Trang 1 / 61
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Thế giới chúng ta đang chứng kiến một sự hội nhập mạnh mẽ về kinh tế
giữa các quốc gia với sự xuất hiện ngày càng nhiều các khu vực mậu dòch tự do
như Khu vực mậu dòch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực mậu dòch tự do ASEAN
(AFTA), Liên minh Châu Âu (EU),… Những khu vực mậu dòch tự do này không
những giúp cho nền kinh tế của các nước thành viên tăng trưởng, mà còn góp
phần thúc đẩy nền kinh tế thế giới phát triển.
Là một trong những yếu tố không thể thiếu của nền kinh tế, thò trường tài
chính cũng không ngừng phát triển và hoàn thiện hơn. Từ phạm vi quốc gia, thò
trường tài chính đã dần mở rộng sang phạm vi quốc tế. Nhờ thò trường tài chính
quốc tế mà vốn đã được luân chuyển một cách hợp lý và hiệu quả hơn.
Tuy nhiên, chúng ta lại đang chứng kiến sự độc tôn gần như toàn phần
trong thanh toán quốc tế của USD trên thế giới. Gần như mọi biến động của nó
cũng đều ảnh hưởng đến tình hình tài chính quốc tế. Qua thời gian, không biết từ
lúc nào, sự biến động của đồng USD đã được mọi người ví như là nhòp tim của
thò trường tài chính thế giới. Nó ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến thò
trường tài chính quốc nội của các quốc gia.
Trong những năm gần đây, với sự xuất hiện đồng EURO của Liên minh
tiền tệ Châu Âu, thò trường tài chính thế giới hứa hẹn có nhiều thay đổi. Khác
với đồng yen của Nhật Bản (JPY), hoặc đồng bảng của Anh (GBP), hay đồng đô
la của Úùc AUD, đồng EURO đã được các nước thành viên trong Liên minh tiền
tệ Châu Âu (EMU) sử dụng như là một đồng tiền chính thức. Không những thế,
đồng EURO cũng đã nhanh chóng mở rộng sang phạm vi quốc tế. Nó dường như
trở thành lối thoát mới cho các nước trước sự phụ thuộc quá lớn vào USD. Mặc
dù có nhiều biến động bất lợi cho EURO ngay từ những buổi đầu mới hình
Trang 2 / 61
thành, nhưng không có gì có thể phủ nhận rằng thế giới tài chính trong tương lai
sẽ không còn được thống trò hầu như hoàn toàn của USD, mà nó sẽ là một sự
biến của xu thế hình thành đồng ASEAN trên phạm vi thế giới. Đồng thời thông
qua mẫu hình tiền tệ EURO, để nhận thức được những gì mà ASEAN cần chuẩn
bò và cần thực hiện cho việc biến đồng ASEAN thành hiện thực. Bên cạnh đó,
căn cứ vào tình hình thực tế của Việt Nam, luận văn xác đònh nhu cầu và giải
pháp cho một sự gia nhập đồng ASEAN một cách hiệu quả và có lợi nhất.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn này sử dụng các phương pháp như phương pháp hệ thống,
phương pháp tổng hợp, phương pháp suy luận logic, phân tích, so sánh, thống
kê,… để phân tích tình hình thực hiện đồng tiền chung EURO, và triển vọng của
một đồng tiền chung ASEAN. Từ đó, tìm ra giải pháp tối ưu cho Việt Nam trong
việc đón nhận một xu hướng hợp tác kinh tế mới.
5. Kết cấu luận văn:
Luận văn này được sắp xếp thành ba phần gồm phần mở đầu, phần trọng
tâm (thân bài), và phần kết luận. Trong đó, phần trọng tâm được kết cấu theo
hướng gồm ba chương như sau:
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀØ ĐỒNG TIỀN CHUNG VÀ
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
CHƯƠNG II: ĐỒNG TIỀN CHUNG ASEAN TRONG SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA NỀN KINH TẾ KHU VỰC
CHƯƠNG III: NHỮNG GIẢI PHÁP CHO ASEAN VÀ VIỆT NAM ĐỂ
HƯỚNG TỚI MỘT ĐỒNG TIỀN CHUNG ASEAN
Trang 4 / 61
Mặc dù tác giả đã nỗ lực rất nhiều trong việc hoàn thành Luận văn này,
nhưng do thời gian và trình độ còn hạn chế nên luận văn có thể sẽ không tránh
khỏi những thiếu sót nhất đònh. Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến
chân thành từ Quý Thầy, Cô, và các bạn học viên.
Trang 5 / 61
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀØ ĐỒNG
Tiền tệ có 5 chức năng như sau:
I.1.2.1. Chức năng thước đo giá trò:
Đây là chức năng cơ bản nhất của tiền tệ. Chức năng này được thể hiện
thông qua việc tiền dùng để đo lường và biểu hiện giá trò cho các hàng hóa
khác, và chuyển giá trò hàng hóa thành giá cả hàng hóa.
Để thực hiện chức năng này, tiền tệ đòi hỏi phải có giá trò đầy đủ, có tiêu
chuẩn giá cả, và được thực hiện trong tư duy, ý niệm.
Việc chuyển giá trò hàng hóa thành giá cả của tiền tệ đã tạo ra mối tương
quan nghòch giữa giá trò tiền tệ và giá cả hàng hóa, đồng thời cho thấy rằng tiền
tệ là một công cụ đặc biệt quan trọng để thực hiện quy luật giá trò, quy luật phổ
thông của nền sản xuất hàng hóa.
I.1.2.2. Chức năng phương tiện lưu thông:
Chức năng này được thể hiện ở việc tiền được dùng làm phương tiện
trung gian cho quá trình trao đổi hàng hóa (H-T-H), và phương tiện để thực hiện
giá trò của hàng hóa.
Điều này thể hiện ở việc hàng hóa sẽ không được phép trao đổi trực tiếp
(H-H), mà trước tiên, giá trò của hàng hóa được biểu hiện thành giá trò tiền tệ
thông qua việc bán hàng hóa (H-T); rồi sau đó, hàng hóa được mua lại với giá trò
tương đương với giá trò tiền tệ (T-H).
Như vậy, tiền tệ không phải là mục đích của trao đổi, mà chỉ đóng vai trò
trung gian. Tuy nhiên, để tạo một sự lưu thông hàng hóa được mạch lạc, cần
thiết phải có một khối lượng tiền thật sự. Và tiền này cũng không nhất thiết phải
Trang 7 / 61
là tiền có đầy đủ giá trò như vàng, mà nó có thể được thay thế bằng các loại tiền
ký hiệu.
I.1.2.3. Chức năng phương tiện cất trữ:
Chức năng này được thể hiện ở việc tiền được đưa ra khỏi quá trình lưu
thông nhằm mục đích cất trữ, và sử dụng sau này.
Xuất phát từ khả năng có thể trực tiếp chuyển hóa thành bất kỳ một loại
cơ bản là thước đo giá trò và chức năng phương tiện lưu thông, thì không thể
phản ánh được nguồn gốc và bản chất của tiền tệ.
Tóm lại, 5 chức năng trên của tiền tệ không đứng đơn lẻ mà chúng có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trước tiên, tiền tệ thực hiện chức năng chuyển
giá trò hàng hóa thành giá cả. Khi đó, hàng hóa chính thức bước vào quá trình
lưu thông. Khi giá cả được thực hiện thì hàng hóa đã chuyển thành tiền. Số tiền
này có thể được cất trữ cho việc sử dụng trong tương lai, hoặc dùng để thanh
toán cho việc mua hàng hóa khác phục vụ cho nhu cầu sản xuất hoặc nhu cầu
tiêu dùng. Khi quá trình trao đổi hàng hóa vượt ra khỏi biên giới của một quốc
gia, thì cũng là lúc tiền tệ thực hiện chức năng của mình trong phạm vi thế giới.
I.1.3. Vai trò:
Tiền tệ là phương tiện không thể thiếu để mở rộng và phát triển kinh tế
hàng hóa. Thông qua chức năng thước đo giá trò, phương tiện lưu thông và
phương tiện thanh toán, việc trao đổi hàng hóa diễn ra thuận lợi và thống nhất
hơn. Nó góp phần giúp cho người sản xuất kinh doanh hạch toán được rõ ràng
chi phí và hiệu quả sản xuất mà họ thực hiện; đồng thời tiến hành tích lũy tiền
tệ để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh.
Trang 9 / 61
Tiền tệ là phương tiện để thực hiện và mở rộng các quan hệ quốc tế. Xuất
phát từ nhu cầu phát triển của nền kinh tế, thò trường quốc nội đã dần mở cửa
hướng ra thò trường thế giới lớn hơn thông qua con đường ngoại thương. Nhờ
ngoại thương, mà các chức năng thanh toán và chức năng tiền tệ thế giới của
tiền tệ đã phát huy triệt để vai trò của mình. Từ đó, mối quan hệ giữa các quốc
gia không chỉ đơn thuần về mặt kinh tế, mà còn lan sang các lónh vực khác như
chính trò, văn hóa, tôn giáo,…
Tiền tệ là một công cụ để phục vụ cho mục đích của chủ sở hữu. Khi mà
các quan hệ kinh tế – xã hội đều bò tiền tệ hóa thì cũng là lúc tiền tệ trở thành
công cụ để xử lý và giải quyết mọi mối quan hệ phát sinh cả trong phạm vi quốc
gia và quốc tế. Chính vì vậy, người chủ sở hữu tiền tệ có thể sử dụng nó để thỏa
quốc tế không chỉ bò hạn chế bởi các rào cản trực tiếp cũng như gián tiếp, mà
còn bò ảnh hưởng bởi yếu tố thò trường hối đoái và rủi ro của quốc gia đó. Tuy
nhiên, những hạn chế này ngày càng bò thu hẹp dần bởi tác động tích cực của
quá trình toàn cầu hóa tài chính mang lại. Lợi ích lớn nhất mà toàn cầu hóa tài
chính mang lại đó là tăng hiệu quả của nguồn vốn bằng cách chuyển chúng đến
nơi mà hứa hẹn nhiều lợi nhuận nhất trên thế giới. Từ đó giúp tăng trưởng kinh
tế toàn cầu, góp phần vào sự thònh vượng chung của thế giới.
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Nam Á vào năm 1997 bắt đầu ở
Thái Lan đã làm cho tiến trình toàn cầu hoá của thò trường tài chính chậm lại,
đặc biệt là ở khu vực Đông Nam Á. Điều này xuất phát từ sự quản lý nguồn vốn
quốc tế không hiệu quả của các nước. Cụ thể là tình trạng bùng nổ cho vay, sử
dụng những nguồn vốn ngắn hạn đầu tư cho mục đích dài hạn, rồi sự hình thành
quả “khinh khí cầu bất động sản”. Thêm vào đó, với sự quản lý kém linh hoạt
Trang 11 / 61
trong cơ chế tỷ giá hối đoái, đồng tiền của các quốc gia này đã lần lượt sụt giá.
Điều này cho thấy sự hội nhập vào nền tài chính thế giới không chỉ giúp gia
tăng lợi nhuận của những chính sách tốt, mà còn góp phần thúc đẩy chi phí của
các chính sách tồi phát sinh nhiều hơn.
I.3. Sự hình thành đồng EURO đối trọng với đồng USD:
I.3.1. Sự mở rộng của Liên minh Châu Âu (EU):
Ngày 01/05/2004, EU chính thức đánh dấu sự mở rộng của mình bằng
việc kết nạp thêm 10 thành viên mới, nâng tổng số thành viên EU lên đến con
số 25. Để có được sự rộng lớn như ngày nay, EU đã trãi qua các mốc chính sau:
Vào năm 1951, Cộng đồng than thép Châu Âu (ECSC) ra đời với
Pháp, Đức, Ý, Hà Lan, Bỉ, Luxembourg là thành viên.
Vào năm 1958, Hiệp đònh Roma được ký kết, đánh dấu sự ra đời của
Cộng đồng nguyên tử Châu Âu (Euratom), và Cộng đồng kinh tế Châu
Âu (EEC).
Vào năm 1967, ECSC, Euratom, EEC sát nhập thành Cộng đồng Châu
phát hành tiền giấy Châu Âu.
Năm 1995, Hội đồng Châu Âu nhóm họp ở Madrid (15-16/12) để hình
dung ra viễn cảnh tương lai của một đồng tiền chung.
Năm 1996, tại hội nghò không chính thức Ecofin tại Verona, một quyết
đònh về đồng tiền chung EURO đã được thông qua. Cụ thể Hội đồng
đã tổ chức một cuộc thi ở cấp châu lục để chọn ra mẫu thiết kế cho
Trang 13 / 61
đồng EURO. EMI cũng tổ chức một cuộc thi thiết kế cho tờ giấy bạc
EURO. Những mẫu đoạt giải đã được thông báo vào tháng 12/1996.
Năm 1997, mẫu đoạt giải thiết kế cho đồng EURO đã được chọn lựa
bởi các Bộ trưởng tài chính, và được xác nhận bởi những người đứng
đầu của Bang và Chính phủ tại Hội nghò ở Amsterdam.
Năm 1998, Quyết đònh của Hội đồng vào ngày 3/5/1998 là quyết đònh
của 11 nước chính thức chấp nhận đồng tiền chung. Đến 1/6/1998,
ECB chính thức ra đời và đặt trụ sở tại Frankfurt am Main của Đức.
Vào ngày 31/12/1998 Hội đồng đưa ra quy đònh về tỷ giá chuyển đổi
cho các nước chấp nhận đồng EURO. Trong khi đó, những nước thành
viên sẽ bắt đầu sản xuất đồng tiền EURO.
Năm 1999, vào ngày 1/1 EURO trở thành đồng tiền chung của 11 nước
thành viên, mặc dù tiền giấy và tiền đồng vẫn chưa được lưu hành.
Đến tháng 7/1999, tiền giấy EURO được đưa vào sản xuất.
Năm 2000, Quyết đònh của Hội đồng vào ngày 19/6 cho phép Hy Lạp
gia nhập đồng tiền chung từ 1/1/2001.
Năm 2001, Hy Lạp chính thức áp dụng đồng tiền chung.
Năm 2002, vào ngày 1/1 tiền giấy và đồng EURO được đưa vào lưu
thông ở 12 nước thành viên. Sau 28/02 tiền giấy và tiền đồng quốc nội
đã chính thức không còn là đồng tiền hợp pháp được chấp nhận chi trả.
Sự ra đời của đồng tiền chung EURO đã giúp cho các thành viên trong
liên minh:
Trang 15 / 61
Nợ Chính phủ không được vượt quá 60% tổng sản phẩm quốc nội
(GDP).
Đã là thành viên của cơ chế tỷ giá ERM 2 được 2 năm trước khi gia
nhập Liên minh tiền tệ Châu Âu, và không phá giá đồng nội tệ đối với
những đồng tiền khác. Theo ERM 2, các nước buộc phải giữ đồng tiền
quốc gia dao động trong biên độ 15% so với đồng tiền chung EURO.
Đây là một trong những tiêu chuẩn gây tranh cãi, bởi việc thực hiện
ERM 2 có thể dẫn đến sự tăng lên trong tỷ giá thực, hoặc lạm phát.
Điều này lại ảnh hưởng đến một trong bốn tiêu chuẩn đã nêu ở trên.
Tuy nhiên, một điều cần lưu ý đó là khi một quốc gia nào đó thực hiện
ERM 2, thì quốc gia đó sẽ nhận được sự hỗ trợ của Ngân hàng trung
ương Châu Âu (ECB) trong việc tránh những cuộc tấn công có thể xảy
ra của giới đầu cơ, đồng thời góp phần giữ tỷ giá ở biên độ cho phép.
Sự ra đời của 5 tiêu chuẩn này đã góp phần đảm bảo sự phát triển kinh tế
liên tục và bền vững cho Liên minh kinh tế và tiền tệ Châu Âu. Vì vậy, để góp
phần đảm bảo 5 tiêu chuẩn này được thực hiện tốt, Hiệp ước Maastricht cũng
quy đònh hình phạt cho các nước vi phạm bất kỳ tiêu chuẩn nào. Đó là phạt tối
đa 0,5% trên tổng sản phẩm quốc nội GDP bao gồm:
Phần cố đònh là 0,2% trên GDP.
Phần biến đổi là 0,1% cho mỗi phần trăm vượt mức 3% thâm hụt ngân
sách.
I.4.2. Ngân hàng trung ương Châu u (ECB):
Hiệp ước Maastricht còn cho ra đời Ngân hàng trung ương Châu Âu mà
ngân hàng này sẽ kết nối hoạt động thanh toán với Ngân hàng trung ương của
các nước thành viên thông qua hệ thống phần mềm thanh toán Target. Đây là hệ
thống thanh toán gộp và tức thời đã xử lý nối kết đến hệ thống thanh toán bù trừ
Trang 16 / 61
trọng cho sự ra đời của đồng EURO, cũng như là bước khởi đầu của một xu
hướng hình thành một đồng tiền chung của các nước, và khu vực.
Từ lúc ra đời cho đến nay, đồng EURO đang biến động khá phức tạp. Lúc
đầu, thì nó liên tiếp giảm giá trò so với đồng USD, nhưng sau đó nó lại vượt lên
mạnh mẽ và vượt qua luôn cả mức quy đònh ban đầu. Điều này xuất phát từ xu
hướng muốn cải thiện cán cân thương mại đang bò thâm hụt lớn của Mỹ bằng
cách giảm giá đồng USD để kích thích xuất khẩu, cộng với tình hình tăng trưởng
chậm chạp, và kém ổn đònh của các nước EU.
Nhưng dù sao, với sự ra đời của đồng EURO, bản đồ tài chính quốc tế kể
từ đó đang được vẽ lại. Điều này hứa hẹn một sự sôi động hơn, và bình đẳng hơn
trong các giao dòch tài chính trên thế giới. Trong tương lai, các đồng tiền được sử
dụng trong quốc tế và được chấp nhận rộng rãi trong thanh toán quốc tế sẽ
không còn là một sự độc hành của USD, mà ít nhất sẽ có một người đồng hành
khác là EURO.
Trang 18 / 61
CHƯƠNG II: ĐỒNG TIỀN CHUNG ASEAN TRONG SỰ
PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ KHU VỰC
II.1. Những nhân tố dẫn đến sự hình thành ý tưởng về đồng tiền chung
ASEAN
II.1.1. Sự chuyển dòch cơ cấu tài chính tại một số nước Đông Nam Á:
II.1.1.1. Những diễn biến kinh tế, tài chính vào cuối những năm 80:
Ra đời vào 8/8/1967, ASEAN như là một lối thoát mới cho các nước thành
viên đối phó với những xung đột bên trong cũng như bên ngoài lúc bấy giờ.
Trong những năm đầu mới thành lập, ASEAN chỉ gồm có 5 nước thành viên là
Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, và Thái Lan. Sau đó, vào 8/1/1984
Brunei chính thức gia nhập vào khối.
Trước những thử thách về mặt chính trò, kinh tế cả trong nội bộ lẫn trong
mối quan hệ với các nước Đông Nam Á còn lại, ASEAN đã không thể tập trung
phát triển kinh tế, cũng như đẩy mạnh sự gia tăng hoạt động trao đồi mua bán
Quốc gia 1985 1986 1987 1988 1989 1990
Malaysia 55,40 58,20 60,40 116,20 154,20 119,30
Thái Lan 2,00 7,00 11,40 15,50 44,20 42,30
Philippines 2,10 6,70 8,70 10,70 27,30 13,80
Indonesia - 0,10 0,10 0,30 3,10 8,50
Nguồn: Thò trường tài chính và thò trường vốn Châu Á (Hà nội 1992, trang
53)
II.1.1.2. Tình hình kinh tế, tài chính trong những năm gần đây:
Trang 20 / 61
Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng GDP (%) của ASEAN qua các năm
Quốc gia 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
Brunei 1,01 3,60 -3,99 2,56 2,82 3,05 2,83 3,20
Cambodia 4,60 6,82 3,70 10,78 7,03 5,67 5,48 5,00
Indonesia 7,82 4,70 -13,13 0,79 4,92 3,45 3,69 4,10
Lao, PDR 6,89 6,91 3,99 7,28 5,81 5,76 5,70 5,90
Malaysia 10,00 7,32 -7,36 6,14 8,86 0,32 4,15 5,31
Myanmar
6,44 5,74 5,77 10,92 13,70 10,50 5,00 5,10
Philippines 5,85 5,19 -0,59 3,41 4,38 4,52 3,12 4,70
Singapore 7,71 8,51 -0,86 6,42 9,41 -2,37 3,29 1,09
Thailand 5,90 -1,37 -10,51 4,45 4,76 2,14 5,41 6,75
Viet Nam 9,34 8,15 5,76 4,72 6,79 6,84 7,04 7,24
ASEAN 7,30 4,16 -7,14 3,58 5,91 3,26 4,33 5,01
Nguồn: Ban thư ký ASEAN
Từ bảng 2 cho thấy tình hình tăng trưởng kinh tế trong thời gian gần đây
của khối ASEAN là khá lạc quan. Tuy nhiên, nếu so với những năm 1996, 1997,
thì tốc độ tăng trưởng GDP có xu hướng giảm đáng kể (gần 50%). Đây là một
Indonesia 50.188 56.297 50.370 51.242 65.406 57.364 59.165 63.450
Lao, PDR 317 313 337 302 330 310 301 359
Malaysia 77.169 77.561 71.850 84.097 98.429 87.981 94.343 105.000
Myanmar 938 975 1.065 1.140 1.644 2.529 2.404 592
Philippines 20.543 25.228 29.496 34.210 37.295 31.243 25.539 34.985
Singapore 129.552 129.75
7
110.27
1
116.62
9
139.74
7
124.50
5
137.42
9
157.851
Thailand 54.667 56.725 52.878 56.801 67.889 63.070 66.092 78.416
Viet Nam 7.255 9.185 9.361 11.540 14.448 15.027 16.706 19.500
ASEAN 343.866 359.56
4
328.31
9
359.62
8
430.49
4
387.24
3
117.52
6
128.528
Thailand 70.815 61.349 40.643 47.529 62.423 60.576 63.353 74.214
Viet Nam 10.030 10.432 10.350 10.568 15.387 14.546 17.760 21.600
ASEAN 359.97
7
359.44
4
268.03
7
289.62
5
362.40
7
327.31
9
341.50
6
382.696
Nguồn: Ban thư ký ASEAN
Theo số liệu ở Bảng 4, tình hình xuất khẩu của ASEAN là khá tích cực.
Hầu hết đều có một sự tăng trưởng qua các năm, chỉ trừ Myanmar do bò cấm vận
về kinh tế. Tuy nhiên, việc gia tăng giá trò nhập khẩu (bảng 5) lớn hơn ở các
nước kém phát triển hơn trong khối đã làm cho các nước bò thâm hụt trong cán
cân tài khoản vãng lai của mình (bảng 6). Trong khi đó, các nước phát triển hơn
lại có dấu hiệu đáng khích lệ từ thặng dư cán cân tài khoản vãng lai.
Bảng 6: Cán cân tài khoản vãng lai trên GDP (%) các nước ASEAN qua các
năm
Quốc gia 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
chung EURO ra đời. Không những thế, các quốc gia đã bắt đầu cố gắng tách
khỏi sự phụ thuộc vào đồng USD bằng cách tăng dự trữ của mình bằng đồng
EURO nhiều hơn. Mặc dù trong giai đoạn đầu, EURO giảm giá mạnh so với
mức đònh giá ban đầu 1 EURO =1,16 USD. Nhưng hiện tại, nó đang tăng dần lên
cùng với sự phục hồi của nền kinh tế Châu Âu, và sự thâm hụt cán cân vãng lai
Trang 24 / 61
ngày càng tăng của Mỹ. Theo dự đoán của Liên minh Châu Âu, trong thập kỷ
tới, hoặc có thể lâu hơn nữa, thò phần của đồng USD trong thương mại quốc tế sẽ
giảm còn 40%, trong khi đồng EURO sẽ là 38%. Rõ ràng EURO là một hình
mẫu tiền tệ, là động lực thúc đẩy và bài học kinh nghiệm cho sự hợp tác về tài
chính tiền tệ của các nước, khu vực.
II.1.4. ASEAN-10 thành hiện thực:
Vào 04/1999, cùng với sự gia nhập của Campuchia, giấc mơ ASEAN 10
đã thành hiện thực. Điều này đã góp phần nâng cao sự hợp tác hơn nữa về nhiều
mặt của các nước trong khối. Là một trong những khu vực có nền kinh tế phát
triển nóng nhất, ASEAN 10 đã như tạo thêm một điểm nhấn, một sự tin cậy mới
trong lòng các nhà đầu tư. Tuy nhiên, trước sự hùng bá của nền kinh tế Trung
Quốc, AESAN cần phải mở rộng tăng cường hơn nữa các liên kết theo chiều
sâu, cũng như sự hợp tác phát triển toàn diện để tạo ra một lợi thế cạnh tranh
mạnh hơn cho riêng mình. Đồng thời cũng tạo ra một động lực mới kéo theo các
nước ASEAN vượt nhanh ra khỏi khủng hoảng, và vươn tới sự phát triển bền
vững hơn. Với xu hướng khu vực hóa, toàn cầu hóa và tự do hóa các hoạt động
kinh doanh và hợp tác kinh tế-tài chính như hiện nay, rõ ràng, ASEAN cần phải
tăng cường vò thế của mình hơn nữa cả trong phạm vi khu vực và trên toàn thế
giới, cũng như đa dạng hóa phương thức thanh toán quốc tế, tạo ra xung lực tiền
tiền tệ mới cho thò trường tài chính quốc tế.
II.2. Những nỗ lực của ASEAN để chuyển lý thuyết về đồng tiền
chung ASEAN thành hiện thực:
II.2.1. Cơ chế giám sát ASEAN: