TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
KHOA SINH- KTNN
NHÓM 1 TỔ 4 – LỚP NÔNG HỌC B K31
BÀI THẢO LUẬN
MÔ HÌNH NUÔI THƯƠNG PHẨM
CÁ TRẮM ĐEN
GVHD, Võ Văn Chí
Quy Nhơn, tháng 2 năm 2011
Phần I: ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ TRẮM ĐEN
1. Nguồn gốc, phân bố:
Tên chính thức: Mylopharyngodon pineus (Richardson, 1846).
Cá sống chủ yếu ở vùng hạ lưu và thường đẻ ở vùng trung lưu các sông
lớn như sông Hồng, sông Thái bình, sông Mã, sông Lam; cá có nhiều ở vùng
đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ. Giới hạn thấp nhất của loài cá này là
sông Lam -Nghệ an(Nguyễn Thái Tự, 1983).
Trên thế giới: Cá có từ Hắc long giang, Trung quốc đến Bắc Việt nam.
Đàn cá hiện nay đang lưu giữ gồm 20 con.
2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo:
Thân dài, gần tròn, đầu vừa phải, phần cuống đuôi dẹp bên. Mắt bé so với
đầu, ở hai bên đầu. Khoảng cách 2 ổ mắt rộng. Mõm hơi nhọn, ngắn. Miệng
hướng về phía trước hình móng ngựa. Xương hàm trên và xương hàm dưới
bằng nhau. Rãnh sau môi đứt quãng ở giữa. Lỗ mũi hơi lớn và gần mắt hơn
mõm. Màng mang rộng liền với eo. Lược mang thưa ngắn. Răng hình cối
nghiền.
Vây lưng có khởi điểm tương đương với khởi điểm vây bụng, gần gốc
vây đuôi hơn mút mõm, viền sau bằng hoặc hơi lồi. Các vây đều không có
gai cứng. Vây ngực chưa đạt tới vây bụng. Vây bụng chưa đạt tới vây hậu
môn. Vây đuôi phân thuỳ sâu, hai thuỳ bằng nhau. Hậu môn nằm sát gốc vây
hậu môn.
Đường bên hoàn toàn đi vào giữa thân và giữa cán đuôi. Vẩy to, xếp chặt
Giá trị bảo tồn, lưu giữ
Trước đây người dân thường vớt cá bột ngoài tự nhiên và nuôi trong ao,
hồ, đầm vùng đồng bằng. Cá ăn động vật đáy chủ yếu là nhuyễn thể, kích
thước tối đa lớn, thịt cá có thơm ngon, có giá trị thương phẩm cao. Gần đây
cá trắm đen được nuôi để diệt ốc bươu vàng trong các đầm, hồ, ao, ruộng.
Hiện nay, Cá trắm đen được ghi trong sách Đỏ Việt Nam, đang có nguy
cơ diệt chủng ở mức độ V. Sản lượng cá trong các vực nước tự nhiên giảm
sút nghiêm trọng do vậy cần được bảo vệ và tái tạo để phục hồi và phát triển.
Phần II: KỸ THUẬT NUÔI THƯƠNG PHẨM CÁ
TRẮM ĐEN
I. CHUẨN BỊ AO NUÔI:
Chúng ta có thể sử dụng ao có sẵn hoặc ao mới đào để nuôi Trắm đen.
Diện tích và hình dạng ao tùy thuộc vào điều kiện của từng gia đình, có thể
từ vài trăm m
2
đến vài mẫu, nhưng tốt nhất chọn ao hình chữ nhật, có diện
tích từ 1000-3000m
2
, độ sâu nước từ 2–2,5m. Những ao này sẽ thuận lợi cho
chăm sóc và thu hoạch cá.
1. Vị trí ao nuôi:
Ao gần nguồn nước sạch để thuận tiện cho việc cấp nước khi cần và gần
hệ thống thoát để hạn chế chi phí khi thay nước và khi thu hoạch.
Ao ở nơi thoáng để ao có thể tiếp nhận được nhiều ánh sáng mặt trời giúp
cho các sinh vật là thức ăn cho cá lúc nhỏ có thể phát triển tốt.
2. Bờ ao
Chắc chắn không dò dỉ nước, không có hang hốc. Với ao mới đào tránh
sạt lở bờ. Độ cao của bờ ao cần cao hơn mức nước cao tối đa 0,5-0,6m .
Trên bờ không nên trồng các cây có tán che phủ lớn vì lá cây rụng xuống