So sánh về thẩm định tài chính tại doanh nghiệp tài chính và thẩm định tại ngân hàng trong vay vốn - Pdf 20

Lời nói đầu
Trong thời kỳ hiện nay, đất nước ta đang thực hiện kế hoạch 5 năm (từ năm 2001
đến năm 2005) thời kỳ phát triển một nền kinh tế công nghiệp hoá hiện đại hoá. Nền
kinh tế của một đất nước tiếp tục phát triển với tốc độ cao và đang trên đà đạt được
những thành tựu to lớn. Góp phần vào thành công đó, là quá trình vận động và phát
triển của các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc nhiều lĩnh vực. Để thực hiện mục
tiêu tăng trưởng và phát triển đó, đầu tư là phương pháp hữu hiệu được các nhà kinh
doanh lựa chọn. Tuy nhiên, đứng trước những cơ hội đó, khả năng tài chính của
những chủ thể kinh tế không phải lúc nào cũng đáp ứng được. Đặc biệt là khi hoạt
động sản xuất kinh doanh diễn ra ngày càng sôi động, những cơ hội đầu tư xuất hiện
ngày càng nhiều, các chủ thể kinh tế càng phải tiếp cận với các hình thức tài trợ vốn
từ bên ngoài. Tuy nhiên, các hình thức tín dụng thông thường có những yêu cầu,
ràng buộc nghiêm ngặt mà một số công ty nhỏ khó có thể đáp ứng. Cho thuê tài
chính ra đời đã giải quyết được vấn đề này.
Với yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá, hoạt động đầu tư ngày
càng được khuyến khích ở Việt Nam, nhưng cho đến nay, khả năng tài trợ vốn cho
những dự án đầu tư từ các ngân hàng thương mại trong nước và thị trường chứng
khoán còn hạn chế. Trong bối cảnh như vậy, cho thuê tài chính sẽ là một phương
thức hữu hiệu giúp các tổ chức kinh tế ở Việt Nam có thể thực hiện những dự án
một cách hiệu quả.
Đối với các nhà đầu tư thì mong muốn của họ đó là, dự án đầu tư mang lại hiệu quả,
hạn chế được rủi ro, làm tăng giá trị tài sản của chủ sở hữu. Còn đối với hoạt động
cho thuê tài chính nói riêng và hoạt động tín dụng nói chung thì một vấn đề không
thể không quan tâm đó là công tác thẩm định dự án đặc biệt là thẩm định tài chính
dự án. Đây là khâu cơ bản dẫn đến quyết định cho thuê hay không cho thuê là khâu
giảm thiểu rủi ro trong quá trình thực hiện dự án. Hoàn thiện công tác này sẽ tạo cơ
sở cho việc ra các quyết định cho thuê an toàn, nhanh chóng, nâng cao hiệu quả
hoạt động thuê mua tài chính, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá- hiện
đại hoá nền kinh tế.
Với mong muốn tìm hiểu và đóng góp những đề xuất đối với công tác thẩm định tài
chính dự án trong hoạt động cho thuê tài chính, trong thời gian thực tập tại công ty

trong một môi trường không chắc chắn. Bởi vì môi trường dự án không phải là môi
trường hiện tại mà là môi trường tương lai.
- Các nguồn lực:
Hoạt động của dự án không thể thực hiện được nếu thiếu các nguồn lực về vật chất,
tài chính, con người… Vì vậy, phải nêu rõ các nguồn lực cần thiết cho dự án. Tổng
hợp các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần cho dự án. Mỗi dự án bao giờ cũng
được xây dựng và thực hiện trong sự giới hạn về nguồn lực.
1.1.2. Thẩm định dự án đầu tư
1.1.2.1. Khái niệm
Thẩm định tài chính dự án được xem là một nội dung kinh tế quan trọng. Nó nhằm
đánh giá tính khả thi về mặt tài chính của dự án và là cơ sở để đánh giá hiệu quả
kinh tế, xã hội. Vậy thẩm định tài chính dự án đầu tư là gì? Có thể định nghĩa một
cách tổng quát như sau: "Thẩm định tài chính dự án của doanh nghiệp là việc xem
xét đánh giá các bảng dự trù tài chính, trên cơ sở đó xác định các luồng lợi ích chi
phí tài chính dự án, so sánh các luồng lợi ích tài chính này trên cơ sở đảm bảo
nguyên tắc giá trị thời gian của tiền với chi phí và vốn đầu tư ban đầu để đưa ra kết
luận về hiệu quả và mức độ rủi ro của dự án để kịp thời khắc phục".
1.1.2.2. Sự cần thiết của thẩm định dự án
Như vậy, thẩm định tài chính dự án là việc xem xét các chỉ tiêu của dự án do chủ
đầu tư để từ đó kiểm tra các chỉ tiêu này thông qua các phương pháp nghiệp vụ
thẩm định trên cơ sở đã tính đủ các yếu tố tài chính của dự án.
Thẩm định tài chính dự án đầu tư thực chất là tập hợp các hoạt động nhằm xác định
luồng tiền của dự án như tổng mức đầu tư, nguồn tài trợ và tính toán, phân tích các
chỉ tiêu trên cơ sở các luồng tiền nhằm đưa ra các đánh giá về hiệu quả tài chính của
dự án đầu tư.
Việc thẩm định tài chính dự án đầu tư có thể được các kết quả phân tích đánh giá
hiệu quả kinh tế, tài chính của dự án chính là một căn cứ trước hết để đưa ra một
quyết định đầu tư.
Thẩm định tài chính dự án là cần thiết, có tính quyết định trong việc trả lời dự án có
được chấp nhận để đầu tư hay không, nó là một bộ phận của công tác quản lý nhằm

hạn, đòi hỏi lượng vốn không nhỏ, với một thời gian hoàn vốn tương đối dài, chịu
ảnh hưởng của những biến động trên thị trường. Hơn nữa, những biến động đó kéo
theo những ảnh hưởng về kinh tế, xã hội môi trường đến nhiều phía. Vì vậy thẩm
định là một công đoạn không thể thiếu, giúp hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu
cực đến các bên.
Việc thẩm định dự án sẽ giúp loại bỏ những dự án xấu, lựa chọn được những dự án
tốt, hứa hẹn một hiệu quả cao. Đứng trên mỗi góc độ, thẩm định dự án đều đem lại
những kết quả nhất định và có ý nghĩa riêng với mỗi bên.
- Về phía chủ đầu tư: việc thẩm định dự án sẽ giúp các chủ đầu tư lựa chọn được
những dự án tối ưu, có tính hả thi cao, phù hợp với điều kiện tự có và khả năng huy
động các nguồn tài chínhl; tạo điều kiện thực hiện có hiệu quả dự án, mang lại lợi
nhuận lớn trong tương lai.
- Về phía các cơ quan chuyên quản; thẩm định dự án sẽ giúp họ đánh giá được tính
cần thiết và phù hợp của dự án đối với tổng thể các kế hoạch chương trình kinh tế
của nhà nước tại địa phương. Xác định được hiệu quả của việc sử dụng các nguồn
lực xã hội của dự án, xác định được những tác động có lợi và có hại của dự án đối
với môi trường và những lợi ích khác.
- Về phía nhà tài trợ; thẩm định dự án giúp họ đưa ra được quyết định sử dụng tài
chính của mình một cách chính xác. Thông qua quá trình thẩm định, họ sẽ nắm
được các luồng chi phí và giá trị thu được từ dự án; đánh giá được khả năng thanh
toán của chủ đầu tư trong quá trình thực hiện dự án; đảm bảo an toàn tài chính cho
mình.
1.1.2.5. Nội dung của thẩm định dự án
Những yếu tố khác nhau làm nên tổng thể một dự án bao gồm các mặt kỹ thuật, thị
trường, tài chính, luật pháp đều phải được xem xét đánh giá kỹ lưỡng qua quá trình
thẩm định dự án đầu tư.
- Thẩm định các điều kiện pháp lý và mục tiêu của dự án
Thẩm định tư cách pháp nhân của chủ đầu tư, hồ sơ trình duyệt có đủ theo quy định
của pháp luật, có hợp lệ hay không?
Thẩm định mục tiêu của dự án để xem xét tính phù hợp của dự án đối với các

công đoạn này. Có những dự án dù hiệu quả về mặt tài chính cao tới đâu cũng có
thể bị loại bỏ nếu vi phạm lớn vào lợi ích kinh tế quốc dân. Mặt khác, các quốc gia
hiện tại đã chú trọng vào việc phát triển đi kèm với bảo vệ môi trường. Vì vậy một
tác động xấu đến môi trường cũng có thể làm cho một dự án có hiệu quả cao về mặt
tài chính bị loại bỏ.
1.2. hoạt động thuê mua tài chính
1.2.1. Sự hình thành và phát triển của nghiệp vụ cho thuê tài chính
Hoạt động cho thuê tài sản đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử văn minh nhân loại,
đã xuất hiện từ 2000 năm trước công nguyên với việc cho thuê các công cụ sản xuất
nông nghiệp, súc vật kéo, quyền sử dụng nước, ruộng đất nhà cửa.
Đầu thế kỷ XIX do sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nền kinh tế hàng hoá, số
lượng và chủng loại tài sản cho thuê đã có sự gia tăng đáng kể.
Đến đầu thập kỷ 50 của thế kỷ này, giao dịch thuê mua đã có những bước nhảy vọt.
Nhằm đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn, nghiệp vụ tín dụng thuê mua hay còn
gọi là thuê tài chính được sáng tạo ra trước tiên ở Mỹ vào năm 1952. Sau đó nghiệp
vụ tín dụng thuê mua phát triển sang Châu Âu và phát triển mạnh mẽ tại đó từ
những năm của thập kỷ 60. Tín dụng thuê mua cũng phát triển mạnh mẽ ở châu á và
nhiều khu vực khác từ đầu thập kỷ 70. Ngành công nghiệp thuê mua có giá trị trao
đổi chiếm khoảng 350 tỷ USD vào năm 1994. Hiện nay ở Mỹ, ngành thuê mua thiết
bị chiếm khoảng 25-30% tổng số tiền tài trợ cho các giao dịch mua bán thiết bị hàng
năm. Nguyên nhân chính thúc đẩy các hoạt động cho thuê tài chính phát triển nhanh
là do nó thể hiện hình thức tài trợ có tính chất an toàn cao tiện lợi, và hiệu quả cho
các bên giao dịch.
Tại Việt Nam nghiệp vụ cho tài chính hay còn gọi là tín dụng thuê mua đã được
NHNN Việt Nam cho áp dụng thí điểm bởi quyết định số: 149/QĐ-NH5 ngày
17/5/1995.
Đến 9-10-1995 chính phủ ban hành nghị định 64CP "Quy chế tạm thời về tổ chức
và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam". Ngày 9-2-1996 Thống
đốc NHNN-VN có thông tư số 03/TT-NH5 hướng dẫn thực hiện quy chế tạm thời
về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam.

năm, thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách đầy đủ.
- Dự án sản xuất kinh doanh làm cơ sở cho thuê tài chính có khả năng thực thi, có
ảnh hưởng sâu sác về mặt kinh tế và xã hội.
1.2.2.4. Thời hạn thuê
- Thời hạn cho thuê được tính từ khi nhận tài sản thuê cho đến khi thanh lý hợp
đồng.
- Thời hạn cho thuê do bên cho thuê và bên thuê thoả thuận trên cơ sở
- Khả năng nguồn vốn của bên cho thuê
- Khả năng nguồn vốn của bên thuê
- Thời gian thuê tối đa đối với tài sản mới (100%) tối thiểu là 1 năm nhưng không
quá thời gian khấu hao cần thiết do Bộ Tài chính quy định.
- Thời gian thuê đối với tài sản cũ đã qua sử dụng phù hợp với tình trạng kỹ thuật và
công năng thực tế của tài sản đó nhưng không vượt quá thời gian khấu hao của tài
sản đó theo quy định của Bộ Tài chính.
1.2.2.5. Lãi suất cho thuê
- Lãi suất cho thuê được xác định trên cơ sở lãi suất cơ bản và biên độ dao động do
Thống đốc NHNN-Việt Nam thông báo cộng tỷ lệ thuê tài chính có liên quan đến
tài sản thuê (nếu có).
- Phí cho thuê do bên cho thuê và bên thuê cùng thoả thuận được ghi rõ trong hợp
đồng cho thuê.
- Phí cho thuê cụ thể đối với từng khách hàng do Giám đốc Công ty cho thuê tài
chính quyết định nhưng phải đảm bảo nguyên tắc bảo toàn vốn, bù đắp chi phí quản
lý, phí rủi ro và có tỷ lệ lãi tích luỹ hợp lý.
- Phí phạt nợ quá hạn được xác định theo quy định về cách tính lãi suất nợ quá hạn
của cho vay cùng loại do NHNo và PTNT Việt Nam quy định tại thời điểm hợp
đồng cho thuê và được ghi trong hợp đồng. Thông thường thì phí phạt vì quá hạn
bằng 150% phí cho thuê trong hạn.
1.2.2.6. Đồng tiền cho thuê
Mọi giao dịch cho thuê tài chính chủ yếu thực hiện bằng đồng Việt Nam
1.2.2.7. Giá cho thuê

khách hàng thuê và nhà cung cấp).
- Thoả thuận về lựa chọn máy móc, thiết bị: Người thuê chọn thiết bị phù hợp với
yêu cầu của mình về mẫu, loại và các chỉ tiêu kỹ thuật, đồng thời quyết định ngày
giao hàng, điều kiện bảo dưỡng và phương thức thanh toán và ký biên bản thoả
thuận về việc mua tài sản (nội dung giống như hợp đồng mua bán thông thường
nhưng phương thức thanh toán qua Công ty cho thuê tài chính I).
- Ký hợp đồng cho thuê tài chính: Sau khi chọn máy móc, thiết bị người thuê nộp
đơn xin thuê thiết bị đó cho Công ty cho thuê tài chính I. Công ty cho thuê tài chính
I sẽ xem xét đơn và yêu cầu người thuê cung cấp các tài liệu cần thiết ví dụ như Báo
cáo tài chính, dự án sử dụng tài sản thuê, hồ sơ pháp lý khác. Nếu khả năng tín dụng
hiện đại của người thuê được công ty cho thuê tài chính I chấp nhận và bên đi thuê
nhất trí với các điều kiện của bên cho thuê tài chính thì hai bên cùng ký hợp đồng
cho thuê tài chính.
- Hợp đồng mua bán tài sản: Dựa trên các điều kiện đã thoả thuận giữa người thuê
và người bán thiết bị, Công ty cho thuê tài chính I ký hợp đồng mua bán tài sản cho
thuê với người bán.
- Giao hàng, lắp đặt và bảo dưỡng: Người bán giao hàng, lắp đặt tại địa điểm do
người thuê chỉ định. Người thuê ngay lập tức xem xét thiết bị theo các điều kiện đã
thoả thuận với người bán để kiểm tra tình trạng thiết bị và quyết định có chấp nhận
tài sản hay không. Cùng lúc người thuê nên ký hợp đồng bảo dưỡng với người cung
cấp.
- Thanh toán tiền mua tài sản: Sau khi nhận giấy xác nhận chấp nhận thiết bị của
người thuê Công ty cho thuê tài chính I mới thanh toán tiền mua tài sản cho người
bán.
- Thanh toán tiền thuê: Người thuê trả tiền thuê (gốc + phí) theo kỳ 30, 60 hoặc 90
ngày cho đến khi hết thời hạn thuê hợp đồng thuê tài chính, hợp đồng thuê tài chính
không được huỷ bỏ giữa chừng.
1.2.4. Vai trò, lợi ích của cho thuê tài chính đối với nền kinh tế
1.2.4.1. Lợi ích cho thuê tài chính
Thuê tài chính giúp bạn kịp thời hiện đại hoá sản xuất theo kịp tốc độ phát triển của

phát triển, khi thị trường chứng khoán còn ở dạng sơ khai, sự thiếu hút nghiêm
trọng nguồn cung cấp vốn trung dài hạn là không thể phủ nhận, vì thế, cho thuê tài
chính càng có vai trò lớn đối với những nền kinh tế này. Về mặt chất, cho thuê tài
chính là một kênh dẫn vốn hấp dẫn, nguyên nhân là ở phạm vi tài trợ rộng lớn, cung
ứng đến mọi khu vực, thành phần kinh tế rất có lợi đối với khách hàng, đồng thời
giảm bớt rủi ro của người cho thuê, áp dụng hình thức cho thuê tài chính trong nền
kinh tế và đặc biệt là việc hình thành các cong ty cho thuê tài chính chuyên doanh,
tách khỏi hoạt động của các ngân hàng thương mại càng tạo điều kiện phát triển hệ
thống tài chính quốc gia; Cụ thể, các công ty cho thuê tài chính chuyên doanh sẽ
cung cấp dịch vụ hữu hiện hơn hẳn những đơn vị trực thuộc, tạo sức cạnh tranh
đáng kể trong thị trường tài chính, thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực tiền tệ ngân
hàng.
- Cho thuê tài chính góp phần nâng cao năng lực công nghệ đất nước
Đối với các quốc gia đang phát triển, việc lạc hậu về công nghệ luôn luôn là vấn đề
gây đau đầu các nhà quản lý; cho thuê tài chính quốc tế sẽ tạo ra cơ hội lớn cho việc
nâng cao năng lực công nghệ quốc gia ngay cả trong điều kiện kinh tế quốc gia đó
gặp khó khăn. Cho thuê tài chính cho phép các doanh nghiệp tăng năng lực kinh
doanh bằng việc thay đổi, nâng cấp dây chuyền sản xuất, cải tiến kĩ thuật, mở rộng
quy mô sản xuất. Điều này đem lại cho quốc gia đó khả năng bắt kịp với trình độ
công nghệ thế giới.

Sở dĩ hoạt động này có được những tác động tích cực đó là bởi những ưu điểm nhất
định sau:
+ Về phía người thuê:
- Người thuê có thể được tài trợ toàn bộ giá trị tài sản cố định phục vụ cho kinh
doanh
Do việc tài trợ cho thuê được bảo đảm bằng chính tài sản thuê và người cho thuê có
thể chiếm hữu lại tài sản đó khi người thuê vi phạm hợp đồng nên thường người
thuê không cần đảm bảo khả năng thanh toán bằng việc đặt cọc 1 khoản tiền. Tuy
nhiên trong trường hợp mức độ rủi ro cao, khách hàng cũng bị yêu cầu đặt cọc rủi

am hiểu kĩ về thị trường tài sản và thường được phép xuất nhập khẩu trực tiếp. Nhờ
đó người thuê có thể tiếp cận với nhà sản xuất và những sản phẩm tiên tiến, hiện
đại; tạo ra khả năng đổi mới công nghệ nhanh chóng với chi phí thấp - đây là điều
đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt hiện nay - cùng với những
dịch vụ đào tạo, hướng dẫn, bảo trì… kèm theo của nhà cung cấp. Mặt khác, mối
quan hệ kinh doanh cùng với những kinh nghiệm về thị trường tài sản của công ty
cho thuê tài chính cho phép người thuê có thể bán tài sản cũ, tài sản không sử dụng
để đổi mới công nghệ.
+ Về phía người cho thuê
- Cho thuê tài chính có mức độ rủi ro thấp hơn cho vay
Trong suốt thời hạn thuê, người cho thuê vẫn nắm quyền sở hữu tài sản thuê nên họ
có thể nhanh chóng chiếm hữu lại tài sản nếu người thuê không tuân thủ hợp đồng.
Như vậy, có thể coi tất cả các hợp đồng cho thuê tài chính đều có tài sản thế chấp.
Mặt khác, khi cơ chế xử lý tài sản đảm bảo tiền vay của nước ta còn chưa đồng bộ,
hoạt động cho vay càng trở nên rủi ro hơn so với cho thuê tài chính. Tuy nhiên, việc
tịch thu tài sản không phải là biện pháp đảm bảo rủi ro mà các công ty cho thuê tài
chính mong muốn, hầu hết các công ty đều trông chờ vào phẩm chất của người
thuê. Khả năng giảm thiểu rủi ro đòi hỏi 2 yếu tố, về pháp luật - là những văn bản
quy phạm về quyền sở hữu - và về thị trường - yêu cầu về sự tồn tại một thị trường
thiết bị, máy móc cũ - để tài sản cho thuê có thể dễ dàng được xử lý trong điều kiện
rủi ro xảy ra.
- Tránh được rủi ro đạo đức và sự lựa chọn đối nghịch
Trong các quan hệ tín dụng, rủi ro đạo đức và sự lựa chọn đối nghịch rất dễ xảy ra;
người vay có thể sử dụng sai mục đích cam kết trong hợp đồng các khoản tiền vay,
vì thế tạo rủi ro lớn hơn đối với khoản vay đó, mặt khác chính những người nay lại
có nỗ lực lớn trong việc tìm kiếm nguồn tài trợ, điều này dẫn đến nguy cơ mất khả
năng thanh toán các khoản vay. Đây là điều nguy hiểm đối với các tổ chức tín dụng.
Hoạt động cho thuê tài chính tài trợ người thuê bằng tài sản đồng thời không chuyển
quyền sở hữu nên giảm được những rủi ro trên.
- Phát triển mối quan hệ với khách hàng và thúc đẩy bán hàng

đầu) và là giới hạn chi phí tối đa của dự án được xác định trong quyết định đầu tư.
Theo giai đoạn triển khai công tác đầu tư một dự án, tổng mức đầu tư bao gồm các
thành phận chủ yếu sau:
*Vốn cho chuẩn bị đầu tư: bao gồm các khoản chi phí: điều tra, khảo sát, nghiên
cứu phục vụ cho lập báo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi; lập
báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi (kể cả tư vấn) hoặc báo
cáo đầu tư; chi phí đo đạc, khảo sát đính giá hiện trạng khi lập dự án đầu tư cải tạo
sửa chữa; phí và lệ phí thẩm định;
* Vốn thực hiện đầu tư gồm:
- Chi phí thiết bị bao gồm: chi phí mua sắm thiết bị công nghệ (gồm cả thiết bị phi
tiêu chuẩn cần sản xuất, gia công (nếu có) , các trang thiết bị khác phục vụ sản xuất,
làm việc, sinh hoạt của công trình (bao gồm thiết bị lắp đặt và không cần lắp đặt);
chi phí vận chuyển từ cảng hoặc nơi mua đến công trình, chi phí lưu kho, lưu bãi,
lưu container (nếu có) tại cảng Việt Nam (đối với các thiết bị nhập khẩu), chi phí
bảo quản, bảo dưỡng tại kho bãi ở hiện trường;
- Chi phí xây dựng và lắp đặt thiết bị: chi phí san lấp mặt bằng xây dựng; chi phí
xây dựng công trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công (đường thi công, điện
nước, nhà xưởng v.v…), nhà tạm tại hiện trường để ở vf thi công (nếu có); chi phí
xây dựng các hạng mục công trình; chi phí lắp đặt thiết bị (đối với thiết bị cần lắp
đặt);
- Các chi phí khác: chi phí đền bù và tổ chức thực hiện trong quá trình đền bù đất
đai hoa màu, di chuyển dân cư và các công trình trên mặt bằng xây dựng, chi phí
phục vụ cho công tác tái định cư và phục hồi (đối với công trình xây dựng của dự án
đầu tư có yêu cầu tái định cư và phục hồi); tiền thuê đất hoặc tiền chuyển quyền sử
dụng đất; chi phí khảo sát xây dựng, thiết kế công trình, chi phí mô hình thí nghiệm
(nếu có), chi phí lập hồ sơ mời thầu, chi phí cho việc phân tích, đánh giá kết quả
đấu thầu xây lắp, mua sắm thiết bị; chi phí giám sát thi công xây dựng và lắp và các
chi phí tư vấn khác…
* Vốn đầu tư ở giai đoạn kết thúc đầu tư, đưa dự án vào khai thác sử dụng: chi phí
thẩm tra và phê duyệt quyết toán vốn đầu tư; chi phí tháo dỡ công trình tạm, công

- Nguồn vốn vay: xem xét độ tin cậy về khả năng cho vay của các ngân hàng cam
kết cho vay. Về nguyên tắc, các ngân hàng cũng phải giải trình cho chủ đầu tư về
tình hình khả năng tài chính của mình, về hoạt động kinh doanh của mình thông qua
các báo cáo về kết quả kinh doanh của ngân hàng và chứng minh khả năng ngân
hàng sẽ cung cấp đủ, kịp thời vốn cho dự án theo đúng cam kết với chủ đầu tư. Đặc
biệt đối với các dự án có tổng mức đầu tư lớn, có nhu cầu vay lớn thì việc xem xét
khả năng cho vay của các ngân hàng hết sức quan trọng nó đảm bảo khả năng cung
cấp vốn cho dự án không làm ảnh hưởng đến tiến độ từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả
của dự án do có thể làm chậm tiến độ đưa dự án vào vận hành kinh doanh.
Hiện nay, khi tiến hành công tác lập dự án cũng như xác định nguồn tài trợ cho dự
án, do còn nặng về cơ chế "xin-cho" nên chủ yếu là các doanh nghiệp phụ thuộc vào
các ngân hàng nên các chủ đầu tư phải giải trình với ngân hàng theo các yêu cầu của
ngân hàng để có được khoản tài trợ cho dự án chứ ngân hàng không phải giải trình
hay chứng minh năng lực với chủ đầu tư.
Việc xác định nguồn tài trợ cho dự án cũng là xác định một cơ cấu vốn tối ưu cho
dự án nhằm đem lại hiệu quả cao nhất cho chủ đầu tư. Do có sự ảnh hưởng của yếu
tố đòn bẩy tài chính nên tuỳ theo tình hình tài chính của doanh nghiệp mà chủ đầu
tư sẽ đưa ra một cơ cấu vốn tài trợ cho dự án phù hợp.
c) Thẩm định dòng tiền của dự án đầu tư
Dòng tiền của một dự án đầu tư được hiểu là các khoản chi phí và thu nhập bằng
tiền xuất hiện tại các mốc thời gian khác nhau trong suốt chu kỳ của dự án. Chênh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status