NGHIÊN cứu THÀNH PHẦN hóa học cây NIỆT GIÓ - Pdf 20

ĐẶT VẤN ĐỀ
Điều kiện tự nhiên ưu đãi cho đất nước và con người Việt Nam một hệ sinh thái phong
phú và đa dạng, có tiềm năng to lớn về tài nguyên cây thuốc. Theo ước đoán hệ thực vật ở
Việt Nam có khoảng 12.000 loài, trong đó có 3.948 loài thực vật bậc cao, bậc thấp và nấm
lớn được dùng làm thuốc [10]. Đó là nguồn tài nguyên quý chưa được khai thác hết tiềm
năng. Cùng với đó, xu hướng sử dụng thuốc có nguồn gốc từ cây cỏ đã đặt ra yêu cầu cần
phải đẩy mạnh nghiên cứu để tiêu chuẩn hóa nguồn dược liệu, bào chế các dạng thuốc mới
từ thảo mộc đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân.
Sự tăng cường thu mua niệt gió với số lượng lớn của các thương gia Trung Quốc (ước
tính hàng vài chục tấn mặc dù đây chỉ là loài cây mọc hoang) khiến ta đặt ra câu hỏi tại
sao? Niệt gió (Wikstroemia indica C.A.Mey.) thuộc họ Trầm (Thymelaeaceae) mọc hoang
khắp nơi ở các vùng rừng núi nước ta. Trong dân gian, người ta sử dụng vỏ rễ và vỏ thân
để chữa tuyến lâm ba kết hạch, hen suyễn, ho gà, viêm amidan, viêm tuyến mang tai; lá
tươi đắp chữa đinh nhọt, sưng tấy, vết thương, rắn cắn [6], [9]. Cho đến nay thế giới đã có
một số công trình nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của niệt gió và phát
hiện khả năng kháng HIV-I, viêm gan B, chống sốt rét và ung thư [5], [19], [33].
Mặc dù vậy ở nước ta có rất ít nghiên cứu về loài này. Do đó cần có những nghiên
cứu sâu hơn về thành phần hóa học cũng như hoạt tính sinh học của các bộ phận của cây
niệt gió. Bước đầu, chúng tôi thực hiện đề tài: “Bước đầu nghiên cứu thành phần hóa
học cây niệt gió (Wikstroemia indica C.A.Mey)”. Kết quả nghiên cứu này sẽ là cơ sở
khoa học, tiền đề tạo ra chế phẩm thuốc hoặc thực phẩm chức năng hỗ trợ điều trị viêm
đường hô hấp, lao, ung thư để đưa vào ứng dụng một nguồn dược liệu sẵn có ở nước ta
Mục tiêu của đề tài:
-Phân lập 3-5 chất từ cây niệt gió
-Đào tạo cán bộ nghiên cứu mới
-Đào tạo sinh viên đại học
- Viết 1 bài báo trên tạp chí chuyên ngành
Nội dung nghiên cứu:
-Phân tính định tính các lớp chất
- Chiết tách, phân lập các chất
- Xác định cấu trúc hóa học các chất phân lập được

Còn gọi là: Dó niết Ấn, dó cành, gió niệt, gió cánh, gió miết, gió tin thảo, sơn miên bì,
địa ba ma, độc ngư đằng, gió cảnh.
Tên khoa học: Wikstroemia indica (L.) C. A. Mey
3
Tên khác: Daphne cannabina Lour, Wikstroemia viridiflora Meisn., Wikstroemia
indica var viridiflora Hook.f. [6], [7], [10].
 Đặc điểm thực vật:
Theo các tài liệu: [7], [39], [10], [6]:
Niệt gió là cây bụi, mọc sum sê, quanh năm xanh tươi, cao 0,3-0,6m (1m), mang nhiều
cành gầy, màu đỏ nhạt, nhiều khi mọc đối, có những sẹo lá nổ rõ lên.
Lá mọc đối, phiến lá mỏng, hình trứng thuôn, dài 3-4cm, rộng 1- 2 cm, hai đầu tù hay
hơi nhọn, hai mặt nhẵn, mặt trên màu lục sẫm, mặt dưới nhạt; cuống rất ngắn.
Hoa màu vàng lục mọc thành chùm ở đầu cành hay thành bông rất ngắn (0,5-1cm).
Cuống hoa dài 1-2mm. Đài màu xanh lá, hình ống hơi phình ở họng, chia 4 răng dài ngắn
không đều; tràng 0; nhị 8, xếp thành 2 hàng dọc trên ống đài, chỉ nhị rất ngắn; bầu có 1 ô,
có ít lông ở đỉnh. Quả mọng khi chín có màu đỏ tươi hình trứng, kèm theo vết tích của bao
hoa, phần cơm hơi dầy. Hạt có vỏ mỏng và mềm, vỏ trong cứng và đen nhạt. Mùa hoa:
tháng 5-9. Mùa quả: tháng 6-12.
 Phân bố:
Việt Nam: Mọc hoang khắp nơi núi rừng, bụi bờ nước ta, từ vùng núi thấp đến các
tỉnh Trung du Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ [7].
Thế giới: Mọc nhiều ở ngọn đồi, núi đá dốc, nơi có nhiều cây bụi, độ cao dưới 1500
m. Phân bố chủ yếu ở Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Hải Nam, Hồ
Nam, Tứ Xuyên, Đài Loan, Vân Nam, Chiết Giang, Ấn Độ, Malaysia, Myanma, Philippin,
Thái Lan, Việt Nam, Úc, quần đảo phía đông, nam Thái Bình Dương, Mauritius, Sri Lanka
[39].
1.2. THÀNH PHẦN HÓA HỌC
Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng W. indica có chứa các thành phần có hoạt tính
sinh học phong phú bao gồm cả flavonoid, biflavonoid, coumarin, lignan, acid béo và
polysaccharid. Trong đó thành phần hóa học đặc trưng của cây này là biflavonoid.

H OCH
3
H H
(4) 6-deoxy-α-L-
manopyranosyl(1→6)
-β-D-glucose
OH OH H OH H H
(5) H O-β-D-xylose
(1→6)-β-D-
glucose
OCH
3
H OH H H
(6) 6-deoxy- α
-L-manopyranosyl
OH OCH
3
H OH H H
(7) H OCH
3
OH H OH H H
(8) H OH OCH
3
H OH H H
(9) H O-β-D-glucose
(1→6)-β-D-
glucose
OCH
3
H OH H H

1
R
2
R
3
R
4
(20) O-7-
pyranocoumarin
OCH
3
OH H
(21) O-7-
pyranocoumarin
OCH
3
O-β-D-glucosid H
(22) H H O-7-(6-OH)-
Pyranocoumarin
H
(23) H H OH 6-(O-7-OH)-
pyranocoumarin
(24) O-7-
pyranocoumarin
H OH H
(25) H O-7-
pyranocoumarin
OH H
Hình 1.3. Một số coumarin phân lập từ niệt gió
Trong đó, daphnoretin (20) được xem như thành phần chính trong tác dụng ức chế

8
26 28
27 29
38
36
37
Hình 1.4. Một số hợp chất khác phân lập từ niệt gió
1. 3. TÁC DỤNG SINH HỌC VÀ TÁC DỤNG TRÊN LÂM SÀNG
W.indica đã được chứng minh có nhiều tác dụng dược lý như kháng khuẩn, kháng
virus, kháng viêm, ức chế khối u, chống sốt rét và chống dị ứng.
1.3.1. Tác dụng kháng khuẩn
Nước sắc W. indica có hoạt tính kháng khuẩn phụ thuộc vào nồng độ, kháng lại 4 loại
vi khuẩn thử nghiệm là Escherichia coli, Staphylococcus aureus, Bacillus subtilis, Sarcina
lutea với giá trị MIC tương ứng là 156, 78, 78 và 39 (mg/ml); giá trị MBC tương ứng là
312, 156, 156 và 78 (mg/ml) [28]. Khả năng kháng khuẩn của W. indica cũng được thể
hiện rõ rệt ở chế phẩm chứa 4,01g bột thô [12].
1.3.2. Tác dụng kháng virus
9
W. indica có tác dụng ức chế đáng kể trên một số virus như virus cúm, virus viêm gan
B và HIV-1 [15], cao chiết từ W. indica có khả năng ức chế trực tiếp lên virus cúm (type 1)
[25]. Arctigenin (28), và daphnoretin (20) trong niệt gió cho thấy tác dụng ức chế hoạt
động của virus HIV-1 [15, 25]. Năm 1996, Chen và cộng sự đã chứng minh daphnoretin là
chất hoạt hóa protein kinase C và có tác dụng ức chế mạnh lên virus hepatitis B (HBV)
trong tế bào gan của người [11]. Các hợp chất 4'- methoxydaphnodorin E (16) và
daphnoretin (20) có khả năng ức chế mạnh virus hợp bào hô hấp (RSV) với giá trị IC
50
tương ứng là 2,8 μg/ml [36] và 5,87 μg/ml [34].
1.3.3. Tác dụng chống sốt rét
Trong khảo sát in vitro sàng lọc các thảo dược có tác dụng chống sốt rét, cao chiết n-
butanol từ rễ của W. indica cho thấy có tác dụng ức chế đáng kể ký sinh trùng sốt rét.

rệt (P <0,05). Sự ức chế của daphnoretin có thể liên quan đến quá tải canxi trong tế bào
[29].
Nước sắc W. indica cho thấy tác dụng ức chế mạnh trên khối u sarcoma lymphotic (L-
1) dạng cổ trướng và khối u cổ trướng Ehrlich ở chuột với tỷ lệ tương ứng 45,4% và 97%.
Dịch nước sắc này cũng ức chế rõ rệt tế bào ung thư cổ tử cung và ung thư bạch cầu trên
chuột [18].
Các thành phần có hoạt tính sinh học như wikstroemin (9), matairesinol (26) và
arctigenin (28) có tác dụng chống ung thư bạch cầu. Đồng thời, các flavonoid từ W. indica
cũng có khả năng chống ung thư bạch cầu hiệu quả [15].
Các polysaccharid có trong W. indica có tác dụng kích thích rõ ràng đến tế bào tạo
máu ở cả hai loại bình thường và mang khối u của chuột (làm tăng số lượng tủy xương
GM-CFU-C). Ngoài ra, polysaccharid từ W. indica còn có tác dụng ngăn ngừa tác hại của
tia bức xạ [9].
1.3.6. Ảnh hưởng trên hệ sinh dục
Các este diterpen từ Thymelaeaceae được đánh giá là có khả năng gây sảy thai [28].
Dịch chiết ether dầu từ rễ W.indica có tác dụng trên cơ quan sinh sản khi thí nghiệm trên
chuột, chó và khỉ. Liều có tác dụng tương ứng là từ 50-100; 0,5 và 0,05-0,06 mg/kg.
Không có thay đổi bất thường nào được phát hiện trong trọng lượng cơ thể, mức thẩm thấu
hồng cầu cũng như chức năng gan, thận của các động vật được thí nghiệm. Cũng theo thí
nghiệm trên, stigmast-5-en-3β,7α-diol (36) được xác định là thành phần có thể gây sảy thai
khi mang thai trong ba tháng giữa của thai kỳ [32].
1.3.7. Thúc đẩy ung thư
Mặc dù nhiều thành phần trong W. indica có hoạt tính ức chế khối u, một số chất lại có
khả năng thúc đẩy sự phát triển của khối u. Dịch chiết ether của W. indica gây cảm
ứng trên kháng nguyên sớm của virus Epstein-Barr (EB) và thúc đẩy sự đột biến các tế bào
lympho gây ra bởi virus EB [31]. Dịch chiết nước cũng có tác dụng thúc đẩy ung thư biểu
11
mô mũi họng và ung thư cổ tử cung ở chuột gây ra bởi methylcholanthren và virus herpes
simplex [22].
1.3.8. Độc tính và tác dụng phụ

Nhóm
đối
chứng
(số ca)
Thời
gian
(ngày)
Tỉ lệ có tác
dụng ở
nhóm
điều trị
(%)
Tỉ lệ có tác
dụng ở
nhóm đối
chứng
(%)
Tỉ lệ khỏi
hẳn
ở nhóm
điều trị
(%)
Cúm 50 3-4 92
Nhiễm trùng đường hô hấp
trên
84 47 91,81 78,72
Viêm amidan 150 7 92,00 62
Viêm phế quản cấp 64 33 89,06 72,74
viêm phế quản mãn 52 46 30 90,38 71,74
Viêm gan mạn 50 50 30 72,00 40,0

- Máy đo điểm chảy STUART
- Máy cất quay lớn BUCHI
- Máy cất quay nhỏ BUCHI
- Cột sắc ký, bình chiết quả lê, bình nón, bình cầu, cốc có mỏ, ống nghiệm, pipet
pasteur, phễu lọc Buchner.
- Đèn tử ngoại (UV)
- Máy đo phổ hồng ngoại IMPAC 410-NICOLET FT-IR
- Máy đo phổ cộng hưởng từ hạt nhân BRUCKER AVANCE-500 MHz.
 Hóa chất
Các hóa chất sử dụng trong nghiên cứu đạt tiêu chuẩn tinh khiết thích hợp:
14
- Dung môi: MeOH, ethanol, n-hexan, aceton, dicloromethan, chloroform, EtOAc… và
các thuốc thử.
- Silicagel cho sắc ký cột (0,04-0,063 mm, Merck).
- Bản mỏng silicagel tráng sẵn (MERCK): Pha thuận (Silica gel 60 F
254
) và pha đảo
(Silica gel 60 RP-18 F
254
s) hoạt hóa trong tủ sấy ở nhiệt độ 105-110◦C trong 60 phút.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1.Định tính các nhóm chất hữu cơ có trong thân cây niệt gió: Sử dụng các phản ứng
tạo màu, phản ứng đặc trưng trong ống nghiệm với các thuốc thử chung của từng
nhóm chất để phát hiện sự có mặt của các nhóm chất trong dược liệu (theo các tài
liệu [1], [2], [3]).
2.2.2.Định lượng tổng các chất chiết được trong các phân đoạn:
- Tạo cắn tổng bằng phương pháp ngâm với ethanol 95
0
.
- Chiết trên bình gạn với các dung môi thích hợp để thu được các phân đoạn dịch

15
Chương 3. THỰC NGHIỆM
3.1. Định tính các nhóm chất hữu cơ bằng phản ứng hóa học
Thân cây niệt gió được chiết bằng các dung môi thích hợp để thu được các nhóm chất, sau
đó tiến hành loại tạp và làm giàu nhóm chất bằng các phương pháp khác nhau, dùng các thuốc
thử, phán ứng hóa học đặc trưng để xác định sự có mặt của các nhóm chất.
- Định tính alcaloid: Sử dụng phản ứng với thuốc thử chung: TT. Mayer, TT. Dragendorff,
TT. Bouchardat của alcaloid.
- Định tính flavonoid: Phản ứng Cyanidin, phản ứng với kiềm, phản ứng với dd. FeCl
3
5%.
- Định tính saponin: Hiện tượng tạo bọt.
- Định tính glycosid tim: Phản ứng Liebermann-Burchard, phản ứng Baljet, phản ứng
Legal, phản ứng Keller- kiliani.
- Định tính coumarin: Phản ứng mở đóng vòng lacton, phản ứng Diazo hóa.
- Định tính tanin: Phản ứng với dd. FeCl
3
5%, chì acetat 10%, dung dịch gelatin1%.
- Định tính anthranoid: Phản ứng Borntrager.
- Và định tính một số nhóm chất khác: Acid hữu cơ, đường khử, chất béo, hợp chất steroid,
acid amin
Bảng 3.1. Kết quả định tính các nhóm chất hữu cơ trong thân cây niệt gió bằng phản ứng
hóa học
TT Nhóm chất Phản ứng định tính Kết quả Kết luận
1 Alcaloid
Phản ứng với TT. Mayer -
KhôngPhản ứng với TT. Dragendorff -
Phản ứng với TT. Bouchardat -
2 Flavonoid
Phản ứng Cyanidin +++

3
+ Có
9 Đường khử Phản ứng với TT Fehling ++ Có
10 Acid amin Phản ứng với TT Ninhydrin +++ Có
11 Polysaccharid Phản ứng với TT Lugol ++ Có
12 Caroten Phản ứng với H
2
SO
4
đặc - Không
13 Chất béo Vết mờ trên giấy lọc - Không
14 Steroid Phản ứng Liebermann ++ Có
Ghi chú : (-) âm tính, (+) dương tính. (++) dương tính rõ, (+++) dương tính rất rõ.
Nhận xét: Kết quả định tính bằng phản ứng hóa học ta thấy thân cây Niệt gió có chứa
flavonoid, coumarin, acid hữu cơ, đường khử, acid amin, anthranoid, polysaccharid, hợp chất
steroid và không chứa alcaloid, glycosid tim, saponin, tannin, chất béo.
3.2. Điều chế các phần chiết từ cây niệt gió
3 kg dược liệu khô được ngâm với cồn 90% ở nhiệt độ phòng (3 lần, mỗi lần 3 ngày). Các
dịch chiết được gộp lại và cất loại cồn nước dưới áp suất giảm thu được cặn chiết tổng
(190,55 g). Cặn chiết này được phân bố lại lần lượt trong các dung môi có độ phân cực tăng
dần: n-hexan, dichlomethan, ethyl acetat; cất loại hết dung môi dưới áp suất giảm thu được
các phần cặn chiết tương ứng n-hexan (17,79 g), dichlomethan (50,99 g), ethyl acetat (37,75
g). Cất kiệt dịch nước còn lại dưới áp suất giảm ở 80°C cho phần chiết nước.
3.3. Phân tích, phân tách các phần chiết
3.3.1. Phần chiết n-hexan
Phân tích phần chiết n-hexan (WIH) bằng TLC
Dùng capila đưa chất lên bản mỏng tráng sẵn DC Aluflolien 60F
254
Merck. Sau đó
khảo sát sắc kí lớp mỏng trong các hệ dung môi sau: n-hexan/ axeton; n-hexan/ etyl axetat.

• Một số vệt màu hồng khi phun với axit H
2
SO
4
10%, t
0
có hàm lượng tương đối
phù hợp với việc phân tách.
Phân tách phần chiết n-hexan (WIH) bằng sắc ký cột silica gel
Chuẩn bị mẫu: dùng 30 ml silica gel để tẩm 15 g cặn n-hexan. Hòa tan cặn bằng
aceton, rồi dùng công tơ hút nhỏ từ từ dung môi lên silica gel. Đợi dung môi bay bớt dùng
18
chày sứ trộn đều cho đến khi slica gel tơi ra. Tiếp tục tẩm chất lên silica gel, trộn đều. Quá
trình lặp đi lặp lại nhiều lần cho đến khi tẩm hết mẫu và silica gel tơi ra có màu xanh thẫm.
Chuẩn bị cột sắc kí:
Lấy 155 ml silica gel (cỡ hạt 63-100 µm), cho vào cốc, đổ dung môi n-hexan vào, khuấy
cho hết bọt khí rồi nhồi vào cột, dùng quả bóp cao su gõ nhẹ đến khi trong cột hết bọt khí,
dùng đũa thủy tinh dàn đều mặt cột, sau đó đưa hỗn hợp bột tẩm chất lên cột, cho lên thêm ít
bông để tránh khuếch tán ngược. Giải hấp phụ gradien bằng hệ dung môi n-hexan-aceton với
các tỷ lệ 100:1, 20:1, 10:1, 9:1, 4:1, 3:1 và 2:1 , sau khi khảo sát sắc kí lớp mỏng đã thu được
10 nhóm phân đoạn gồm các chất có giá trị R
f
gần như nhau kí hiệu từ H1- H10.Nhóm phân
đoạn H2 (1,02 g) được tinh rửa bằng n-hexan rồi kết tinh lại trong hệ dung môi n-hexan: ethyl
acetat thu được tinh thể hình kim màu trắng ký hiệu là chất 1 (30 mg). Nhóm phân đoạn H7
(0,32 g) được rửa bằng methanol cho các tinh thể hình kim màu vàng ký hiệu là chất chất 2
(17 mg).
3.3.2 . Phần chiết dichlomethan
Phân tích phần chiết dichlomethan (WID) bằng TLC
Hòa tan phần chiết dichlomethan bằng axeton. Dùng capila đưa chất lên bản mỏng

2
SO
4
10%, t
0
có hàm lượng tương đối
phù hợp với việc phân tách.
20
Phân tách cặn chiết dichlomethan bằng phương pháp sắc kí cột.
Chuẩn bị mẫu: dùng 90 ml silica gel để tẩm 30 g cặn dichlomethan. Hòa tan cặn bằng
hệ dichlomethan/ MeOH, rồi dùng công tơ hút nhỏ từ từ dung môi lên silica gel. Đợi dung
môi bay bớt dùng chày sứ trộn đều cho đến khi slica gel tơi ra. Tiếp tục tẩm chất lên silica gel,
trộn đều. Quá trình lặp đi lặp lại nhiều lần cho đến khi tẩm hết mẫu và silica gel tơi ra có màu
vàng nâu.
Chuẩn bị cột sắc kí:
Lấy 500 ml silica gel (cỡ hạt 63-100 µm), cho vào cốc, đổ dung môi dichlomethan
vào, khuấy cho hết bọt khí rồi nhồi vào cột, dùng quả bóp cao su gõ nhẹ đến khi trong cột hết
bọt khí, dùng đũa thủy tinh dàn đều mặt cột, sau đó đưa hỗn hợp bột tẩm chất lên cột, cho lên
thêm ít bông để tránh khuếch tán ngược. Giải hấp phụ gradien bằng hệ dung môi
dichlomethan/ metanol 100:1, 20:1, 16:1, 10:1, 8:1 và 4:1 (v/v), sau khi khảo sát sắc kí lớp
mỏng đã thu được 12 nhóm phân đoạn kí hiệu từ D1-D12. Nhóm phân đoạn D6 (5,07 g) được
rửa bằng n-hexan:aceton (7:1) thu được tinh thể hình kim màu vàng chanh ký hiệu là chất 3
(1,35 g). Nhóm phân đoạn D8 (2,18 g) được rửa bằng aceton rồi kết tinh lại trong hệ
dichlomethan-methanol (1:1) thu được bột vô định hình màu trắng ký hiệu chất 4 (48 mg).
Nhóm phân đoạn D11 (1,35 g) được tinh chế bằng Mini-C trên gel (40-63 µm) với hệ dung
môi dichlomethan-methanol (6:1) thu được tinh thể hình vảy màu trắng ngà, ký hiệu chất 5
(21 mg).
3.4. Đặc trưng vật lý và dữ kiện phổ của các hợp chất được phân lập
Chất 1 (β-sitosterol): Tinh thể hình kim màu trắng, kết tinh lại trong hệ dung môi n-
Hexan: EtOAC (8:2,v/v), nhiệt độ nóng chảy 133-135°C. Hiện màu tím đậm với thuốc hiện

4), 6,88 (1H, s, H-5), 6,93 (1H, s, H-8), 6,34 (1H, d, J= 9,5 Hz, H-3’), 7,75 (1H, d, J= 9,5 Hz,
H-4’), 7,50 (1H, d, J= 3,0 Hz, H-5’), 7,02 (1H, dd, J= 6,5, 8,5 Hz, H-6’), 6,96 (1H, d, J= 2,5
21
Hz, H-8’, 3,93 (3H, s, OCH
3
).
13
C-NMR (125 MHz, CDCl
3
&MeOD): δ (ppm) 159,5 (C-2),
136,4 (C-3), 130,0 (C-4), 107,8 (C-5), 145,7 (C-6), 147,7 (C-7), 104,8 (C-8), 150,2 (C-8a),
114,1 (C-4a), 161,1 (C-2’), 113,8 (C-3’), 143,4 (C-4’), 129,2 (C-5’), 110,2 (C-6’), 157,8 (C-
7’), 103,1 (C-8’), 155,1 (C-8’a), 114,6 (C-4’a), 56,1 (6-OCH
3
).
Chất 4 (daucosterol): chất bột vô định hình, màu trắng, ít tan trong axeton,
dichlomethan, metanol, tan trong hệ dung môi dichlomethan/ metanol, có điểm nóng chảy
296-298
0
C; trên SKLM không hiện màu dưới UV, có màu đỏ tím với dung dịch H
2
SO
4
10%,
hơ nóng.
Chất 5 (ombuin): m.p.230-232°C.
l
H-NMR (500 MHz, DMSO) δ ppm: 12.44 (1H,
brs, OH-5), 9,54 (brs, OH-3), 9,29 (brs, OH-3’), 7,71 (1H, d, J= 2,5 Hz, H-2’), 7,69 (1H, dd,
J= 2,0, 8,5 Hz, H-6'), 7.09 (1H, d, J= 8,5 Hz, H-5'), 6,72 (1H, d, J= 2,0 Hz, H-8), 6,35(1H, d,

Cặn
dichlomethan
Dịch cồn
nước
Dịch
EtOAc
Cặn
EtOAc
Nguyên liệu
Dịch tổng
Cặn tổng cồn
Ngâm cồn 90%, 3 lần,
mỗi lần 3 ngày
23
Bảng 4.1. Hiệu suất các phần chiết từ cây niệt gió
STT Phần chiết Khối lượng (g) Hiệu suất (%)*
1 n-Hexan 17.79 0.59
2 Dichlomethan 50.99 1.70
3 Etyl axetat 37.75 1.26
4 Cặn tổng 190,55 6,35
* Tính theo khối lượng mẫu khô ban đầu.
4.2. PHÂN TÁCH CÁC PHẦN CHIẾT
4.2.1. Phần chiết n-hexan
Phân tách cặn n-hexan (15 g) bằng sắc ký cột silica gel với hệ dung môi rửa giải
gradient n-hexan-aceton với các tỷ lệ 100:1, 20:1, 10:1, 9:1, 4:1, 3:1 và 2:1 thu được 10 nhóm
phân đoạn kí hiệu từ H1- H10. Nhóm phân đoạn H2 (1,02 g) được tinh rửa bằng n-hexan rồi
kết tinh lại trong hệ dung môi n-hexan: ethyl acetat thu được tinh thể hình kim màu trắng ký
hiệu là chất 1 (30 mg). Nhóm phân đoạn H7 (0,32 g) được rửa bằng methanol cho các tinh thể
hình kim màu vàng ký hiệu là chất chất 2 (17 mg).
4.2.2. Phần chiết dichlomethan

phân tách các thành phần của nó. Việc khảo sát được thực hiện trên bản mỏng silica gel với
các hệ dung môi và nhận thấy phần chiết này khá phức tạp. Sự phân tách trong hệ CH
2
Cl
2
/
MeOH (9/1) cho kết quả tách tốt nhất (xem bảng 5, phần thực nghiệm).
Phân tách cặn dichlometan (30 g) bằng sắc ký cột silica gel với hệ dung môi rửa giải
gradient dichlomethan/ metanol 100:1, 20:1, 16:1, 10:1, 8:1 và 4:1 (v/v) thu được 12 nhóm
phân đoạn kí hiệu từ D1-D12. Nhóm phân đoạn D6 (5,07 g) được rửa bằng n-hexan:aceton
(7:1) thu được tinh thể hình kim màu vàng chanh ký hiệu là chất 3 (1,35 g). Nhóm phân đoạn
D8 (2,18 g) được rửa bằng aceton rồi kết tinh lại trong hệ dichlomethan-methanol (1:1) thu
được bột vô định hình màu trắng ký hiệu chất 4 (48 mg). Nhóm phân đoạn D11 (1,35 g) được
tinh chế bằng Mini-C trên gel (40-63 µm) với hệ dung môi dichlomethan-methanol (6:1) thu
được tinh thể hình vảy màu trắng ngà, ký hiệu chất 5 (21 mg). Nhóm phân đoạn D12 (4,89 g)
được tinh chế bằng Mini-C trên gel (40-63 µm) với hệ dung môi dichlomethan-methanol (3:1)
thu được tinh thể hình hạt tròn, ký hiệu chất 6 (40 mg).
25
4.3. CẤU TRÚC MỘT SỐ CHẤT PHÂN LẬP
Hợp chất 1, 4 được nhận dạng trên cơ sở so sánh TLC và co-TLC với chất chuẩn β-sitosterol,
daucosterol.
Chất 3: Tinh thể hình kim màu vàng chanh, ít tan trong aceton, dichlomethan,
methanol, tan trong hệ dung môi dichlomethan/ methanol, điểm nóng chảy 253-254
0
C. R
f
=
0.75 trong hệ dichlomethan/aceton = 10/1; trên SKLM hiện màu vàng, nhanh mất màu với
dung dịch H
2

C
161,1 (C-2

); bên cạnh đó còn
WID (30g)
D1
1,15 g
D6
5,07 g
D8
2,18g
Sơ đồ 4.3. Phân tách phần chiết dichlomethan
chất 3:
Tinh thể
hình kim
màu
vàng
chanh
(1,35g)
chất 4: bột vô
định hình màu
trắng (48 mg)
chất 5: tinh
thể hình vảy
trắng ngà
(21 mg)
D3
2,19 g
D5
3,21 g


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status