trang
1
Lời mở đầu
Trên những kiến thức chúng ta đã học, giờ đây được sự giúp đỡ, hướng dẫn của
lãnh đạo nhà trường, các thầy cô giáo chuyên ngành cùng với sự hỗ trợ giúp đỡ của
các cô chú tại Xí nghiệp May Điện Bàn đã tạo điều kiện cho em hoàn thành hiệm vụ
trong thời gian thực tập, đi vào công việc thực tế của mình. Đồng thời qua đợt thực
tập này cũng giúp em phân biệt biệt được sự khác nhau giữa việc học lý thuyết và
thực hành, biết được tầm quan trọng của ngành kế toán tài chính.
Như chúng ta đã biết, hiệu quả kinh tế luôn gắn liền với hoạt động sản xuất kinh
doanh. Do vậy làm thế nào để hiệu quả đạt cao nhất luôn là vấn đề vô cùng quan
trọng đối với nhà quản lý kể cả về lý luận lẫn thực tiễn. Trong nền kinh tế thị
trường, vấn đề hiệu quả không chỉ đơn thuần quyết định đến sự sống còn của doanh
nghiệp mà còn liên quan đến nhiều khía cạnh khác của nền kinh tế đất nước bởi
những tác động dây chuyền của nó.
Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường bất kỳ doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát
triển cũng đều phải nghĩ đến việc tổ chức mọi hoạt động sản xuất và nâng cao tay
nghề sao cho hiệu quả lợi nhuận ngày một tăng, bù đắp chi phí. Ở chế độ ta, lợi
nhuận dùng để tái sản xuất mở rộng, cải thiện đời sống mọi thành viên trong xã hội.
Điều đó đòi hỏi người lãnh đạo phải có một trình độ quản lý nhất định. Để nâng cao
hiệu quả kinh tế thật sự thì các cơ sở kinh doanh thực hiện quyền tự chủ của mình
đã tích cực đẩy mạnh nhiều biện pháp tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản
phẩm. Điều này rất quan trọng và là vấn đề mấu chốt trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
trang
2
Nhận thức được tầm quan trọng trong thời gian thực tập tại Xí nghiệp May Điện
Nẵng (cũ) . Ban đầu chỉ có Ban Giám đốc, xí nghiệp đã tiến hành đầu tư và xây
dựng cơ sở: nhà xưởng, mua sắm thiết bị, đồng thời nghiên cứu thị trường công
nghiệp, cho đến 1989 xí nghiệp bắt đầu đi vào hoạt động sản xuất.
Đến năm 1992 thực hiện Nghị quyết 388/CP của Chính phủ Xí nghiệp được thành
lập lại doanh nghiệp Nhà nước theo Quyết định số 3499/QĐUB ngày 25/12/1992
của UBND tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (cũ) với ngành kinh tế chính là hàng may
mặc.
Xí nghiệp May được đầu tư xây dựng cơ bản từ tháng 11/1987 nhập thiết bị với 4
dây chuyền công nghệ may. Xí nghiệp được xây dựng trên khu đất rộng 12.000m2
tại thôn Viêm Tây - xã Điện Thắng - Huyện Điện Bàn - Tỉnh Quảng Nam. Nằm trên
trục đường Quốc lộ 1A. Từ năm 1987 - 1989 Xí nghiệp May Điện Bàn đi vào sản
xuất kinh doanh.
Tháng 4/1988 xí nghiệp sản xuất các sản phẩm như hàng nội địa, đến tháng 01/1989
xí nghiệp mới bắt đầu sản xuất các sản phẩm xuất khẩu như áo y tế, áo sơ mi cho
Liên Xô, CHDC Đức theo chương trình nghị định thứ 19/5 giữa Nhà nước Việt
Nam với Xô Viết.
Bước sang năm 1990 xí nghiệp may vẫn tiếp tục sản xuất kinh doanh, sản xuất các
sản phẩm cho các nước khu vực I mà trực tiếp là thực hiện hợp đồng với Liên Hiệp
trang
4
sản xuất nhập khẩu hàng dệt (Textime) hàng may (Confextimex) và Nhà máy Dệt
Nam Định, sản lượng đạt từ 300.000 sản phẩm đến 350.000 sản phẩm.
Cuối tháng 10/1990 chương trình thực hiện theo Nghị định 19/5 kết thúc các Xí
nghiệp may trong nước nói chung và Xí nghiệp May Điện Bàn nói riêng đã gặp
nhiều khó khăn, không có thị trường tiêu thụ, khách hàng chưa có nên xí nghiệp đã
hoạt động 1 cách khó khăn trong năm th áng đầu tiên của năm 1991.
Trước những biến động về tình hình thế giới, thực tế khó khăn trong nước đã ảnh
hưởng trực tiếp đến ngành may mặc. Xí nghiệp May Điện Bàn đã tìm ra biện pháp
- Phân xưởng chiếm : 1.584m2.
- Văn phòng làm việc : 417m2.
Lao động: 400 người.
- Lao động trực tiếp : 365 người.
- Lao động gián tiếp : 35 người.
II. CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA XÍ NGHIỆP:
1. Chức năng của Xí nghiệp May Điện Bàn:
Xí nghiệp May Xuất khẩu Điện Bàn là doanh nghiệp Nhà nước của UBND Tỉnh
Quảng Nam. Đóng trên địa bàn huyện Điện Bàn, đặc dưới sự quản lý của Sở Công
nghiệp Quảng Nam. Xí nghiệp hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế độc lập có
tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và được mở tài khoản tại Ngân hàng Điện Bàn
với chức năng chính.
trang
6
Tổ chức sản xuất kinh doanh hàng may mặc xuất khẩu và tiêu thụ nội địa.
Tổ chức liên doanh liên tiếp gia công các hàng may mặc (theo hợp đồng) các mặt
hàng như: quần Jean, áo sơ mi, áo Jacket, áo quần lính
2. Nhiệm cụ của Xí nghiệp May Điện Bàn:
Xí nghiệp May Điện Bàn luôn có nhiệm vụ và định hướng cho việc phát triển lâu
dài một cách vững chắc, đáp ứng ngày càng cao về hàng xuất khẩu, đồng thời qua
đó thực hiện các phương án tiến bộ khoa học kỹ thuật, hợp ,lý hoá sản xuất và quy
trình công nghệ tiên tiến.
+ Tổ chức xây dựng kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng cường
công tác nghiên cứu thị trường tiêu thụ, mở rộng thị trường trong và ngoài nước,
tìm kiếm khách hàng phát triển dịch vụ gia công xuất khẩu.
+ Kiểm tra quản lý chặt chẽ nguồn nhân lực trong xí nghiệp, vật tư tài sản,
nguồn vốn, giảm chi phí kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm, bảo tồn và phát triển
nguồn vốn kinh doanh.
- Bộ phận cắt phá, cắt vòng.
+ Phân xưởng may:
- Bộ phận bẻ lộn, gọt bán thành phẩm, làm dấu.
- Bộ phận nhặt chỉ.
- Bộ phận thu hoá.
trang
8
- Bộ phận KCS theo chuyển kiểm tra chất lượng sản phẩm chung.
- Bộ phận kỹ thuật theo chuyên môn hướng dẫn nhân công và đúng kỹ thuật.
- Phòng kỹ thuật: ra mẫu, giác mẫu, thiết kế chuyển định mức vật liệu, thiết kế mẫu
mới.
- Tổ điện: kiểm tra điện, sửa chữa máy móc bảo quản máy.
- Tổ là, đóng gói: có nhiệm vụ là xếp hàng theo đúng mẫu quy định, đóng bao bì,
đây là khâu đóng gói.
SƠ ĐỒ QUY TRÌNH SẢN XUẤT Ở PHÂN XƯỞNG CẮT MAY
IV. ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ, BỘ MÁY KẾ TOÁN VÀ HÌNH
THỨC KẾ TOÁN ÁP DỤNG TẠI XÍ NGHIỆP MAY ĐIỆN BÀN:
1. Đặc điểm và tình hình:
Xí nghiệp May Điện Bàn không ngừng sản xuất ra các mặt hàng tiêu thụ trong nước
mà còn thực hiện các hợp đồng kinh tế là may gia công cho nước ngoài. Bằng các
nguyên liệu và nguồn lao động đã may ra các loại hàng xuất khẩu mà chủ yếu là áo
sơ mi, quần thể thao, áo lính, quần lính hay áo Jacket cao cấp. Các mặt hàng này
xuất hiện trên thị trường Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Canađa, với các nước
Cộng hoà Châu Âu. Với cá tính đặc thù của sản phẩm may mặc nên xí nghiệp sản
xuất theo dây chuyền khép kín tương đối hoàn hảo từ khâu đầu đến khâu cuối.
2. Bộ máy quản lý:
Xí nghiệp tổ chức bộ máy quản lý theo mô hình tập trung và cũng là một đơn vị
hạch toán độc lập, chịu sự quản lý trực tiếp của cơ Sở Công nghiệp Quảng Nam.
trang
10
* Phòng KCS: Là những người chịu trách nhiệm trước xí nghiệp về việc kiểm tra
chất lượng nguyên liệu nhập bán thành phẩm và các loại sản phẩm do xí nghiệp sản
xuất. Ngoài ra còn tham mưu cho phòng kỹ thuật thiết kế mẫu mã.
* Phòng cơ điện: Có nhiệm vụ cung cấp đầy đủ nguồn điện thường xuyên trong
toàn xí nghiệp và các kỹ thuật như máy móc, trang thiết bị, chịu trách nhiệm bố trí
máy móc thiết bị trong dây chuyền sản xuất và sửa chữa điều chỉnh kịp thời và khắc
phục các sự cố xảy ra trong quá trình sản xuất.
Nói tóm lại, tuy mỗi bộ phận có chức năng riêng biệt trong cơ cấu tổ chức nhưng
chúng có mối quan hệ chặt chẽ. Giám đốc điều hành chung dưới sự giúp đỡ của các
phòng ban. Các phòng ban hoạt động độc lập nhưng lại gắn bó khá chặt chẽ. Nhìn
chung ta thấy bộ máy xí nghiệp khá đơn giản, nhưng lại chặt chẽ và linh hoạt thống
nhất mối liên hệ chỉ huy trực tiếp nên mọi hoạt động của xí nghiệp hoạt động trôi
chảy, đạt kết quả cao.
3. Bộ máy kế toán:
Để thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo xủa xí nghiệp giao phó là phản ánh, ghi chép số
liệu về việc sử dụng tài sản của đơn vị cũng như theo dõi báo cáo kịp thời tình hình
tài chính của xí nghiệp.
Căn cứ vào đặc điểm kinh doanh và quản lý của xí nghiệp, địa bàn kinh doanh dịch
vụ tập trung tại một điểm các nghiệp vụ kinh tế diễn ra hằng ngày vơ2í quy mô sản
xuất nhỏ nên bộ máy kế toán của xí nghiệp rất gọn nhẹ và đơn giản, 1 nhân viên kế
toán kiêm nhiều phần hành công việc của tất cả các khâu kế toán khác.
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN TẠI XÍ NGHIỆP MAY ĐIỆN BÀN
Chú thích:
trang
11
giám đốc, phản ánh tình hình tăng giảm của vật liệu, công cụ, tài sản và các mặt
hàng nhận hợp đồng gia công trong kỳ có đúng tiến độ hay không để báo cáo kịp
thời cho giám đốc có kế hoạch đôn đốc sản xuất.
* Kế toán tiêu thụ kiêm kế toán phân xưởng cắt: Phân loại chứng từ, hạch toán chi
tiết và tổng hợp các nhiệm vụ bán hàng, lập tờ khai tính thuế, lập báo cáo lỗ lãi.
Ngoài ra còn theo dõi thống kê phân xưởng cắt nhằm bắm bắt được số liệu xuất ra
theo đúng quy định và định mức tổng số với quy định, tiến hành theo quyết toán với
mọi phân xưởng cắt và khách hàng. Có nhiệm vụ tìm kiếm thị trường tạo đầu ra cho
sản phẩm.
* Thủ quỹ: Có nhiệm vụ theo dõi thu chi tiền mặt phát sinh hằng ngày khi có phiếu
thu, phiếu chi của kế toán hợp lệ và đầy đủ các chữ ký của lãnh đạo những người
liên quan, khi rút tiền mặt ở ngân hàng và nhập quỹ phải lên báo cáo quỹ phát sinh
hằng ngày, định kỳ đối chiếu với kế toán tiền mặt xuất nhập.
Ngoài thủ quỹ còn có thủ kho: hàng hóa, nguyên liệu phát sinh hằng ngày, thủ kho
có nhiệm vụ phát hioện về chất lượng và mẫu mã của hàng hóa mối khi xuất nhập.
Báo cáo xử lý hàng hư hỏng, cuối tháng kiểm kê báo cáo theo định kỳ.
V. HÌNH THỨC KẾ TOÁN ÁP DỤNG TẠI XÍ NGHIỆP MAY ĐIỆN BÀN:
1. Hình thức tổ chức: Để phù hợp với hình thức tổ chức bộ máy quản lý của xí
nghiệp được tốt hơn cho nên xí nghiệp sử dụng hình thức kế toán “Chứng từ ghi
sổ”.
trang
13
2. Sơ đồ kế toán “Chứng từ ghi sổ”:
Chú thích : Ghi hàng ngày
Ghi hằng tháng
Quan hệ đối chiếu
3. Trình tự ghi sổ:
Hàng ngày, nhân viên kế toán phụ cấp từng phần hành căn cứ vào chứng từ gốc để
1 Doanh thu thuần 6.140.730.843 7.003.277.417 862.546.574
14
2 Giá vốn hàng bán 5.002.710.516 5.357.413.148 354.702.632 7
3 Chi phí bán hàng 45.349.300 75.288.640 29.739.340 6,53
4 Chi phí QLDN 1.008.563.610 1.344.038.039 335.474.429
33,3
5 Lợi nhuận KD 83.907.417 133.204.257 49.296.840 58,8
Nhận xét và đánh giá: nhìn chung doanh thu của xí nghiệp May Điện Bàn năm 2003
tăng hơn so với năm 2002 là 49.296.840 tương ứng với 58,8% có được kết quả như
vật là do Xí nghiệp mở rộng mạng lưới Marketing tìm kiếm thị trường khách hàng
nângcao chất lượng sản phẩm đầu tư vào công tác quản lý và đặc biệt xí nghiệp
nhằm 2 mục tiêu quan trọng.
- Khách hàng (thị trường tiêu thụ)
- Giảm chi phí và hạ giá thành.
trang
15
+ Giá vốn hàng bán tăng 7% tương ứng với số tiền: 354.702.632 đồng.
+ Chi phí bán hàng tăng 6,53% tương ứng với số tiền: 29.739.340 đồng.
+ Chi phí QLDN tăng 33,3% tương ứng với số tiền: 335.474.429 đồng.
+ Doanh thu thuần tăng 14% tương ứng với số tiền là: 862.546.574 đồng.
Điều này chứng tỏ 2 năm qua xí nghiệp đã tăng, sản lượng sản phẩm hoàn thành
của năm 2003 tăng hơn so với năm 2002 với một đội ngũ cán bộ công nhân viên
đông đủ đã dẫn tới chi phí tăng, song lợi nhuận cũng tăng bù đắp vào khoản chi phí
và đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Phần II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH
GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI XÍ NGHIỆP MAY ĐIỆN BÀN
I. TỔNG QUÁT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM:
thành sản phẩm được thể hiện qua sơ đồ sau:
Qua đó ta thấy được một sự khác nhau giữa chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm phụ thuộc vào sản phẩm dở dang mà sản phẩm dở dang phụ thuộc vào đặc
điểm sản xuất kinh doanh của xí nghiệp.
3. Nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
Trong công tác quản lý xí nghiệp, chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là chỉ
tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh và quản
trang
17
lý kinh tế tài chính trong doanh nghiệp. Việc hạ giá thành sản phẩm có ý nghĩa quan
trọng trong việc tăng tích luỹ, tăng thu nhập cho CNV tạo nguồn tích luỹ cho Nhà
nước.
Để phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch đòi hỏi phải tăng cường tổ chức
công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, đáp ứng đầy đủ trung
thực kịp thời yêu cầu cho công tác quản lý, kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Căn cứ vào đặc điểm tính chất quy trình công nghệ đặc điểm tổ chức sản xuất, đặc
điểm sản phẩm của xí nghiệp để xác định đúng đắn đối tượng tập hợp chi phí sản
xuất, đối tượng tính giá thành sản phẩm có cơ sở đó tổ chức việc ghi chép ban đầu
và nắm vững các phương pháp tính giá thành.
- Tính toán ghi chép phản ánh kịp thời đầy đủ các chi phí sản xuất thực tế phát sinh
trong quá trình sản xuất sản phẩm đồng thời kiểm tra tính thực hiện các định mức
tiêu hao lao động, vật tư, các dự toán chi phí phục vụ và quản lý sản xuất nhằm thúc
đẩy sự kiện, tiết kiệm hợp lý nguyên vật liệu, máy móc thiết bị lao động trong sản
xuất cũng như trong quản lý. Vạch ra mức độ và nguyên nhân của những lãng phí
và thiệt hại ở những khâu sản xuất.
- Tổ chức kiểm kê xác định sản phẩm dở dang và tính toán chính xác và kịp thời về
giá thành đơn vị của từng loại sản phẩm, công việc lao vụ và dịch vụ do xí nghiệp
trang
19
Căn cứ vào các nội dung nghiệp vụ phát sinh trên kế toán tiến hành lập “Phiếu xuất
kho” số 07 và số 08 (kèm phụ lục)
Đồng thời hạch toán như sau:
a. Trị giá NVL chính: 4.000m x 17.500đ/m = 70.000.000 đồng.
Nợ TK 621 70.000.000
Có TK 152 (C) 70.000.000
b. Trị giá NVL phụ để sản xuất áo sơ mi
Nút: 200 lố x 3.500đ/lố = 700.000 đồng.
Kôn: 150m x 3.600đ/m = 540.000 đồng .
Chỉ: 100 cuộn x 6.000đ/cuộn = 600.000 đồng.
Tổng : 1.840.000 đồng
Nợ TK 621 1.840.000
Có TK 152 (P) 1.840.000
Trong 6 tháng phát sinh các khoản NVL, kế toán cũng hạch toán tương tự như trên.
Cuối tháng kế toán vật liệu tổng hợp tất cả các phiếu xuất kho nguyên vật liệu (C-P)
dùng trực tiếp sản xuất sản phẩm với tổng số tiền là 125.690.000 đồng. Kế toán tiến
hành lập “Bảng kê chứng từ ghi có TK 152” (Kèm theo phụ lục).
Căn cứ vào “Bảng kê chứng từ ghi có TK 152” kế toán hạch toán như su:
Nợ TK 621 125690.000
Có TK 152 125.690.000
TK 152(C) 122.010.000
TK 152(P) 3.680.000
Trên cơ sở bảng kê ghi có TK 152 kế toán lên chứng từ ghi sổ số 01 (kèm phụ lục)
trang
20
TK 338: Phải trả , phải nộp khác
Trong đó: TK 3382: KPCĐ
TK 3383: BHXH
TK 3384: BHYT
Cuối tháng 3 kế toán ở các phân xưởng giao bảng thống kê số lượng sản phẩm hoàn
thành lên phòng kế toán tiền lương làm căn cứ lập bảng phân bổ tiền lương. Các
khoản trích theo lương như (BHXH, BHYT, KPCĐ).
Trong tháng 3/2004 xí nghiệp tính lương và các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ
cho công nhân sản xuất như:
- Kế toán căn cứ vào các nội dung sau để tính lương và hạch toán.
+ Căn cứ vào phiếu xác nhận thành phẩm.
+ Căn cứ vào tỷ trọng tiền lương của từng bộ phận trong tổng tiền lương để phân bổ
cho từng bộ phận.
Trong bảng tính đơn giá tiền lương của xí nghiệp thì trong đó:
* Công nhân trực tiếp sản xuất (622) 78%
- Công nhân may : 74%
- Công nhân cắt : 4%
* Công nhân QLPX (627) 12%
- Kỹ thuật : 3%
- KCS : 5%
- Điện cơ : 3%
trang
22
- VSCN : 1%
* Công nhân QLXN (642)10%
- Hành chính : 8%
- Bảo vệ : 2%
Trích bảo hiểm: Kế toán căn cứ vào chế độ quy định về việc trích BHXH, BHYT,
Đơn giá lương (=50% giá gia công) : 12.500đ/sản phẩm.
Tổng số tiền : 120.287.500 đồng.
Trong tháng xí nghiệp có tổng số tiền lương được tính là 120.287.500 đồng được
phân bổ như sau:
+ Tiền lương nhân viên trực tiếp sản xuất (622):
120.287.500 x 78% = 93.824.250 đồng
+ Tiền lương nhân viên quản lý phân xưởng 627:
120.287.500 x 12% = 14.434.500 đồng
+ Tiền lương nhân viên quản lý xí nghiệp 642:
120.287.500 x 10% = 12.028.750 đồng
Tổng số tiền lương phải trả cho nhân viên là:
93.824.250 + 14.434.500 + 12.028.750 = 120.287.500 đồng.
* Dựa vào hệ số tính lương cơ bản như sau:
+ Bộ phận trực tiếp sản xuất: 189,81 x 290.000 = 55.044.900 đồng.
trang
24
+ Bộ phận quản lý phân xưởng: 51,91 x 290.000 = 15.053.900 đồng.
+ Bộ phận quản lý xí nghiệp: 52,21 x 290.000 = 15.140.900 đồng.
Tổng tiền lương chi cho các bộ phận:
55.044.900 + 15.053.900 + 15.140.900 = 85.239.700 đồng
Sau khi tính toán xong kế toán tiến hành lập “Bảng kê chứng từ ghi có TK 334”.
Lương phải trả và “Bảng kê chứng từ ghi có TK 334”.
Lương cơ bản (kèm phụ lục)
Từ bảng kê lương phải trả và lương cơ bản kế toán tiến hành lập bảng trích BHXH,
BHYT, KPCĐ tính vào chi phí sản xuất
Bảng trích BHXH, BHYT, KPCĐ (kèm phụ lục)
* Bộ phận trực tiếp sản xuất:
Nợ TK 622 11.234.118
Có TK 338 11.234.118
TK 3382 1.876.485
TK 3383 8.256.735
TK 3384 1.100.898
Trên cơ sở bảng ghi có TK 334 - Lương phải trả và các chứng từ có liên quan để ghi
tên: “Chứng từ ghi sổ số 02” (Kèm phụ lục)
Cuối kỳ kế toán kết chuyển toàn bộ CPNCNTT vào TK 154 để tính giá thành.