rồi cũng đi tới xoang huyệt. Bám trên tinh hoàn và buồng trứng là thể mỡ màu
vàng cần thiết cho sự phát triển của tinh hoàn và buồng trứng. Vì thế về mùa sinh sản
thể mỡ nhỏ và cò màu vàng sậm. Trong mùa trú đông thể mỡ lớn và có màu vàng
nhạt, ếch béo, chất lượng thòt ngon.
Ếch đến một tuổi có thể tham gia sinh sản. Ếch hai đến ba tuổi sẽ cho thế hệ
con tốt hơn ếch một tuổi.
- 7 -
Ếch đẻ rộ vào mùa xuân, rõ nhất và rộ nhất từ tháng 3 đến tháng 6 có khi kéo
dài đến tháng 7. Vào những đêm mưa rào chúng gọi nhau ra các đồng lúa, đồng màu
để đẻ. Ếch đực dùng âm thanh để kêu gọi con cái. Những tiếng kêu là sự đấu khẩu
giữa các con đực để giành con cái, khiến con cái không thể chòu đựng được nữa sẽ
theo tiếng gọi mà tìm đến kết đôi (Phạm Văn Trang, 2005).
Ngày nay, người ta có thể sản xuất giống nhân tạo bằng cách tiêm chất kích
thích sinh sản. Khi bắt cặp, con đực luồn hai tay vào nách con cái, ôm ghì chặt và
dùng bàn tay chai chà sát vào phần ngực ếch cái. Khi bò kích thích con cái sẽ đẻ trứng
đồng thời con đực cũng kòp phóng tinh lên trứng, đó là sự thụ tinh ngoài. Trứng gặp
tinh trùng thụ tinh, rơi xuống nước và trương to lên, dính vào nhau tạo thành màng
trứng nổi trên mặt nước. Trứng ếch hình tròn, đường kính khoảng 2 mm, có hai phần
trắng đen rõ rệt, một nửa hình cầu màu đen hướng lên trên gọi là cực động vật, một
nửa sau màu trắng nằm phía dưới là cực dinh dưỡng. Trứng tiếp tục phát triển thành
phôi, sau đó nở thành nòng nọc và thở bằng mang như cá.
2.1.5 Sinh trưởng và phát triển
Trứng thụ tinh sẽ nở sau 18 – 38 giờ. Nòng nọc phát triển 28 – 36 ngày biến
thái thành ếch con (lúc đầu nòng nọc xuất hiện hai chân sau, rồi hai chân trước, đuôi
cụt dần, mang teo dần rồi xuất hiện phổi, lúc đó nòng nọc biến thái và sống trên cạn)
và đạt kích cỡ thương phẩm khoảng 300 – 400 g/con sau bốn đến năm tháng nuôi

vào các mao mạch; còn CO
2
thải ra theo con đường ngược lại. Nếu da ếch thiếu nước,
bò khô ếch sẽ chết, ếch có thể sống tới 15 – 16 năm (Trần Kiên, 1996).
Ếch kém chòu rét và nóng, thích những nơi nước có nhiều lục bình và có nhiều
thức ăn thiên nhiên như: ruồi, muỗi, các loài ấu trùng, côn trùng,…
Da ếch có khả năng thay đổi màu sắc để phù hợp với môi trường sống, cũng là
cách ngụy trang để trốn tránh kẻ thù và rình bắt mồi.
2.1.6.2 Nhiệt độ và độ ẩm không khí
Ếch là động vật lưỡng cư, máu lạnh, thích khí hậu ấm áp, độ ẩm không khí cao,
có vực nước ngọt quanh năm. Nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của ếch là: 25 –
32
0
C, tối ưu là 28 – 30
0
C. Khả năng chòu đựng với sự biến đổi nhiệt độ cũng tương đối
cao, nhiệt độ càng cao hoặc càng thấp ếch đều giảm ăn.
Những ngưỡng nhiệt độ đối với sự sống của ếch (Trần Kiên, 1996):
- 9 -
- Nhiệt độ tử vong thấp: 0
0
C;
- Nhiệt độ ếch lạnh cóng: 8 – 9
0
C;
- Nhiệt độ bò tê liệt vì nóng: 40
0
C;
- Nhiệt độ tử vong cao: 50
0

giờ 30’ và 16 giờ – 19 giờ. Sự nghỉ ngơi của nòng nọc thể hiện là chúng nằm sâu trong
ao, đáy bể, bơi lội chậm và tập trung thành từng đám ở gần bờ hoặc ẩn dưới rễ của
bèo, rau muống,…
2.1.7 Tập tính ăn
Ngoài thức ăn tự nhiên như: ruồi, muỗi, trùn, dế, cào cào, mối, thiêu thân,…
ếch còn ăn các loài động vật như: cá, tôm, cua, tép, lươn,… và thực vật như: bột cám,
bột ngô, bột ngũ cốc,… Khi còn nhỏ chúng rất thích ăn cám gạo, trùn chỉ, ốc, cua giã
nhỏ (có canxi giúp phát triển bộ xương). Sau khi biến thái thành ếch con, ếch thường
ngồi một chỗ quan sát con mồi di động, khi con mồi tiến lại gần, ếch ngóc đầu lên và
phóng lưỡi ra đớp lấy con mồi. Chúng có thể nuốt được con mồi rất to tương đương với
cơ thể chúng.
Theo Việt Chương (2004), ếch có tập tính ăn thòt lẫn nhau nên khi chúng đói
hoặc quá đói thì xảy ra hiện tượng ăn nhau, con lớn nuốt con bé, đôi khi đồng cỡ cũng
ăn nhau.
Ngày nay, con người đã thuần dưỡng được ếch ăn được thức ăn công nghiệp và
kỹ thuật nuôi ếch với thức ăn công nghiệp hiện đang phổ biến rộng khắp cả thế giới.
2.2 Sơ Lược về Thành Phần Dinh Dưỡng Các Loại Thức Ăn của Ếch
Trong giai đoạn đầu khi tiêu hết noãn hoàng, nòng nọc bắt đầu ăn Moina tiếp
đó là trùn chỉ với lượng trùn chỉ tăng dần rồi được bổ sung bột cám; sau đó cho ăn thức
ăn viên hoặc mồi di động.
2.2.1 Thức ăn tự nhiên (mồi di động)
Do thò lực kém nên ếch có thói quen ăn mồi ở dạng di động nghóa là mồi phải
chuyển động như bay, nhảy trước mắt nó thì nó mới thấy mà vồ chụp. Còn những mồi
chết nằm bất động dù ngay trước miệng ếch cũng đành chòu đói mà thôi.
Trong tự nhiên các loài như: châu chấu, cào cào, dế, cuốn chiếu, tôm, cua, giun
đất,… là loại thức ăn khoái khẩu của ếch, có thành phần dinh dưỡng và đạm cao.
2.2.2 Moina
- 11 -
Moina là nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng, kích cỡ phù hợp với miệng nòng nọc
ở những ngày đầu. Moina là mồi động nên rất thích hợp cho sự bắt mồi của nòng nọc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status