thử cải tiến phơng pháp giảng dạy
môn học địa chất công trình cho
sinh viên hệ chính quy
TS. nguyễn sỹ ngọc
Bộ môn Cơ học đất
Khoa Công trình - Trờng ĐHGTVT
Tóm tắt: Cải tiến phơng pháp giảng dạy nhằm đề cao tinh thần tự học, tự tìm hiểu của
sinh viên, giúp cho sinh viên hiểu bi tốt hơn, thuộc bi dễ hơn v lm quen với cách trả lời câu
hỏi để tạo điều kiện cho sinh viên có thể đạt kết quả cao hơn trong kỳ thi kết thúc môn học.
Summary: Improvement of teaching methods their lessons is to encourage self - study of
students, to help them better understand, easier learn by - heart and to familiar with the good
way to answer the questions, creating condition for them to get the best result in examination.
i. Một vi đặc điểm về dạy v
học môn học địa chất công trình
Địa chất công trình là môn học sử dụng
những tri thức địa chất vào việc xây dựng
công trình. Theo F.G.Bell (Bộ môn địa chất và
địa chất ứng dụng của Trờng Đại học Natal,
Durban, Nam Phi) thì có thể định nghĩa đơn
giản: Địa chất công trình là sự ứng dụng của
địa chất vào thc tế công trình, hay nói một
cách khác, nó liên quan đến những yếu tố địa
chất có ảnh hởng tới địa điểm, thiết kế, xây
dựng và bảo quản công trình. Giáo s V. Đ.
Lomtadze (Bộ môn địa chất công trình Trờng
Đại học Mỏ - Leningrad) cho rằng Địa chất
công trình là môn khoa học về các điều kiện
địa chất để xây dựng công trình, về cách sử
dụng hợp lý môi trờng địa chất và bảo vệ nó
hay trong các điều kiện phát sinh các hiện
tợng địa chất phức tạp
Vì vậy, khi dạy môn học này, có những
phần nh kể chuyện nhng cũng có phần phải
phân tích, nghiên cứu tính toán để tìm ra công
thức cuối cùng và nh vậy đối với ngời dạy
khi giảng sẽ phải biết nhiều chuyện xung
quanh những vấn đề mà mình định giảng,
đồng thời phải nắm chắc những kiến thức cơ
bản của các môn cơ sở có liên quan đến Địa
chất công trình nh toán, lý, hoá, sức bền vật
liệu
Đối với ngời học, cái khó không phải là
đã đợc truyền thụ những vấn đề quá phức
tạp đến nỗi không thể hiểu đợc, hoặc đã gặp
những công thức không thể chứng minh lại
đợc, mà thờng là cha tìm ra đợc những
đặc điểm riêng, cách phân biệt giữa các đối
tợng nghiên cứu (nh các loại đá, các loại
đất) hay cha phân biệt đợc rõ ràng các hiện
tợng địa chất để không bị nhầm lẫn trong khi
trả lời, hoặc kỹ năng tính toán cha thành thạo
để tìm ra đợc các đáp số đúng sau khi đã áp
dụng đúng công thức. Mặt khác, vì môn thi
Địa chất công trình là thi bằng hình thức vấn
đáp, nên phần nào cũng là khó cho những
sinh viên không quen với cách trình bày
miệng, tâm lý khi thi vấn đáp cha vững vàng.
Vì vậy, tuy môn học Địa chất công trình
thủ thời gian học trong những ngày thờng mà
dồn tất cả vào mấy ngày học thi. Nh vậy sẽ
không động viên đợc khả năng tự học, tự
nghiên cứu của sinh viên và khi học thi sẽ rất
mất thì giờ, khó nhớ và khó thuộc bài. Mục
đích của việc cải tiến phơng pháp giảng dạy
là nhằm động viên năng lực t duy của sinh
viên, tạo cho họ khả năng hiểu bài, nhớ bài,
thuộc bài dễ hơn và trình bày tốt hơn để đạt
đợc kết quả cao hơn trong kỳ thi vấn đáp kết
thúc môn học.
Việc học tập của sinh viên đại học lẽ ra
chủ yếu phải là tự học. Giáo s Trần Văn Giầu
có đa ra một công thức là đại học = tự học
nghĩa là phải tự học là chính trong quá trình
đợc đào tạo đại học. Đơng nhiên, việc tự
học chỉ có thể thực hiện đợc trên cơ sở vật
chất của việc học đợc đảm bảo: phải có giáo
trình, phải có phòng thí nghiệm, phải có th
viện tốt. Việc tự học giúp cho sinh viên tăng
cờng khả năng tổng hợp, phân tích các hiện
tợng, chủ động và tích cực học tập. Trên cơ
sở những giáo trình, bài giảng đã có, kết hợp
tốt với th viện, có thể làm sinh viên chủ động
trong nghiên cứu, suy nghĩ thêm đợc nhiều
điều xung quanh vấn đề mình đã đọc.
Theo Giáo s Tạ Quang Bửu thì phải
biến quá trình đào tạo của Thầy, Cô thành
quá trình đào tạo cho sinh viên. Vì vậy, việc
nhớ đợc nội dung của bài và sẽ tạo điều kiện
thuận lợi cho khi học thi (không phải mất thì
giờ để tìm hiểu, suy nghĩ, giải thích những điều
không hiểu khi học trên lớp).
- Làm quen với cách trả lời khi thi vấn
đáp. Trong khi giảng ở lớp, do đợc trả lời trực
tiếp, giúp sinh viên tự tin hơn khi trả lời trớc
giáo viên.
Tuy nhiên, việc cải tiến này cũng sẽ làm
khó một chút cho cả hai phía ngời dạy và
ngời học.
- Về phía ngời dạy: để giảng tốt sẽ phải
đọc thêm nhiều tài liệu bổ sung cho bài giảng.
Những vấn đề, hiện tợng địa chất đơn giản,
dễ hiểu thì việc giải thích nguyên nhân, điều
kiện phát sinh và các biện pháp xử lý chúng
sẽ không có gì là khó hiểu đối với ngời đọc.
Vì vậy, để tăng tính hấp dẫn của bài giảng,
ngời dạy phải đọc thêm nhiều tài liệu liên
quan, bổ sung nhiều kiến thức thực tế mà
trong giáo trình cha có dịp đề cập tới. Thí dụ
nh khi giảng về động đất, sẽ phải bổ sung
nhiều số liệu thực tế về quy mô động đất, mức
độ phá huỷ, thiệt hại của những trận động đất
đã xảy ra gần đây trên thế giới và ở Việt Nam.
Phải giải thích rõ các cách phân cấp độ mạnh
của động đất, mà đôi khi để giải thích chúng
lại phải sử dụng những đơn vị rất cơ bản trong
vật lý sơ cấp nh erg, dyn hay khi giảng về
hiện tợng karst, phải su tầm, chuẩn bị nhiều
sẽ kéo dài suốt tiết học.
iii. Kết quả bớc đầu
Việc áp dụng phơng pháp cải tiến giảng
dạy môn học Địa chất công trình đối với sinh
viên hệ chính quy đã đợc làm thử ở 2 lớp
sinh viên K41. Tuy rằng, cha thực hiện đợc
nhiều (không phải bài nào, tiết nào cũng có
thể yêu cầu sinh viên trả lời hay lên bảng)
nhng nói chung qua thăm dò ý kiến của các
sinh viên đợc hỏi thì tuyệt đại đa số sinh viên
đều tán thành phơng pháp cải tiến này.
Trong 108 ý kiến trả lời thì 104 ý kiến cho là
nên áp dụng cải tiến này vì thấy có lợi, có hiệu
quả khi học và khi thi vì đã giúp họ hiểu bài,
nhớ bài, thuộc bài và biết cách trả lời câu hỏi
và đề nghị nên áp dụng rộng rãi, mặc dù khi
lên lớp, sinh viên căng thẳng một chút nhng
sẽ làm họ tập trung nghe giảng hơn. Có 3 ý
kiến cho rằng phơng pháp này làm sinh viên
căng thẳng quá, khó tiếp thu bài và 1 ý kiến
bỏ phiếu trắng!
Trong 2 lớp đã áp dụng phơng pháp cải
tiến này thì một lớp đã đạt tỷ lệ thi vòng đầu là
> 86% (cao nhất trong cả khoá 41) và tỷ lệ
khá giỏi là 42%, còn lớp kia cũng đạt > 72%
và tỷ lệ khá giỏi là 27% (nằm trong tốp 5 lớp
khá nhất của khoá 41). Việc so sánh kết quả
thi cũng chỉ là tơng đối vì kết quả thi phụ
thuộc chủ yếu vào ý thức tự giác của sinh
viên, vào trình độ chung của cả lớp. Biện pháp