BÁO CÁO THỰC TẬP
Đề tài:
CÁC NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG TRONG QUAN HỆ KINH
TẾ QUỐC TẾ PHÂN TÍCH CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
KHI VIỆT NAM THỰC THI ĐẦY ĐỦ CÁC NGUYÊN TẮC
NÀY TRONG QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ
Trang 1
MC LC
BO CO TH C T P 1
ti: 1
CC NGUYấN T C P D NG TRONG QUAN H KINH T QU C T PHN TCH C H I V
THCH TH C KHI VI T NAM TH C THI Y CC NGUYấN T C NY TRONG QUAN H
KINH T QU C T 1
M C L C 2
II CC CAM K T C A VI T NAM : 7
Vi t Nam cam k t th c hi n l trỡnh gi m thu theo CEPT/AFTA 7
* Xỏc nh thi t h i: 10
Ngaứy 16
Sửù kieọn 16
Q.ủũnh c/cuứng 16
1/ Khỏi ni m v ti tr v ti tr xu t kh u 23
- V i c tr c p nụng nghi p v phi nụng nghi p, WTO u cú ngo i l dnh cho cỏc n c ch m v
ang phỏt tri n. Thớ d , v i tr c p phi nụng nghi p, Hi p nh SCM li t kờ m t s thnh viờn cú
GNP bỡnh quõn u ng i d i 1.000 ụ la M /n m v cho phộp h c duy trỡ tr c p xu t kh u
(trong danh sỏch ny cú c n , Indonesia v Philippines). Hi p nh c ng cho phộp cỏc thnh viờn l
n n kinh t chuy n i c xúa b d n tr c p b c m trong vũng b y n m, k t 1-1-1995. Tuy
nhiờn, b t k quy nh c a Hi p nh SCM, cỏc thnh viờn gia nh p WTO t n m 1995 u khụng
c h ng b t k ngo i l gỡ, tr m t vi tr ng h p hón h u, quy mụ tr c p nh , th i gian xin
chuy n i ng n (thớ d , Jordan c duy trỡ ch hai ch ng trỡnh tr c p xu t kh u trong vũng
hai n m). Th c t ny v vi c ộp cỏc n c m i gia nh p ph i bói b tr c p xu t kh u nụng s n l
nh ng vớ d i n hỡnh c a cỏi g i l tiờu chu n kộp trong m phỏn gia nh p WTO m cỏc t ch c nh
3/ Phân lo i các hình th c tài trạ ứ ợ 25
4/ Nh ng đi m chính (hi p đ nh) c a WTO v ch ng tài tr trong l nh v c công nghi p, nông ữ ể ệ ị ủ ề ố ợ ĩ ự ệ
nghi pệ 25
26
5/ Vài nét v cam k t c a Vi t Nam v vi c gia nh p WTO v tài tr xu t kh u, nêu l trình b tài ề ế ủ ệ ề ệ ậ ề ợ ấ ẩ ộ ỏ
tr xu t kh uợ ấ ẩ 26
- Vi t Nam c ng đã cam k t xóa b tr c p xu t kh u nông s n k t ngày gia nh p WTO và ràng ệ ũ ế ỏ ợ ấ ấ ẩ ả ể ừ ậ
bu c tr c p xu t kh u nông s n m c 0 trong Bi u cam k t v hàng hóa. i v i tr c p b ộ ợ ấ ấ ẩ ả ở ứ ể ế ề Đố ớ ợ ấ ị
c m theo quy đ nh c a Hi p đ nh v Tr c p và các bi n pháp đ i kháng c a WTO, Vi t Nam cam ấ ị ủ ệ ị ề ợ ấ ệ ố ủ ệ
k t xóa b tr c p theo t l n i đ a hoá ho c yêu c u s d ng nguyên li u trong n c và tr c p ế ỏ ợ ấ ỷ ệ ộ ị ặ ầ ử ụ ệ ướ ợ ấ
tr c ti p t ngân sách theo thành tích xu t kh u t th i đi m gia nh p WTO.ự ế ừ ấ ẩ ừ ờ ể ậ
i v i m t s tr c p xu t kh u b c m d i hình th c u đãi đ u t đã c p cho các d án s n xu tĐố ớ ộ ố ợ ấ ấ ẩ ị ấ ướ ứ ư ầ ư ấ ự ả ấ
hàng xu t kh u đ c c p phép tr c khi gia nh p, Vi t Nam đ ngh đ c áp d ng giai đo n chuy nấ ẩ ượ ấ ướ ậ ệ ề ị ượ ụ ạ ể
đ i 5 n m đ xóa b t ng b c các tr c p này nh m b o đ m tôn tr ng cam k t c a Chính ph ổ ă ể ỏ ừ ướ ợ ấ ằ ả ả ọ ế ủ ủ
v i các nhà đ u t hi n t i và n đ nh môi tr ng kinh doanh trong n c.ớ ầ ư ệ ạ ổ ị ườ ướ 26
+ Trong báo cáo c a B Tài chính v nh ng cam k t c a Vi t Nam gia nh p WTO cho bi t, theo ủ ộ ề ữ ế ủ ệ ậ ế
quy đ nh c a WTO v tr c p t p trung ch y u vào vi c phân bi t gi a các hình th c tr c p đ cị ủ ề ợ ấ ậ ủ ế ệ ệ ữ ứ ợ ấ ượ
phép v i các tr c p không đ c phép. Tr c p đ c phép áp d ng bao g m các h tr cho nghiên c u ớ ợ ấ ượ ợ ấ ượ ụ ồ ỗ ợ ứ
phát tri n, h tr vùng khó kh n, h tr b o v môi tr ng Tr c p b c m, ch y u là các kho n ể ỗ ợ ă ỗ ợ ả ệ ườ ợ ấ ị ấ ủ ế ả
tr c p xu t kh u ho c thay th hàng nh p kh u s ph i lo i b hoàntoàn.ợ ấ ấ ẩ ặ ế ậ ẩ ẽ ả ạ ỏ
26
C th , trong cam k t WTO, Vi t Nam ph i b toàn b tr c p xu t kh u đ i v i hàng nông s n ụ ể ế ệ ả ỏ ộ ợ ấ ấ ẩ ố ớ ả
ngay khi gia nh p; v i các kho n h tr trong n c đ c duy trì m c 10% giá tr s n l ng nh ậ ớ ả ỗ ợ ướ ượ ở ứ ị ả ượ ư
các n c đang phát tri n khác trong WTO. Tuy nhiên, theo B Tài chính thì m c h tr trong n c ướ ể ộ ứ ỗ ợ ướ
th c t hi n nay đang th p h n 10%.ự ế ệ ấ ơ
26
Trong công nghi p, xóa b t th i đi m gia nh p các kho n tr c p b c m nh tr c p xu t kh uệ ỏ ừ ờ ể ậ ả ợ ấ ị ấ ư ợ ấ ấ ẩ
và tr c p thay th hàng nh p kh u; nh ng kho n tr c p chi tr c ti p t ngân sách nhà n c. Các ợ ấ ế ậ ẩ ữ ả ợ ấ ự ế ừ ướ
kho n tr c p b c m d i hình th c u đãi đ u t cho xu t kh u và thay th hàng nh p kh u s ả ợ ấ ị ấ ướ ứ ư ầ ư ấ ẩ ế ậ ẩ ẽ
ph i b sau 5 n m t th i đi m gia nh p đ i v i các d án đã đi vào ho t đ ng. Tuy nhiên các u đãi này ả ỏ ă ừ ờ ể ậ ố ớ ự ạ ộ ư
i u 1: Quy ch T i hu qu c (Quan h Th ng m i Bỡnh th ng) v hhụng phõn bi t i
x 41
i u 2: i x qu c gia 41
i u 3: Nh ng ngh a v chung v th ng m i 42
i u 4: M r ng v thỳc y th ng m i 42
i u 5: V n phũng Th ng m i Chớnh ph 42
i u 6:Hnh ng Kh n c p i v i Nh p kh u 42
i u 7: Tranh ch p Th ng m i 43
i u 8: Th ng m i Nh n c 43
i u 9: nh ngh a 43
2/ Haứng Thuỷy saỷn cuỷa Vieọt Nam 60
C/ NH NG NGUYấN T C HO T NG V CC HI P NH C A WTO: 73
WTO 75
Trang 4
CÁC NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG TRONG QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ
PHÂN TÍCH CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC KHI
VIỆT NAM THỰC THI ĐẦY ĐỦ CÁC NGUYÊN TẮC NÀY
TRONG QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ
I. CÁC NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG TRONG QUAN HỆ KINH TẾ
QUỐC TẾ:
1/. Nguyên tắc “Tối huệ quốc” MFN –Most Favoured Nation:
a- Khái Niệm :
Đây là một phần của nguyên tắc “không phân biệt đối
xử” (Non- discrimination). Nghĩa là các bên tham gia trong quan hệ
kinh tế thương mại sẽ dành cho nhau những điều kiện ưu đãi không
kém hơn những ưu đãi mà mình đã hoặc dành cho nước khác.
Nguyên tắc này được hiểu theo hai cách:
Cách một: Tất cả các những ưu đãi và miễn giảm mà một
bên tham gia trong các quan hệ kinh tế - thương mại quốc tế đã hoặc
sẽ dành cho bất kỳ một nước thứ ba nào, thì cũng được dành cho bên
cách bình đẳng và có đi có lại cùng có lợi.
Vì vậy để đạt được chế độ “Tối huệ quốc” của một quốc
gia khác thì có 2 phương pháp thực hiện:
+ Thông qua đàm phán song phương để ký kết các hiệp định thương
mại
+ Gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO
d- Nguyên tắc chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập GSP (The
Generalized Systems Preferential)
* Khái niệm:
Là chế độ tối huệ quốc đặc biệt của các nước công nghiệp
phát triển dành cho các nước đang phát triển khi đưa hàng công
nghiệp chế biến vào các nước này.
Nội dung chính của chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập là:
+ Giảm thuế hoặc miễn thuế quan đối với hàng nhập khẩu từ các nước
đang hoặc kém phát triển.
+ GSP áp dụng cho các loại mặt hàng công nghiệp thành phẩm hoặc
bán thành phẩm và hàng loạt các mặt hàng công nghiệp chế biến.
* Bản chất :
Chế độ ưu đãi được xây dựng trên cơ sở không có sự phân
biệt và không đòi hỏi bất kỳ nghĩa vụ nào từ phía các nước đang phát
triển.
Chế độ GSP không mang tính “có đi có lại”: không buộc
các nước được nhận ưu đãi theo chế độ GSP, phải cho các nước cho
hưởng những ưu đãi tương tự.
Chế độ GSP chỉ dành cho các nước đang phát triển : Đây
là chế độ thuế ưu đãi mà các nước công nghiệp phát triển dành cho
các nước đang phát triển. Cho nên trong quá trình thực hiện GSP, các
nước công nghiệp phát triển kiểm soát và khống chế các nước nhận
ưu đãi rất chặt, thể hiện ở cách quy định về nước được hưởng GSP
Trên cơ sở của Hệ thống GSP, mỗi quốc gia xây dựng một
- Những nước đang có chế độ ưu đãi phổ cập:
+Hiện nay, có khoảng 16 chế độ ưu đãi khác nhau đang
hoạt động tại 36 nước phát triển, bao gồm 27 nước thành viên của EU.
+ EU: Pháp, Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan, Lúc- xăm-bua, Anh,
Ailen, Đan mạch, Hylạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Áo, Thuỵ Điển,
Phần lan, Séc, Hungaria, Ba Lan, Slovakia, Slovenia, Litva, Latvia,
Estonia, Malta, Síp, Bungari và Rumani
+ Nhật, Niu - Di - Lân, Thuỵ Sĩ, Nga, Mỹ, các quốc gia
trung lập (CIS), Canada, Na - Uy, Ôx-Trây-Lia, Ru-Ma-Ni.
- Nước được hưởng GSP:
+ Bao gồm những nước đang phát triển và những nước kém phát
triển. Các nước kém phát triển thường được hưởng một chế độ đặc
biệt riêng, có nhiều ưu đãi hơn các nước đang phát triển. Đối với mỗi
quốc gia dành ưu đãi, các nước được hưởng được liệt kê trong danh
sách ban hành kèm theo chế độ GSP.
- Hàng hoá được hưởng ưu đãi:
+ Hàng hoá được hưởng ưu đãi được phân loại thành hai
nhóm: các sản phẩm công nghiệp và các sản phẩm nông nghiệp.
+ Danh mục hàng hoá được hưởng được các nước cho
hưởng ưu đãi ban hành có sửa đổi định kỳ và được xây dựng trên có
sở biểu thuế xuất nhập khẩu của nước đó.
+ Việc bổ sung hay loại bỏ một mặt hàng nào đó trong
Danh mục được các nước cho hưởng ưu đãi thực hiện dựa trên tình
hình sản xuất trong nước mặt hàng đó.
- Mức độ ưu đãi:
+ Các nước cho hưởng ưu đãi quy định thuế suất ưu đãi
cho chế độ GSP dựa trên mức thuế suất của chế độ đối xử tối huệ
quốc (MFN).
+ Nhìn chung, thuế suất ưu đãi theo chế độ GSP ở mức
thấp khoảng vài phần trăm hoặc được miễn hoàn toàn.
khác với những hạng mục của những nguyên vật liệu, chi tiết hay bộ
phận nhập khẩu sử dụng trong Biểu Thuế Quan Chung
+ Tiêu chuẩn tỷ trọng: Quy định tỷ lệ phần trăm tối thiểu
đối với lao động và nguyên vật liệu phải được sản xuất tại các nước
xuất khẩu hoặc quy định tỷ lệ phần trăm tối đa đối với nguyên vật liệu
nhập khẩu để làm hàng xuất khẩu sang nước cho hưởng GSP. Và
hàng hóa đạt được tiêu chuẩn tỷ trọng thì mới được coi là sản phẩm
thực sự sản xuất tại các nước được hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi. Ở
các nước công nghiệp phát triển khác nhau, cách quy định tiêu chuẩn
về tỷ trọng có khác nhau.
Ngoài ra còn có hai quy tắc khác, đó là : Quy tắc cộng gộp và quy
tắc bảo trợ :
* Quy tắc cộng gộp theo khu vực:
- Theo hệ thống này thì những nước cho hưởng sẽ ký kết một thỏa
ước với một khối nước trong khu vực cho phép rằng một hàng hóa có
xuất xứ tại bất kỳ một nước nào đó trong khu vực, cũng được coi là có
xuất xứ một nước khác trong cùng khu vực đó.
* Quy tắc bảo trợ:
- Một số nước như Úc, Canada, Nhật Bản, NewZealand, EU áp
dụng quy tắc bảo trợ. Quy tắc này cho phép nguyên phụ liệu nhập từ
nước cho hưởng để sản xuất ra thành phẩm tại nước được hưởng sẽ có
xuất xứ của nước được hưởng với điều kiện sản phẩm này được xuất
ngược trở lại nước cho hưởng.
c.2) Điều kiện vận tải:
Quy định bắt buộc sản phẩm có xuất xứ phải được vận
chuyển thẳng từ nước được hưởng đến nước cho hưởng là một vấn đề
quan trọng phổ biến của tất cả các quy tắc xuất xứ GSP trừ của Úc.
Mục đích của quy định này là cho phép cơ quan hải quan nước cho
hưởng nhập khẩu bảo đảm rằng sản phẩm nhập khẩu chính là những
sản phẩm từ nước được hưởng, có nghĩa là chúng không bị tác động,
được hưởng được phép đưa vào thương mại tại một nước được hưởng
khác mà không mất tiêu chuẩn xuất xứ.
- Na-Uy không có quy định về vận tải
- Mỹ quy định:
Những sản phẩm phải đến Mỹ sau khi rời khỏi nước sản
xuất. Quy tắc riêng áp dụng cho những chuyến đi qua khu vực mậu
dịch tự do tại nước được hưởng như sau:
(a) Hàng hoá không được đưa vào buôn bán tại nước có khu vực mậu
dịch tự do đó.
(b) Hàng hoá không được trải qua bất kỳ hoạt động nào khác ngoài:
+ Lựa chọn, phân loaị, hoặc kiểm tra;
+ Đóng gói, tháo mở bao bì, thay đổi bao bì, gạn chắt hoặc
đóng gói lại vào công ten nơ khác;
+ Dán hay ghi ký hiệu, nhãn hiệu, hoặc những dấu hiệu
hay những điểm hoặc bao bì phân biệt tương tự khác, nếu mang tính
trợ giúp cho những hoạt động được phép theo những quy định đặc
biệt; hoặc
+ Những hoạt động cần thiết để bảo đảm việc bảo quản
hàng hoá trong tình trạng bình thường khi được đưa vào khu mậu dịch
tự do;
(c) Hàng hoá có thể được mua và bán lại, không phải là bán lẻ, để
xuất khẩu trong khu mậu dịch tự do. Vì mục đích của những quy định
đặc biệt này, khu mậu dịch tự do là khu vực hoặc một vùng được xác
định trước đã được thông báo hoặc bảo hộ của chính phủ, ở nơi này
những hoạt động nhất định có thể được tiến hành đối với hàng hoá,
trừ những hàng hoá như vậy nhưng đã đi vào lưu thông thương mại
của nước có khu mậu dịch tự do.
+ Bungary, Cộng hoà Séc, Hungary, Ba Lan, Liên bang
Nga và Slôvakia
+ Những nước này áp dụng quy tắc mua thẳng và vận
hàng hoá xuất khẩu đi qua lãnh thổ một nước thứ ba, chứng từ chứng
minh điều kiện vận chuyển thẳng đã được đáp ứng phải được trình
cho cơ quan hải quan nước nhập khẩu bao gồm:
+ Vận đơn suốt cấp tại nước xuất khẩu được hưởng, thể hiện
việc đi quan một hay nhiều nước quá cảnh; hoặc
Trang 6
+ Giấy chứng nhận của cơ quan hải quan của một hay nhiều
nước quá cảnh:
- Thể hiện mô tả chính xác hàng hoá;
- Ghi ngày dỡ hàng và xếp hàng hoặc ngày lên tàu hoặc
xuống tàu, ghi rõ tàu sử dụng;
- Xác nhận những tình trạng của sản phẩm trong khi đi qua
các nước quá cảnh.
+ Không có các giấy tờ trên, bất kỳ giấy tờ thay thế nào được
cho là cần thiết (ví dụ, bản sao lệnh mua hàng, hóa đơn của người
cung cấp hàng, vận đơn thể hiện tuyến đường hàng đi)
- Đối với hàng xuất sang Mỹ, người nhập khẩu có thể phải xuất trình
các giấy tờ hàng hải, hoá đơn hoặc các giấy tờ khác làm bằng chứng
chứng minh hàng hoá được nhập khẩu thẳng. Cơ quan hải quan Mỹ có
thể không đòi hỏi xuất trình chứng từ về vận chuyển thẳng khi cơ
quan này biết rõ rằng hàng hoá đáp ứng tiêu chuẩn xuất xứ GSP.
Trong trường hợp vận chuyển quá cảnh, hoá đơn, vận đơn và giấy tờ
khác liên quan đến vận tải phải được trình cho hải quan Mỹ nơi đến
cuối cùng.
e- Nguyên tắc đối xử quốc gia –NT ( National Treatment):
* Khái niệm:
- Nguyên tắc đối xử quốc gia là nguyên tắc tạo ra môi trường kinh
doanh bình đẳng giữa nhà kinh doanh trong nước và kinh doanh nước
ngoài trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ và đầu tư. Cụ thể, hàng nhập
khẩu không phải chịu mức thuế, lệ phí, thủ tục kinh doanh, và bị áp
huệ quốc
Hàng hóa Việt Nam đưa vào Mỹ
được hưởng Quy chế Tối huệ quốc
Hàng hóa Việt Nam đưa vào Mỹ
được hưởng Quy chế Tối huệ
quốc
Ngay lập tức và vô điều kiện, Việt
Nam có thể tổ chức phân phối hàng
hóa trên thị trường Mỹ.
Việt Nam cam kết giải quyết tranh
chấp thương mại với Hoa Kỳ theo
các thông lệ quốc tế
Hoa Kỳ cam kết giải quyết tranh
chấp thương mại với Việt Nam theo
các thông lệ quốc tế
- Việc thực thi Quyền Sở hữu Trí Tuệ được đặt trên Nguyên tắc Đối
xử quốc gia
- Về Thương mại dịch vụ:
+ Theo lộ trình, Chính phủ Việt Nam sẽ mở cửa thị trường
dịch vụ của mình cho các hoạt động dịch vụ của các công dân và công
ty Hoa Kỳ vào Việt Nam hoạt động dựa trên Nguyên tắc Tối huệ
quốc-MFN và Nguyên tắc Đối xử quốc gia –NT.
+ Quan hệ đầu tư giữa hai bên Hoa Kỳ và Việt Nam về cơ
bản được thiết lập dựa trên 2 nguyên tắc: Đối xử quốc gia và Đối xử
Tối huệ quốc.
+ Thượng viện Mỹ ngày 9/12 đã thông qua dự luật Quan hệ
thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) với Việt Nam
+ Quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) theo
luật Hoa Kỳ, cùng nghĩa với Tối huệ quốc (MFN) vô điều kiện quy
định trong WTO. Các thành viên WTO dành cho nhau quy chế Tối
các nước trong khối ASEAN cam kết thực hiện Nguyên tắc Tối huệ
quốc dành cho nhau .
- Một sản phẩm khi xuất khẩu sang các nước trong nội bộ ASEAN,
muốn được hưởng chế độ thuế quan ưu đãi theo chương trình CEPT,
thì phải đồng thời thõa mãn các điều kiện sau :
+ Sản phẩm đó phải nằm trong danh mục cắt giảm thuế
của nước xuất khẩu và nhập khẩu.
+ Sản phẩm đó phải có chương trình giảm thuế đươc Hội
đồng AFTA thông qua
+ Sản phẩm đó phải là một sản phẩm của khối ASEAN,
tức là phải thỏa mãn yêu cầu hàm lượng xuất xứ từ các nước thành
viên ASEAN( hàm lượng nội địa) ít nhất là 40%
Việt Nam cam kết thực hiện lộ trình giảm thuế theo CEPT/AFTA
+Trên 10 ngàn mặt hàng thực hiện theo CEPT/AFTA
+ Theo Danh mục hàng hoá và mức thuế suất thuế nhập
khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định
CEPT/AFTA giai đoạn 2006-2013 (gọi tắt là Danh mục
CEPT/AFTA), có tổng số 10.342 mặt hàng đã được đưa vào danh
mục cắt giảm thuế, trong đó có 5.478 mặt hàng có thuế suất 0%;
10.283 mặt hàng có thuế suất 0-5%. Thuế suất CEPT bình quân hiện
nay là 2,48%.
+ Lộ trình xoá bỏ hoàn toàn thuế suất đối với toàn bộ các
sản phẩm nhập khẩu từ ASEAN theo CEPT kể từ năm 2015. Lộ trình
xoá bỏ thuế suất theo CEPT đã được các nhà hoạch định chính sách
chuẩn bị sẵn. Theo đó, mức thuế suất bắt đầu giảm để từ đó giảm
xuống 0% (xoá bỏ thuế quan) là mức thuế suất CEPT vốn dĩ đã ở mức
0-5% ngay từ năm 2006. Theo lộ trình hiện tại thì 97% số mặt hàng
đã có thuế suất 0-5%, trong đó trên 50% số mặt hàng đã có thuế suất
0%. Đối với một số mặt hàng của các ngành nông nghiệp, thuỷ sản,
ôtô, công nghệ thông tin, điện tử, y tế, sản phẩm cao su, may mặc và
khoáng sản và lâm sản trừ một số sản phẩm thuộc 27 hạng mục thuế
quan.
- Ưu đãi thuế quan:
- Các sản phẩm nông sản:
+ Việc cắt giảm thuế, bao gồm cả miễn thuế, được áp dụng
cho nhiều sản phẩm thuộc chế độ.
+ Các sản phẩm công nghiệp:
- Các sản phẩm công nghiệp thuộc chế độ về nguyên tắc được miễn
thuế trừ một số sản phẩm thuộc 66 hạng mục thuế quan là những sản
phẩm được cắt giảm 50% thuế so với thuế suất Tối huệ quốc.
* NAUY
+ Các nước đang phát triển (Các nước GSP), theo Na-Uy,
là những nước mà vào bất kỳ lúc nào đều được cơ quan Na-Uy công
nhận là nước đang phát triển và được liệt kê trong "Danh sách các
nước GSP".
+ Các nước đang phát triển được chia thành hai nhóm.
Nhóm I bao gồm các nước GSP "chậm phát triển" (LDCs) và Nhóm II
bao gồm các nước GSP "bình thường". LDCs nói chung, theo tình
hình đặc biệt của họ, được hưởng chế độ thuế quan ưu đãi tốt hơn so
với các nước đang phát triển "bình thường".
+ Việt Nam nằm trong danh sách các nước GSP bình
thường
+ Để được hưởng ưu đãi thuế quan khi nhập khẩu sản phẩm
hưởng GSP vào Na-Uy, các điều kiện sau phải được đáp ứng:
- Sản phẩm phải được làm tại nước đang phát triển được hưởng GSP
của Na-Uy.
- Sản phẩm phải được sản xuất tại nước đang phát triển được hưởng
liên quan tuân theo quy tắc xuất xứ của chế độ GSP Na-Uy.
- Sản phẩm phải được vận chuyển thẳng đến Na-Uy từ nước xuất
khẩu liên quan.
theo các tiêu chuẩn chung quốc tế để tạo ra hành lang pháp lý cho sự
phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam, đây được coi là cơ sở nền
tảng cho sự phát triển kinh tế có hiệu quả, tham gia hội nhập thành
công vào nền kinh tế toàn cầu.
+ Cơ chế điều hành xuất nhập khẩu, thủ tục hải quan của nước
ta tất yếu sẽ được hoàn thiện theo hướng đơn giản hóa, công khai hóa
và thuận lợi, giúp cho hoạt động xuất nhập khẩu phát triển mạnh, với
chi phí thủ tục thấp.
+ Hệ thống thuế quan của Việt Nam phải sửa đổi theo hướng
minh bạch, rõ ràng hơn (nguyên tắc dễ dự đoán) và có xu hướng giảm
giúp các doanh nghiệp có thể lập kế hoạch đầu tư và hoạt động
thương mại dài hạn.
+ Môi trường kinh doanh của Việt Nam sẽ được cải thiện theo
hướng thông thoáng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế có thể cạnh tranh bình đẳng, không còn sự độc
quyền trong kinh doanh.
+ Môi trường đầu tư của Việt Nam được cải thiện theo hướng
hấp dẫn hơn, nhờ đó mà tăng cường khả năng thu hút vốn đầu tư
nước ngoài phục vụ cho sự phát triển kinh tế.
Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam được hưởng Quy chế Tối huệ quốc khi đưa vào thị trường Mỹ, tính cạnh tranh về giá của sản phẩm gia
tăng đáng kể vì thuế nhập khẩu giảm, giảm bình quân từ̀ 40-70% xuống còn 3-7%.
Thị trường xuất khẩu sẽ ngày càng được ổn định do có nhiều thuận lợi cho việc tiếp cận thị trường. Chúng ta có thể dự báo được thị trường
cho hàng xuất khẩu dài hạn trong tương lai và tạo ra mối quan hệ thương mại chắc chắn hơn, góp phần tạo thuận lợi cho việc hoạch định các
chính sách về đầu tư và phát triển sản xuất công-nông nghiệp, giảm thiểu những rủi ro trong thương mại quốc tế.
Là động lực kích thích các doanh nghiệp Việt Nam phải mau chóng nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm mình trên thị trường trong và
ngoài nước.
Hoạt động thương mại dịch vụ có điều kiện phát triển thuận lợi nên các doanh nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam sẽ được hưởng các dịch
vụ chất lượng hơn, phong phú hơn, rẽ hơn nhờ đó chi phí kinh doanh hạ hơn, mức sống người lao động gia tăng.
Việt Nam được hưởng các chính sách Chế độ thuế quan ưu đãi GSP của các nước phát triển là một cơ hội để Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu,
mở rộng thị trường tăng khả năng cạnh tranh so với nước không được hưởng chế độ ưu đãi này. Nhưng đây cũng là một thách thức lớn đối
+ Giá có thể so sánh được trong điều kiện thương
mại thông thường ("giá trị thông thường")
+ Giá của sản phẩm tương tự khi tiêu thụ ở thị trường
nước xuất khẩu.
- WTO không đề cập đến trường hợp bán phá giá sản phẩm tương tự
trong thị trường nội địa của một nước.
+ Sản phẩm tương tự (SPTT): là sản phẩm giống hệt hoặc
có các đặc tính gần giống với sản phẩm là đối tượng điều tra.
+ Điều kiện thương mại thông thường: tuy không có định
nghĩa về điều kiện thương mại thông thường nhưng có một số trường
hợp, khi giá bán tại thị trường nội địa nước xuất khẩu thấp hơn giá
thành sản xuất thì có thể coi như là không nằm trong điều kiện thương
mại thông thường.
2. Nguyên tắc xác định phá giá:
+ Biên độ phá giá (BĐPG) = giá trị thông
thường (GTTT) - giá xuất khẩu (GXK)
+ Nếu BĐPG > 0 là có phá giá
+ BĐPG có thể tính bằng trị giá tuyệt đối hoặc
theo phần trăm theo công thức:
+ BĐPG = (GTTT-GXK)/GXK
a.)Tính biên độ phá giá ( BĐPG):
Cách tính GTTT
Trường hợp không có giá nội địa của SPTT ở nước xuất khẩu do:
- SPTT không được bán nước xuất khẩu trong điều kiện thương
mại thông thường; hoặc
- Có bán ở nước xuất khẩu nhưng trong điều kiện đặc biệt; hoặc
- Số lượng bán ra không đáng kể (< 5% số lượng SPTT bán ở
nước nhập khẩu thì:
GTTT = giá xuất khẩu SPTT sang nước thứ ba ; hoặc
GTTT = giá thành sản xuất + chi phí (hành chính, bán hàng, quản lý
- Số lượng sản phẩm
- Đặc tính vật lý của sản phẩm
- Và những yếu tố khác ảnh hưởng đến việc so sánh hai giá
3. Phân loại bán phá giá:
Có 3 loại bán phá giá:
Bán phá giá dai dẳng
Bán phá giá thường xuyên
Bán phá giá không thường xuyên
Trong việc bán phá giá dai dẳng, thì hàng hóa liên tục được
bán với một giá thấp hơn so với giá cả trong nước nhập khẩu. Tình
trạng này là tình trạng mà trong đó hàng hóa đơn giản là hàng nhập
khẩu khác được bán dưới những điều kiện tối đa hóa lợi nhuận. Bất
kỳ hàng rào thương mại nào cũng sẽ dẫn đến một giá cả cao hơn đối
với người tiêu dùng trong nước nhập khẩu và ảnh hưởng của phúc lợi
của chúng
Trong bán phá giá thường xuyên, một xí nghiệp nước ngoài sẽ
bán tại giá cả thấp cho đến khi những nhà sản xuất trong nước bị loại
ra khỏi thị trường; lúc đó giá cả sẽ gia tăng bởi sự độc quyền xuất
hiện. Những nhà sản xuất trong nước lúc đó có thể được lôi kéo trở lại
thị trường cho đến khi giá cả giảm xuống trở lại. Có một tranh luận có
giá trị cho việc bảo hộ với việc bán phá giá thường xuyên do việc di
chuyển nguồn lực lãng phí. Khi những nhân tố sản xuất di chuyển vào
và ra một ngành bởi ảnh hưởng của giá cả nhập khẩu thì chi phí và và
sự lãng phí đổ dồn cho xã hội
Việc bán phá giá không thường xuyên sẽ xuất hiện khi nhà
sản xuất nước ngoài (hoặc chính phủ) với một thặng dư sản phẩm tạm
thời xuất khẩu số này tại bất cứ giá nào mà nó cần. Việc bán phá giá
theo kiểu này có thể có những ảnh hưởng xấu tạm thời đến việc cạnh
tranh với những nhà cung cấp trong nước chủ nhà bởi việc làm gia
tăng rủi ro trong hoạt động của ngành. Những rủi ro này cũng như sự
- Có rẻ hơn giá SPTT sản xuất ở nước nhập khẩu nhiều không?
- Có làm sụt giá hoặc kìm giá SPTT ở thị trường nước nhập khẩu
không?
=> Khi sản phẩm thuộc diện điều tra được nhập khẩu từ nhiều nước:
đánh giá gộp tác động nếu BĐPG >= 2% GXK và khối lượng hàng
nhập khẩu từ mỗi nước >= 3% khối lượng nhập khẩu SPTT.
Việc khảo sát tác động của hàng nhập khẩu bị bán phá giá
đối với một ngành sản xuất trong nước phải xem xét tất cả các yếu tố
kinh tế có thể ảnh hưởng đến ngành sản xuất đó, gồm những yếu tố
sau:
- Năng suất
- Thị phần
- Biên độ phá giá
- Giá nội địa ở nước nhập khẩu
Trang 10
- Suy giảm thực tế và nguy cơ suy giảm doanh
số bán hàng
- Số lượng hàng tồn kho
- Sản lượng
- Tình trạng thất nghiệp
- Lương
- Tác động tiêu cực đến luồng tiền
- Huy động năng lực
- Lợi nhuận
- Tỷ lệ thu hồi vốn đầu tư
- Đầu tư
- Khả năng huy động vốn
- Tốc độ tăng trưởng
Khi xác định mối liên hệ giữa việc bán phá giá hàng nhập
khẩu và thiệt hại cho một ngành sản xuất trong nước: cần tính đến
dụng thuế chống phá giá, tức là nếu hàng hóa bị bán phá giá được
xuất khẩu từ những quốc gia khác nhau với cùng biên độ phá giá như
nhau thì sẽ áp đặt mức thuế chống phá giá ngang nhau. Mức thuế
chống phá giá sẽ phụ thuộc vào biên độ phá giá của từng nhà xuất
khẩu chứ không phải áp dụng bình quân (ngay cả khi các nhà xuất
khẩu từ cùng một quốc gia) và không được phép vượt quá biên độ phá
giá đã được xác định.
* Có 2 hình thức thu thuế chống bán phá giá:
- Kiểu tính thuế hồi tố (kiểu của Hoa kỳ):
+ Việc tính mức thuế được căn cứ vào số liệu của thời
điểm trước khi điều tra (6 tháng - 1 năm). Sau khi điều tra, cơ quan
chức năng bắt đầu áp dụng một mức thuế chống bán phá giá. Sau khi
áp dụng được một thời gian, nếu nhà nhập khẩu yêu cầu đánh giá lại
mức thuế (do giá xuất khẩu tăng lên) thì cơ quan chức năng sẽ tiến
hành xác định lại số tiền thuế phải nộp trong vòng 12 tháng, chậm
nhất là 18 tháng ngay sau khi nhận được yêu cầu. Sau đó mức thuế
mới sẽ được áp dụng. Việc hoàn thuế sẽ được thực hiện trong vòng 90
ngày sau khi xác định lại mức thuế cuối cùng phải nộp.
- Kiểu tính thuế ấn định (kiểu của EU):
+ Cơ quan điều tra lấy số liệu của thời điểm trước khi điều
tra để tính biên độ phá giá và ấn định biên độ này cho cả quá trình áp
dụng thuế chống bán phá giá. Sau khi áp dụng được một thời gian,
nếu nhà nhập khẩu đề nghị hoàn thuế với phần trị giá cao hơn biên độ
phá giá (do giá xuất khẩu tăng) thì cơ quan chức năng sẽ tiến hành
xem xét việc hoàn thuế trong vòng 12 tháng, chậm nhất là 18 tháng
ngay sau khi nhận được đề nghị hoàn thuế kèm theo đầy đủ bằng
chứng. Việc hoàn thuế sẽ được thực hiện trong vòng 90 ngày kể từ
khi ra quyết định hoàn thuế.
- Tuy nhiên, không phải bất kỳ trường hợp bán phá giá nào cũng bị áp
đặt các biện pháp chống bán phá giá. Theo quy định của WTO cũng
trên thị trường quốc tế.
Xét ở góc độ người tiêu dùng, việc hàng hóa nước ngoài được
bán phá giá sẽ mang lại những lợi ích cụ thể, trước mắt cho họ do
mua được hàng hóa với giá rẻ. Tuy nhiên, việc bán phá giá sẽ kéo
theo hàng loạt những tác động xấu cho các ngành sản xuất trong
nước. Nó dần dần bóp chết các ngành sản xuất non trẻ và thiếu sức
cạnh tranh. Ngoài ra, một khi hàng hóa bán phá giá đã chiếm lĩnh
được thị trường thì các nhà xuất khẩu chắc chắn không dừng lại ở đó
mà họ sẽ nâng dần giá hàng để thu lợi nhằm bù đắp những chi phí của
việc bán phá giá. Lúc đó, người tiêu dùng sẽ phải mua hàng hóa với
giá cao.
Chống phá giá là một công cụ lợi hại mà các nước đang sử
dụng như một con bài để bảo hộ sản xuất trong nước và bảo đảm một
nền thương mại công bằng.
Thông thường thì tranh chấp liên quan tới bán phá giá chỉ
thuần tuý mang tính thương mại, nhưng đôi khi ẩn đằng sau lại là các
vấn đề có tính chính trị nhạy cảm tại nước nhập khẩu cũng như giữa
nước nhập khẩu với nước xuất khẩu. Tại nước nhập khẩu việc điều tra
và áp dụng các biện pháp chống bán phá giá sẽ động chạm trực tiếp
tới lợi ích vật chất của hai nhóm lợi ích căn bản là những nhà sản xuất
mặt hàng tương tự và những người tiêu dùng mặt hàng đó, trong số
này phải kể tới những nhà sản xuất sử dụng mặt hàng này như đầu
vào cho quá trình sản xuất của họ.
Mặc dù lợi ích chung của toàn xã hội có thể bị giảm nếu áp
dụng biện pháp chống bán phá giá nhưng thông thường do sức mạnh
chính trị của các nhà sản xuất cao hơn của nhóm còn lại nên cơ quan
có thẩm quyền vẫn đưa ra những quyết định có lợi cho họ. Chính vì
vậy trong một số tranh chấp dù cho nước xuất khẩu rất tích cực vận
động nhưng do bối cảnh chính trị ở nước nhập khẩu mà kết quả cuối
cùng vẫn khó có thể thay đổi.
với các nước đang phát triển.
IV. THỰC TIỄN BÁN PHÁ GIÁ VÀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ Ở
VIỆT NAM. PHÂN TÍCH VỀ MỘT SỐ BÀI HỌC RÚT RA TỪ
CÁC VỤ CHỐNG PHÁ GIÁ ĐỐI VỚI CÁ DA TRƠN VÀ TÔM:
1. Tình hình hàng xuất khẩu của Việt Nam bị nước ngoài điều tra
và áp dụng thuế chống bán phá giá:
Hơn một thập kỷ qua Việt nam đã đạt được thành tựu ngoạn
mục trong việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa. Tuy nhiên, tình trạng
hàng xuất khẩu của ta bị nước nhập khẩu điều tra và áp dụng thuế
chống bán phá giá ngày càng tăng. Trong xu hướng nhiều nước trên
thế giới tăng cường sử dụng biện pháp chống bán phá giá như một
công cụ bảo hộ thì có thể dự kiến rằng trong thời gian tới chúng ta sẽ
phải đối phó với biện pháp này nhiều hơn khi kim ngạch xuất khẩu
nhiều mặt hàng tăng mạnh.
2. Phân tích về một số bài học rút ra từ vụ chống phá giá đối với
cá da trơn:
a.) Khái quát về pháp luật chống bán phá giá của Hoa
Kỳ:
Chính sách chống phá giá của Hoa kỳ được thể hiện thông
qua Luật chống bán phá giá năm 1921. Sau khi WTO ra đời trên cơ sở
kết quả đàm phán của vòng Uruguay vào năm 1995, các quy định của
Hoa kỳ về chống bán phá giá phải tuân thủ theo Hiệp định về chống
bán phá giá của WTO. Trên cơ sở đó, Hoa kỳ đã ban hành Quy định
về chống bán phá giá và chống trợ cấp vào năm 1997, trong đó hướng
dẫn tiến trình thực hiện về điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá.
b.) Vụ cá da trơn:
* Khi “Catfish” không được gọi là “Catfish”
Câu
chuyện
2002,
ngày
mà Hiệp
hộ
i
Doanh
ngh
i
ệp
Cá
da
trơn
Mỹ
(CFA)
gử
i
đơn
trơn
của
V
i
ệ
t
Nam
đã
bán
phá
giá.
Câu
chuyện
thực
chấ
t
đã
bắ
da
trơn
của
Mỹ
sau
kh
i
bị các
nhà
sản
xuấ
t
Việ
t
Nam
cạnh
tranh
bang
và
liên
bang
để
cấm
các
nhà
sản
xuấ
t
Việ
t
Nam
sử
dụng
t
rẻ
hơn
g
i
á
t
hành
cá
da
trơn
t
ạ
i
khu
vực
Đông
Nam
của
ệu
pao
vào năm
2001.Hiệp
định
thương
mạ
i
giữa
Việ
t
Nam
và
Hoa
Kỳ
đố
i
vớ
i
cá
da
trơn
của
V
i
ệ
t
Nam
có
thể
là mộ
t
trong
những
Mỹ
t
ừ 12,5
t
r
i
ệu
pao
vào
năm
2000
t
ớ
i
26
triệu
pao
vào
năm
xu
mộ
t
pao,
t
ức
l
à
thấp
hơn
g
i
á
t
hành
khoảng
15
xu
2001,
CFA
đã
phát
động
mộ
t
ch
i
ến
dịch
tiêu
t
ốn
500.000
đô
l
a
i
ều
k
i
ện
vệ
sinh
của
cá
da
trơn
V
i
ệ
t
Nam,
(ii)
vấn
đề
V
i
ệ
t
Nam
khi
l
ợ
i
dụng
thị
trường
đã
được
phát
triển
bằng
nguồn
xuấ
t
V
i
ệ
t
Nam
đã
cố
tì
nh
gây
l
ẫn
l
ộn
về
nhãn
mác, CFA
tên
gọ
i
là
Ictaluridae
-
mớ
i
t
hực
sự
là cá
da
trơn”
bấ
t
chấp
sự
hích
rằng “cá
da
trơn
chỉ
là
loạ
i
cá
thuộc
dòng
có
tên
Latinh
Ictaluridae.
Giống
cá
Phi
và
Đông
Nam
Á’”.
Quy
định
về nhãn
h
i
ệu
sau
đó
được
mở
rộng
i
tên
catfish.
Những
quy
định
t
ương
t
ự
về
nhãn
mác
cũng
được
ban
hành
sau
đó
ti
ếp
thị
sản
phẩm
của
m
ì
nh
dướ
i
t
ên
cá
“
t
ra”
cá
basa
và
tra
của
V
i
ệ
t
Nam
vào
năm
2002
vẫn
đạ
t
số
l
t
ăng
trưởng
của
sản
l
ượng
nhập
khẩu
t
ừ
năm
2000
đến
2002
là
187,4%
số
nhà
chế
biến
cá
da
trơn
Mỹ
(Sau
đây
gọ
i
l
à
Bên
nguyên)
rơn
của
Mỹ
bị
chịu
thiệ
t
hạ
i
đáng
kể
vì
nhập
khẩu
của
cá
da
ra
vụ
án
chống
phá
giá
trên Công
báo
(67
FR
48437).
Việt Nam chưa phải là nước có nền kinh tế thị trường,
ngay khi DOC kết luận kinh tế Việt Nam là phi thị trường, con cá
basa đã đối mặt với muôn vàn khó khăn. Và cũng từ đây, vụ kiện bán
phá giá đã chuyển sang giai đoạn mới, trong đó, cá basa của Việt Nam
được "giả dụ" là đến từ Bangladesh.
* Các công ty Việt nam đối phó như thế nào với vụ kiện:
- Các biên sơ bộ:
+ Đối với bốn bị đơn bắt buộc trong cuộc điều tra này, Công ty Cổ
phần Xuất Nhập khẩu Thuỷ sản An Giang (“Agifish”), Công ty Xuất Nhập khẩu
định
việc
phá
giá
và trường
hợp
khẩn
cấp
vào
ngày
31/1/2003
(68
FR
4986).
Khẳng
định
ITC
t
ổ
chức
phiên
xé
t
xử
vào
ngày
17/6/2003.
DOC
có
phán
quyế
t
cuố
(68
FR
37116)
3. Các giải pháp đối phó với các vụ kiện:
Việc tham gia các vụ điều tra chống phá giá đòi hỏi rất
nhiều kiến thức chuyên môn và cách ứng xử chuyên nghiệp. Mặc
dù thủ tục chống phá giá là thủ tục hành chính nhưng nó vẫn được
coi như là “bán tố tụng”. Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp
không thể trả lời chỉ dựa trên cảm tính đơn thuần mà phải dựa trên
bằng chứng. Các doanh nghiệp cần ý thức được rằng các phản ứng
cảm tính có thể làm xấu đi mối quan hệ giữa cơ quan điều tra và
doanh nghiệp chứ không làm nó tốt lên.
Do đó, các doanh nghiệp
cần phải coi việc chuẩn bị thông tin và dữ liệu cho cuộc điều tra là
quan trọng hàng đầu trong kế hoạch làm việc của họ.
Các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình điều tra phải
hợp tác với cơ quan điều tra. Thay vì việc cố gắng chứng minh “ai
đúng” và “ai sai” thì doanh nghiệp cần tập trung vào việc cung
cấp cho cơ quan điều tra tất cả các thông tin mà cơ quan này cần.
Điều quan trọng nhất không phải là chứng minh rằng “lẽ phải thuộc
về mình” mà là giảm thiểu mức áp thuế chống bán phá giá
càng thấp càng tốt.
Các doanh nghiệp không hợp tác trong vụ kiện cá da
trơn và vụ tôm đã bị áp mức thuế suất cao hơn nhiều so với các
doanh nghiệp được coi là hợp tác.
Tôn trọng thời hạn của các Bảng câu hỏi là rất quan
trọng. Những thông tin cung cấp muộn có thể bị cơ quan điều tra
Hiệp hội cũng chịu trách nhiệm trong việc tổ chức đào tạo cho
các thành viên để đối phó với việc điều tra chống bán phá giá cũng
như là người phát triển mạng lưới quan hệ ở quốc gia xảy ra vụ
kiện. Mỗi hiệp hội doanh nghiệp cần thành lập một nhóm chuyên
trách để chuẩn bị cho các vụ kiện chống bán phá giá. Các nhiệm
vụ chính của nhóm chuyên trách này gồm:
+ Đánh giá mức khả năng hàng hoá của hiệp hội bị
kiện chống bán phá giá ở nước ngoài;
+ Nghiên cứu luật pháp về chống bán phá giá tại các thị
trường xuất khẩu chính của hiệp hội;
+ Làm việc với luật sư và các kinh tế gia chuyên ngành
về chống bán phá giá để nghiên cứu các vụ kiện trước đây tại các
quốc gia mà hàng hoá Việt Nam có khả năng bị kiện để tìm hiểu
chiến thuật và chiến lược của ngành công nghiệp nội địa tại quốc
gia đó cũng như quan điểm của cơ quan quản lý chống bán phá
giá;
+ Làm việc với các thành viên hiệp hội để hoàn thiện
tiêu chuẩn kế toán nhằm đáp ứng các đòi hỏi của việc điều tra
chống bán phá giá;
+ Hoạch định một kế hoạch nhằm hợp tác giữa các thành
viên của hiệp hội trong trường hợp bị kiện.
Việc gia nhập WTO giúp chúng ta mới tránh được sự phân
biệt đối xử trong thương mại, bao gồm cả việc giải quyết các tranh
chấp về bán phá giá. Hơn nữa, ta có thể sử dụng cơ chế giải quyết
tranh chấp có hiệu quả và khá công bằng của WTO. Chẳng hạn, từ
1995 tới 10/2000 đã có tổng cộng 186 vụ tranh chấp thương mại được
giải quyết trong WTO, trong đó có 24 vụ liên quan tới bán phá giá
(13%). Trong số 24 vụ tranh chấp này thì Hoa kỳ bị kiện 7 vụ, EU 2
vụ, các nước đang phát triển 7 vụ. Trong năm 2001 có 8 vụ kiện về
bán phá giá thì Hoa kỳ bị kiện tới 3 vụ.
đạt mức tăng trưởng nhanh nhất. Dự kiến cả năm, sản lượng cá
tra, ba sa xuất khẩu đạt 210.000 tấn, trị giá khoảng 560 triệu
USD. Đáng nổi bật là giá trị kim ngạch xuất khẩu cá tăng mạnh ở
hầu hết các thị trường. Cá tra, ba sa được tiêu thụ mạnh ở EU và
Đông Âu. Nga nhập gần 54,9 triệu USD cá tra, ba sa Việt Nam,
bằng 2.751% so với năm 2005. Ba Lan đạt 45 triệu USD, bằng
858% so với năm 2005. Điều này chứng tỏ thị trường cá tra, ba sa
tại Nga, Đông Âu và EU rất có triển vọng.
Nga đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của cá tra, basa
Việt Nam,
Số liệu từ Tổng cục Thống kê, năm 2006, bất chấp những sức ép cạnh
tranh và rào cản thương mại mới, thủy sản Việt Nam vẫn đạt kim
ngạch xuất khẩu 3,36 tỷ USD, vượt hơn nửa tỷ USD so dự kiến kế
Trang 13
hoạch năm.Việt Nam Phấn đấu đạt 72,5 tỷ USD giá trị xuất khẩu vào
năm 2010.
* Xây dựng thương hiệu mạnh:
Vụ cá da trơn có một hệ quả mà VASEP không ngờ tới.
Sau khi DOC áp dụng thuế bán phá giá đối với cá da trơn Việt
Nam, lượng xuất khẩu cá da trơn của VASEP tới các thị trường
khác tăng vọt(ví dụ EU, Nhật, Úc). Người Việt Nam cũng bắt đầu
sử dụng cá da trơn trong bữa ăn. Lý do khá đơn giản, cá da trơn
được giới truyền thông quan tâm và là đề tài nóng hổi – dù rằng chỉ
trong thời gian ngắn nhưng cũng đủ để người tiêu dùng Mỹ và các
quốc gia khác biết về sản phẩm. Kinh nghiệm này cho thấy rằng,
chất lượng tốt và giá rẻ là chưa đủ cho một sản phẩm để thâm nhập
thị trường nước ngoài. Thương hiệu mạnh và các biện pháp
marketing phù hợp là cần thiết
Trang 14
NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM TRƯỚC NGUY CƠ
Kỳ (đang lấy ý kiến, chưa thông qua):
1/. Tóm tắt nội dung chương trình giám sát:
- Nhóm sản phẩm dự kiến giám sát: quần dài, áo, đồ lót, đồ bơi, áo len
(dự kiến xác định theo CAT, mã 3 số - dữ liệu tập hợp để giám sát sẽ
thực hiện theo mã 10 số)
- Quy trình sản xuất mẫu (danh mục chi phí sản xuất): sẽ được xác
định khi cần thiết
- Giai đoạn giám sát: Việc phân tích các thơng tin thu thấp trong q
trình giám sát sẽ được thực hiện 6 tháng 1 lần
2/. Các nhóm vấn đề bất cập liên quan đến chương trình
giám sát:
a- Căn cứ pháp lý:
- Việc giám sát khơng phù hợp với quy định của WTO về điều tra
chống bán phá giá và ngun tắc khơng phân biệt đối xử;
- Khơng thoả mãn điều kiện nào để tiến hành giám sát theo pháp luật
Hoa Kỳ;
- DOC khơng có thẩm quyền tiến hành giám sát
b- Về đối tượng giám sát
- Danh mục sản phẩm dự kiến giám sát q rộng, chưa được cụ thể
hố
- Các sản phẩm dự kiến giám sát (được xem là nhạy cảm) khơng phải
là những sản phẩm được sản xuất bởi các đơn vị đã lobby để thiết lập
cơ chế giám sát này (trong khi bản thân các đơn vị sản xuất những sản
phẩm này lại khơng có nhu cầu và do đó khơng u cầu DOC giám
sát).
c- Về thủ tục giám sát
- Chưa thiết lập được các ngun tắc, các phương pháp và bước giám
sát cụ thể >> khơng đảm bảo tính khả đốn, minh bạch
- u cầu đối với thủ tục giám sát:
+ Tất cả các bước của q trình giám sát phải có sự tham
thường là giá từ thò trường Bangladesh và
n Độ), trong đó bao gồm:
• Các yếu tố tiêu thụ thực tế
• Giá trị thay thế
Minh hoạ:
* Phương pháp tính biên độ phá giá đối với nền kinh tế
phi thò trường (NME):
- Bước 1: Tính giá ròng cho mỗi đợt bán hàng vào Hoa Kỳ
- Bước 2: Tính bình quân có trọng số cùng với giá ròng
của mỗi số hiệu kiểm soát của Hoa Kỳ (sản phẩm được
sử dụng để khớp nhau như được DOC đònh nghóa)
- Bước 3: Tính giá trò thông thường căn cứ vào các yếu tố
sản xuất đối với số hiệu kiểm soát của Hoa Kỳ
- Bước 4: Tính biên độ trên mỗi đơn vò đối với từng số
hiệu kiểm soát của Hoa Kỳ
Trang 15
Các yếu tố SX thực tế và giá trò
thay thế
Giá bán, chi phí quản lý và chi phí
chung của nước thay thế
Lợi nhuận từ nước thay thế
Giá trị áp đặt áp
dụng cho các
nước khơng có
nền kinh tế thị
trường
- Bước 5: Nhân biên độ trên mỗi đơn vò với số lượng của
số hiệu kiểm soát của Hoa Kỳ
- Bước 6: Cộng tất cả các biên độ phá giá (ví dụ: kể cả
các biên độ âm và dương đối với tất cả số hiệu kiểm
của Liên bang.
2/. Sản phẩm tương tự:
- Bên khiếu kiện phải miêu tả rõ ràng sản phẩm tương tự của thị
trường trong nước, tức là sản phẩm bán tại thị trường Mỹ có những
đặc điểm giống nhất với sản phẩm được nhập khẩu đang bị điều tra.
- Bộ TM sẽ quyết định về sản phẩm tương tự cho mục đích tiến hành
điều tra, ITC cũng sẽ có quyết định riêng của mình về sản phẩm tương
tự.
3/. Cáo buộc phá giá:
- Cáo buộc về mức doanh số bán trong điều kiện thương mại khơng
cơng bằng (phá giá) là lý do của mọi đơn kiện. Cáo buộc về bán phá
giá cần cung cấp đủ các thơng tin và dữ kiện cần thiết:
+ Việc tính tốn giá cả hàng hố bán ra tại thị trường
Mỹ nội địa và
+ Giá trị thơng thường của sản phẩm tương tự được
nhập khẩu từ nước ngồi
4/. Thiệt hại thực tế:
- Theo định nghĩa trong Đạo luật “thiệt hại thực tế” là sự thiệt hại
mang tính hậu quả, thực tế hoặc quan trọng.
+ ITC chịu trách nhiệm xác định xem có phải ngành
sản xuất trong nước đang chịu thiệt hại thực tế hay bị
đe doạ chịu thiệt hại thực tế do tác động của loại
hàng hố nhập khẩu đang bị cáo buộc bán phá giá
hay khơng.
- Bộ TM sẽ kiểm tra xem liệu đơn kiện có cung cấp đủ bằng chứng về
thiệt hại thực tế hay đe doạ gây thiệt hại thực tế hay khơng.
+ Để đánh giá tính chính xác và đầy đủ của chứng cứ
liên quan đến thiệt hại thực tế và cáo buộc về mối
quan hệ nhân quả, Bộ TM sẽ so sánh các chứng cứ
trong đơn kiện với những thơng tin sẵn có hợp lý.
đều được gia
hạn
Quyết Đònh
Cuối Cùng
của DOC
280 Ngày 390,
nếu quyết
đònh sơ bộ là
quyết đònh
cuối cùng
của DOC đều
được gia hạn
Quyết Đònh
Cuối Cùng
của ITC
287 Ngày 397,
nếu quyết
đònh sơ bộ và
quyết đònh
cuối cùng
của DOC đều
được gia hạn
DOC ban hành
lệnh
áp dụng thuế
chống
phá giá
Trang 16
Nôi dung
Giá trò
Tổng chi phí sản xuất M = J + K + L 16.81510
Lợi nhuận N = M * 14% 2.35411
Giá thành sản phẩm O = M + N 19.16922
III. So sánh
Giá trò bình thường P = O - D 19.13629
Giá trò ròng tại Hoa
Kỳ
Q 7.50000
Biên độ trên mỗi đơn
vò
R = P - Q 11.63629
Biên độ tính theo tỷ
lệ
S = R / Q * 100% 155.1506%
IV. Kết luận
> 2%
Bán Phá
Giá
Q.đònh c/cùng
về thiệt hại
Q.đònh c/cùng
về bán PG
X.đònh sơ bộ
về bán PG
X.đònh sơ bộ
về thiệt hại
VII. Thủ tục của Bộ Thương mại Hoa Kỳ về diều tra
chống bán phá giá:
1/. Bảng câu hỏi:
- DOC sẽ đưa ra bảng câu hỏi cho các công ty được chọn để
chất lượng của dữ liệu do bò đơn nộp và chất lượng kiểm
tra của cả nguyên đơn và DOC.
+ Thời Hạn Trả Lời: Thông thường là hai tuần,
có thể được gia hạn thêm hai tuần nữa.
* Lưu ý: DOC có thể đưa ra nhiều bảng câu hỏi bổ sung.
4/. Thẩm tra:
- Sau khi quyết đònh sơ bộ, DOC tiến hành kiểm tra tại chỗ
dữ liệu do bò đơn nộp.
+ Mục Đích: thẩm tra tính chính xác của thông tin
được nộp và thẩm tra rằng bò đơn chưa bỏ qua bất kỳ thông
tin liên quan nào.
+ Thẩm Tra Việc Bán Hàng: Nếu việc bán hàng
được thực hiện trực tiếp đến Hoa Kỳ, thì việc thẩm tra sẽ
được thực hiện tại nhà máy xuất khẩu; nếu thông qua công
ty trực thuộc tại Hoa Kỳ, thì có thể được thực hiện tại Hoa
Kỳ.
+ Các Yếu Tố Sản Xuất: Sẽ được điều tra tại
nhà máy hoặc trụ sở công ty.
Lưu ý: Việc chuẩn bò tốt trước là cực kỳ quan trọng.
Thông thường, luật sư hỗ trợ cho công ty sẽ chuẩn bò cho
công ty một tuần trước khi thẩm tra.
5/. Báo cáo thẩm tra:
- Ngay sau khi DOC hoàn tất thẩm tra, DOC sẽ ban hành báo
cáo thẩm tra.
- Giải Trình Tóm Tắt: Căn cứ vào các báo cáo này,
cùng với bất kỳ vấn đề pháp lý nào khác có thể tồn
tại, cả nguyên đơn và bò đơn đều có thể nộp tóm tắt cho
DOC (gọi là “giải trình tóm tắt vụ kiện”).
- Phản Hồi Giải Trình Tóm Tắt: Trong vòng năm ngày,
mỗi bên có quyền phản đối bản giải trình tóm tắt của
+ Áp Dụng Các Mức Thuế Riêng: Nếu nhà sản
xuất chứng minh được rằng không có sự kiểm soát của
chính phủ, thì được áp dụng biên độ bằng với trung bình có
trọng số của tất cả các bò đơn bắt buộc (ngoại trừ biên độ
tối thiểu và biên độ có thể có trên thực tế), thường thì
thấp hơn mức thuế chung cho toàn quốc.
+ Phải nộp đơn trong vòng 30 ngày kể từ ngàycó
thông báo công khai thực hiện nếu công ty muốn bảo đảm
quyền điều chỉnh đơn. Phải nộp trong vòng 60 ngày để được
xem xét toàn bộ.
IX. Thông tin được sử dụng để đánh giá các yếu tố đối
với nền kinh tế phi thò trường:
1/. Cách thức xác đònh:
- Thông tin có được công khai từ một “quốc gia tương tự” đơn
lẻ, ngoại trừ đối với nhân công.
+ Ngoại Lệ: Khi một yếu tố được cung cấp từ một
nhà cung cấp thuộc nền kinh tế thò trường và được thanh
toán bằng tiền tệ của quốc gia thuộc nền kinh tế thò
trường, thì DOC sẽ sử dụng giá được thanh toán cho nhà
cung cấp của nền kinh tế thò trường (nếu việc cung cấp từ
nền kinh tế thò trường đó chiếm 33% trong toàn bộ nguồn
cung cấp của yếu tố đó)
Lưu ý: Các nguồn cung cấp từ Ấn Độ, Hàn Quốc, Thái
Lan, và Indonesia không thích hợp để được xem là “nguồn
cung cấp của nền kinh tế thò trường”.
+ Nhân công: DOC sẽ sử dụng “mức lương thấp”
phản ánh quan hệ giữa lương và thu nhập quốc gia tại các
quốc gia có nền kinh tế thò trường.
2/. Mức lương nhân công:
Trang 17
- Hầu hết tất cả các cán bộ nhà nước chịu trách nhiệm về vấn đề này
còn thiếu kiến thức về các khía cạnh kinh tế của hiện tượng bán phá
giá và luật quốc tế điều chỉnh hành vi này. Cho đến nay, Việt Nam
chưa lần nào điều tra bán phá giá. Kinh nghiệm đối phó với hàng xuất
khẩu của ta bị điều tra phá giá còn ít. Hơn thế nữa, giới nghiên cứu
khoa học cũng chưa quan tâm đầy đủ đến vấn đề bán phá giá. Hệ
thống đào tạo về luật và thương mại chưa có chương trình và đội ngũ
giảng dạy về bán phá giá. Trong bối cảnh như vậy nên chúng ta cũng
khơng có luật sư hay nhà tư vấn nào có kiến thức đầy đủ hay có kinh
nghiệm phong phú về bán phá giá cả.
- Trong khi đó, để đối phó thành cơng ở mỗi vụ tranh chấp về bán phá
giá, sự phối hợp nhịp nhàng giữa nhiều bên liên quan là u cầu sống
còn. Chẳng hạn, phải có một cơ quan đầu mối về các tranh chấp liên
quan tới bán phá giá. Cơ quan này phải cộng tác chặt chẽ với các bộ
ngành liên quan và phối hợp hành động với các nhà sản xuất, các nhà
xuất khẩu hay nhập khẩu, hội bảo vệ người tiêu dùng, v.v Mặc dù
chúng ta đang cải cách nền hành chính quốc gia, chính phủ nhiệm kỳ
mới vừa được thành lập nhưng rõ ràng là sự phối hợp giữa các cơ
quan nhà nước chưa thích hợp để giải quyết tranh chấp bán phá giá.
Đó là chưa tính tới sự liên kết lỏng lẻo và có phần yếu kém của các
nhà sản xuất và các nhà xuất khẩu. Vì thế bên cạnh khó khăn lớn nhất
về thiếu kiến thức và kinh nghiệm thì sự phối hợp khơng đồng bộ của
các cơ quan hữu quan đang trở thành một cản trở lớn.
2/. Hệ thống pháp luật về kinh tế và thương mại của Việt
Nam đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện:
- Nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hố tập trung quan liêu bao
cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa
được hai thập kỷ. Mặc dù hệ thống pháp luật về kinh tế – thương mại
của chúng ta đã được xây dựng mới, bổ sung và sửa đổi liên tục
nhưng rõ ràng là trong một giai đoạn ngắn như vậy hệ thống pháp luật
chúng ta nhân nhượng họ, chẳng hạn họ có thể dùng những lá bài như
viện trợ phát triển chính thức (ODA), gia hạn qui chế đối xử tối huệ
quốc (MFN) v.v để đem ra mặc cả với ta.
4/. Chi phí gia tăng:
- Trong việc áp dụng hay đối phó với biện pháp chống bán phá giá,
chúng ta cũng khơng thể khơng tính đến nhiều chi phí cần thiết. Thật
vậy, nhiều khi chúng ta cần phải cử các nhóm cơng tác ra nước ngồi
để điều tra, thu thập các thơng tin cần thiết, hoặc phải tham dự các
cuộc gặp với các cơ quan có thẩm quyền của nước ngồi để giải trình,
cung cấp thơng tin hoặc thuyết phục họ chấm dứt điều tra, chấp nhận
biện pháp cam kết giá hay áp dụng mức thuế chống bán phá giá ở
mức càng thấp càng tốt.
5/. Việt Nam chưa được công nhận là nền kinh tế thò trường:
- Cuối cùng khơng thể khơng lưu ý đến thực tế là một số nước chưa
cơng nhận nền kinh tế của chúng ta là nền kinh tế thị trường (KTTT).
Cần phải nhìn nhận vấn đề này từ hai khía cạnh.
+ Thứ nhất, khơng có những tiêu chí rõ ràng khách quan
để phân biệt đâu là nền KTTT và đâu là nền kinh tế phi thị trường. Do
đó, việc thừa nhận một nền kinh tế là nền kinh tế thị trường hay
khơng nhiều khi phụ thuộc vào đánh giá mang tính chủ quan của từng
đối tác thương mại và việc đánh giá này có thể chịu ảnh hưởng bởi
quan hệ chính trị.
+ Thứ hai, chúng ta đang trong q trình xây dựng nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và cho đến nay ta cũng
chưa có đánh giá tổng kết nào về nền kinh tế của ta đang ở đâu trong
q trình này.
- Nếu trong q trình điều tra bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của
Việt Nam mà đối tác chưa cơng nhận nền kinh tế nước ta là nền
KTTT thì chúng ta sẽ gặp bất lợi trong việc chứng minh chúng ta
khơng bán phá giá hoặc bán phá giá với biên độ thấp.
+ Xác đònh có yếu tố nào được mua từ nền kinh
tế thò trường hay không
+ Xác đònh có yếu tố đầu vào nào thuộc nền
kinh tế thò trường đến từ một quốc gia mà DOC cho là có
hỗ trợ về tài chính cho các yếu tố đầu vào hay không
- Tính Biên Độ Đối Với Các Sản Phẩm Mẫu:
+ Báo cáo cho ban quản trò về dữ liệu cần phải
bổ sung để tính toán
+ Phân tích biên độ phá giá
+ Nhận diện các lónh vực rủi ro
+ Cung cấp báo cáo cho ban quản trò
+ Thảo luận các phương pháp có thể có để tối
thiểu hóa biên độ
2/. Thiết lập hệ thống kiểm soát:
- Mục đích: Thu thập thông tin chi tiết cần thiết để ước tính
và giảm thiểu biên độ phá giá tốt hơn
- Gặp gỡ nhà sản xuất để thảo luận về các lónh vực cần
quan tâm và các lónh vực rủi ro từ việc kiểm tra ngăn chặn
chống phá giá
- Giải thích dữ liệu cần thiết của công ty
- Thiết lập lòch biểu thu thập dữ liệu
- Thu thập dữ liệu tổng quát từ nhà sản xuất
+ Đánh giá dữ liệu về tính hoàn thiện và tính
xác thực
+ Phân tích biên độ phá giá
+ Cung cấp văn bản phân tích cho ban quản trò
công ty
+ Cung cấp chiến lược nhằm giảm thiểu biên độ
phá giá
+ Xác đònh lòch biểu kiểm soát đònh kỳ
+ Vụ kiện chống phá giá sẽ mang tính chính trị rất cao.
+ Các nhà sản xuất nội địa Hoa Kỳ và các phe nhóm chính
trị khác đều liên quan.
- Cần tham vấn các chun gia pháp luật Việt Nam người mà có thể
hỗ trợ đáp ứng các u cầu của DOC và bảo đảm rằng các câu trả lời
phải thống nhất với các vụ kiện chống phá giá đã xảy ra có liên quan
đến Việt Nam vì:
+ DOC u cầu dịch hàng ngàn tài liệu.
+ DOC u cầu phân tích chi tiết về luật pháp và quy định
của Việt Nam.
Trang 19
LIÊN KẾT KINH TẾ QUỐC TẾ
I- NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LIÊN KẾT KINH
TẾ QUỐC TẾ
1/ Khái niệm :
Có rất nhiều khái niệm về liên kết kinh tế quốc
tế xét ở trên góc độ khác nhau, sau đây là những khái
niệm mang tính phổ biến.
- Liên kết kinh tế quốc tế là việc thiết lập
những luật lệ và nguyên tắc vượt phạm vi một quốc gia để
cải thiện thương mại kinh tế và sự hợp tác giữa các nước.
- Liên kết kinh tế quốc tế được xem là mỗi quan
hệ kinh tế vượt ra khỏi biên giới một quốc gia, được hình
thành dựa vào sự thoả thuận hai bên hoặc nhiều bên ở
tầm vó mô hoặc vi mô nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho
hoạt động kinh tế và thương mại phát triển.
2/ Cơ sở hình thành các liên kết kinh tế quốc tế.
Điều kiện tự nhiên luôn gắn liền với sự ra đời
và phát triển của xã hội loài người. Song điều kiện sống
và sự phát triển của các vùng, các châu lục lại có sự
Ngoài những vấn đề thương mại tài chính quốc tế,
thế giới ngày nay có qúa nhiều vấn đề chính trò- xã hội –
môi trường có ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế toàn
cầu như vấn đề : khủng bố, dòch bệnh thiên tai, môi
trường… đòi hỏi phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các
nước.
Ngày nay với sự phát triển kinh tế mang tính chất
đa phương, toàn cầu, các quốc gia trở nên phụ thuộc rất
mạnh lẫn nhau thông qua liên kết kinh tế.
II- CÁC HÌNH THỨC LIÊN KẾT KINH TẾ QUỐC
TẾ
A) Liên kết kinh tế quốc tế nhà nước (Macrointergration)
a) Khái niệm:
Là những liên kết kinh tế được hình thành trên cơ
sở Hiệp đònh được ký kết giữa hai hoặc nhiều chính phủ
nhằm lập ra các liên minh kinh tế khu vực hoặc liên kết khu
vực nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế đối
ngoại.
b) Nguyên nhân hình thành.
Liên kết kinh tế nhà nước là tham gia vào qúa trình
toàn cầu hoá, nhằm tạo điều kiện tăng cường hợp tác
giúp đỡ lẫn nhau khai thác nguồn lực của nhau để cùng
nhau phát triển kinh tế, dựa vào các nước đồng minh trong
liên kết để thực hiện bảo hộ một số lónh vực nhất đònh
Thực tế cho thấy nửa đầu thế kỷ 20 GDP của thế giới tăng
khoảng 2,7 lần, thì nửa cuối thế kỷ 20 tăng 5,3 lần.
Tạo điều kiện thuận lợi cho việc truyền bá chuyển
giao công nghệ, vốn, kinh nghiệm tổ chức quản lý giữa
các quốc gia nhất là giữa các nước phát triển và đang
phát triển,
Canada, Mexico. Đây là hình thức liên kết kinh tế lớn nhất
hiện nay tổng GDP đạt vào khoảng 12.000 tỷ USD.
Việt nam hiện là thành viên trong khu vực mậu dòch
tự do của các nước ASEAN , đó là AFTA – theo quy đònh
mức thuế quan sẽ giảm từ 0 đến 5% đến năm 2003 và xét
theo hoàn cảnh gia nhập cũng như trình độ phát triển kinh tế
của một số nước mà việc cắt giảm thuế sẽ được gia hạn
thêm.
2/ Liên minh thuế quan ( Customs Union)
Có những điều kiện giống khu vực mậu dòch tự do
nhưng cao hơn khu vực mậu dòch tự do ở chỗ sẽ thống nhất
một mức thuế quan chung để đánh ra bên ngoài với các
nước không phải là thành viên. Các nước tham gia bò mất
quyền độc lập tự chủ trong quan hệ buôn bán với nước
ngoài khối.
Thoả thuận xây dựng chung về cơ chế hải quan
thống nhất áp dụng chung cho các nước thành viên.
Tiến tới xây dựng chính sách ngoại thương thống
nhất.
Cộng đồng kinh tế châu âu (EEC) là một ví dụ
đặc trưng cho hình thức liên hiệp thuế quan, được thành lập
vào năm 1957 bao gồm 6 thành viên đó là :Tây đức, Pháp,
Ý, Bỷ, Luých Xăm Bua và Hà Lan.
3/ Thò trường chung. (Common Market)
Hình thức này thể hiện trình độ liên kết cao hơn so
với liên hiệp thuế quan vì nó cho phép di chuyển tự do lao
động và tư bản giữa các nước thành viên. Từ năm 1992,
EEC đã trở thành thò trường chung Châu âu (ECM).
4/ Liên minh kinh tế (Economic Union)
Là hình thức liên kết kinh tế có đặc điểm tương
chung, tiến tới thực hiện liên minh về chính trò.
Tuy mức độ liên kết khác nhau nhưng tất cả các
hình thức liên kết trên đây đều đưa đến kết quả là gia
tăng khối lượng mậu dòch, sử dụng tài nguyên tốt hơn và
nâng cao mức sống của nhân dân với mức độ ngày càng
chặt chẽ hơn
BẢNG TỔNG HP CÁC HÌNH THỨC LIÊN KẾT
KINH TẾ
Các hình
thức liên
kết
Xoá
bỏ
hàng
rào
thuế
quan
và
phi
thuế
quan
giữa
các
thành
viên
Hệ
thống
thuế
và phi
thuế
Common
Market
Có Có Có Không Không
Economic
Union
Có Có Có Có Không
Monetary
Union
Có Có Có Có Có
B/ Liên kết kinh tế quốc tế tư nhân (Microintergration)
a) Khái niệm:
- Liên kết kinh tế quốc tế tư nhân là hình thức liên kết kinh
tế quốc tế ở tầm vi mô để lập ra các công ty quốc tế.
b) Cơ sở hình thành và vai trò của các công ty
quốc tế.
- Cơ sở hình thành.
Xu thế quốc tế hoá lực lượng sản xuất, hình thành
các công ty xuyên quốcsgia xu hướng sát nhập các công ty
có quy mô nhỏ thành các công ty khổng lồ để tăng khả
năng cạnh tranh, nhằm độc chiếm vai trò chi phối thò trường
quốc tế đang tăng nhanh.
Nhằm tránh sự rủi ro bất ổn của chu kỳ kinh doanh
nội đòa, mở rộng thò phần ra nước ngoài, cũng như nhằm
chống lại chính sách bảo hộ mậu dòch ở các nước, ở các
khối liên kết kinh tế đang gia tăng. Sự gia tăng nhu cầu trên
thò trường thế giới về sản phẩm, dòch vụ công ty cung cấp.
Chiến lược “ theo sau cạnh tranh”để bảo vệ thò phần,
giảm chi phí, đa nguồn cung để giảm rủi ro, thu thập kiến
thức, vượt qua hàng rào thuế quan.
Sử dụng lợi thế kỹ thuật chuyên môn bằng sản
mẹ và công ty con ở các quốc gia khác nhau . Mỗi liên kết
này giúp cho các công ty đa quốc gia nắm chắc và chủ
động trong cung cấp nguyên vật liệu và các sản phẩm trung
gian cần thiết từ nước ngoài.
Thứ hai: Liên kết ngang là mỗi liên kết giữa các
công ty con ở các quốc gia. Mỗi liên kết này tạo điều kiện
thuận lợi cho các công ty tổ chức tốt mạng lưới dòch vụ,
phân phối sản phẩm, tiến hành marketing nhằm cho các sản
phẩm nhanh chóng chiếm lónh thò trường.
Công ty đa quốc gia có những ưu điểm hơn so với các công
ty quốc gia thuần tuý ở những điểm sau:
+ Mở rộng thò trưòng mỗi liên kết dọc, ngang giữa
các công ty mẹ và con đã hình thành một thò trường xuyên
suốt giữa các quốc gia. Ví dụ: các Công ty lữ hành quốc
tế tổ chức các tua du lòch theo hệ thống khách sạn, dòch vụ
của mình.
+ Công ty đa quốc gia có nhiều vốn và dễ tiếp cận
với các thò trường vốn quốc tế, cho nên có đủ điều kiện
để thực hiện các dự án đầu tư đòi hỏi quy mô lớn.
+ Các công ty đa quốc gia có thể huy động nguồn
vốn nước sở tại.
+ Đủ điều kiện tài chính để nghiên cứu và phát
triển công nghệ mới tiên tiến.
+ Các công ty đa quốc gia có thể kích thích nguồn
vốn viện trợ.
+ Các công ty có điều kiện thu thập thông tin toàn
cầu, do vậy có khả năng đánh giá đầy đủ, chính xác các
tình huống thuận lợi, khó khăn của thò trường thế giới, tạo
điều kiện cho công ty có những chiến lược và sách lược cụ
thể để đối phó. Chính vì vậy mà hoạt động sản xuất kinh
+ Các công ty đa quốc gia tạo ra sự lệ thuộc về kỹ
thuật ở các nước sở tại. Thông thường các công nghệ
đựơc chuyển giao vào các nước đang và chậm phát triển là
những công nghệ đã lạc hậu, lỗi thời. Dẫn đến năng suất,
chất lượng sản phẩm thấp, gây ô nhiễm môi trường.
+ Khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên
+ Thông qua chiến dòch quảng cáo rầm rộ làm thay
đổi thò hiếu người tiêu dùng.
* Các hình thức công ty quốc tế.
- Phân loại theo nguồn vốn:
+ Công ty đa quốc gia (Multinational Company or
Enterprise – MNC or MNE) là công ty được thành lập do vốn
của nhiều nước đóng góp
+ Công ty toàn cầu : (Global Company- GC) là công
ty tiêu chuẩn hoá các hoạt động toàn cầu trên mọi lónh
vực.
+ Công ty xuyên quốc gia : ( Transnational
Corporation- TNC) là MNC hoặc GC
- Phân loại theo phương thức hoạt động :
+ Trust – Tổ chức độc quyền quốc tế liên kết 1 số
lượng lớn các xí nghiệp của một ngành hay những ngành
gần nhau trong 1 số nước.
+ Consotium – Hình thức liên kết số 1 lớn các xí
nghiệp của các ngành khác nhau trong 1 số nước.
+ Syndicat – Hiệp đònh thống nhất về tiêu thụ sản
phẩm của một số Trust và Consotium
+ Cartell- Hiệp đònh độc quyền liên minh giữa các
nhà tư bản trong một ngành nào đó.
- Đặc điểm phát triển của Công ty quốc tế :
Các Công ty quốc tế chuyển dòch dần hướng đầu tư
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC KHI VIỆT NAM THỰC THI CAM KẾT CỦA WTO VỀ BỎ
TÀI TRỢ XUẤT KHẨU
1/ Khái niệm về tài trợ và tài trợ xuất khẩu
- Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) có hai bộ tiêu chuẩn về
trợ cấp. Một bộ áp dụng cho nông sản, được đề cập trong Hiệp định
Nông nghiệp. Một bộ áp dụng cho sản phẩm phi nông nghiệp, được
quy định trong Hiệp định về Trợ cấp và Biện pháp đối kháng
(SCM). Đối với nông sản, cho tới trước Hội nghị Hồng Kông 12-
2005, WTO không cấm hình thức trợ cấp nào cả, kể cả trợ cấp xuất
khẩu. Tuy nhiên, trước sức ép của các thành viên cũ, các thành viên
mới gia nhập WTO từ năm 1995, kể cả Trung Quốc và Campuchia,
đều phải cam kết loại bỏ trợ cấp xuất khẩu nông sản.
- Với sản phẩm phi nông nghiệp, trợ cấp được chia thành ba
nhóm lớn. Nhóm đèn đỏ là trợ cấp bị cấm sử dụng, bao gồm trợ cấp
xuất khẩu (lấy xuất khẩu làm tiêu chí để cho hưởng trợ cấp). Theo
SCM, trợ cấp xuất khẩu không chỉ là trợ cấp dựa trên kết quả xuất
khẩu mà còn bao gồm cả trợ cấp dựa trên mục tiêu hoặc tiềm năng
xuất khẩu. Các loại trợ cấp này đều bị cấm bất kể chúng được quy
định trong luật hay không (theo luật định - de jure hoặc trên thực tế -
de facto) và trợ cấp thay thế nhập khẩu (trợ cấp để khuyến khích sử
dụng đầu vào trong nước, khuyến khích nội địa hóa). Nhóm đèn
vàng là trợ cấp riêng biệt cho một ngành hoặc một vùng, gây lệch
lạc thương mại, tuy không bị cấm sử dụng nhưng có thể bị “trả đũa”
(bị đánh thuế chống trợ cấp hoặc bị kiện ra WTO). Nhóm đèn xanh
là trợ cấp được coi là ít gây lệch lạc cho thương mại (trợ cấp R&D,
trợ cấp phát triển vùng khó khăn ), được phép áp dụng mà không bị
“trả đũa”. Tuy nhiên, WTO đưa ra những tiêu chí rất chặt chẽ cho
trợ cấp loại này.
- Với cả trợ cấp nông nghiệp và phi nông nghiệp, WTO đều có
ngoại lệ dành cho các nước chậm và đang phát triển. Thí dụ, với trợ
Canada-Aicraft, và Brazil - Aicraft; Ban phúc thẩm giải thích thế nào
là "món lợi": (a) Món lợi phải tạo ra từ sự khác biệt cụ thể dựa trên lợi
thế so sánh với thị trường, ví dụ nếu doanh nghiệp nhận được khoản
vay với điều kiện như mọi doanh nghiệp khác trên thị trường, thì nó
không bị coi là trợ cấp ngay cả khi nó mang lại lợi nhuận cho doanh
nghiệp; (b) Nếu DNNN trước đây được trợ cấp, nay tư nhân hoá theo
đúng giá thị trường, thì khoản trợ cấp trước kia không bị gán cho
doanh nghiệp mới (no pass - through of subsidies); (c) Về thời điểm
để xác định có trợ cấp hay không, nếu doanh nghiệp đã nhận được
cam kết pháp lý của chính phủ về khoản trợ cấp thì đó đã được coi là
thời điểm nhận trợ cấp, ngay cả khi trên thực tế doanh nghiệp chưa
nhận được xu nào.
- Tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét cụ thể hơn trợ cấp xuất khẩu.
Đây là dạng trợ cấp bị cấm trong WTO, vì thế nó còn được gọi là trợ
cấp "đèn đỏ". Trợ cấp xuất khẩu là dạng trợ cấp phụ thuộc vào hoạt
động xuất khẩu, tức là doanh nghiệp muốn nhận trợ cấp này thì phải
sử dụng nó cho mục đích xuất khẩu (Điều 3.1 HĐ SCM). Phụ lục I
của HĐ SCM cũng cung cấp danh sách tham khảo những trợ cấp nào
thì bị liệt vào trợ cấp xuất khẩu.
- Trợ cấp xuất khẩu có thể là chính thức (de jure), cũng có thể là
trên thực tế (de facto). Trong vụ Canada -Automotive Industry, Ban
phúc thẩm giải thích rằng, một cách chính thức, "phụ thuộc vào hoạt
động xuất khẩu" có nghĩa là "điều kiện để nhận trợ cấp được thể hiện
thành câu chữ trong văn bản liên quan; hoặc điều kiện đó được thể
hiện rõ, dù gián tiếp, trong chính sách liên quan". Vì thế, trong vụ
này, Ban phúc thẩm phán rằng, việc miễn một loati thuế nhập khẩu
cho doanh nghiệp liên quan đến xuất khẩu cũng bị coi là trợ cấp xuất
khẩu chính thức. Còn trong vụ Canada-Aicraft, Ban phúc thẩm giải
thích trợ cấp xuất khẩu chính thức là loại trợ cấp "dù trực tiếp hay
gián tiếp có mục đích hỗ trợ và phát triển nền xuất khẩu của canada".
* Đa phương: Đưa ra WTO
Trang 23
Nếu một quốc gia thành viên WTO (tạm gọi là A) tin rằng
quốc gia thành viên khác (B) áp dụng trợ cấp xuất khẩu, trước hết A
có quyền yêu cầu tham vấn với B. Nếu trong vòng 30 ngày (hoặc lâu
hơn tuỳ theo thoả thuận đôi bên), các cuộc tham vấn vẫn không đem
lại giải pháp thích dáng, bất cứ bên nào cũng có quyền yêu cầu Hội
đồng giải quyết tranh chấp (Dispute Settlement Body-DSB) của WTO
thành lập một ban hội thẩm 3 người để xem xét vụ việc. Trong vòng
90 ngày kể từ khi thành lập, ban hội thẩm phải xem xét và công bố
bản báo cáo cuối cùng cho tất cả các nước thành viên. Ban này có thể
tự mình quyết định liệu có trợ cấp xuất khẩu hay không; hoặc cũng có
thể nhờ đến sự giúp đỡ của Tổ chuyên gia thường trực (Permanent
Group of Experts - PGE) thuộc Uỷ ban trợ cấp và Các biện pháp thuế
đối kháng. Mặc dù đây không phải là điều khoản bắt buộc, nhưng một
khi đã đề nghị PGE trợ giúp, Ban hội thẩm phải chấp nhận ý kiến kết
luận của PGE và không được sửa đổi kết luận đó. PGE cũng có quyền
tư vấn cho bất kỳ thành viên WTO nào về trợ cấp, trong đó có trợ cấp
xuất khẩu.
Nếu các bên kháng án, DSB phải thông qua báo cáo cuối
cùng của ban hội thẩm trong vòng 30 ngày kể từ khi nó được công bố.
Trong trường hợp kháng án, Ban phúc thẩm sẽ xem xét lại những vấn
đề về luật (không xem xét những vấn đề về sự việc). Ban phúc thẩm
phải công bố báo cáo cuối cùng trong vòng 60 ngày kể từ khi nhận
đơn kháng án, nhưng nếu trong vòng 30 ngày vẫn chưa thể công bố
báo cáo, Ban này phải giải thích nguyên nhân. Quy trình này ngắn
hơn một nửa so với các quy trình giải quyết tranh chấp khác.
Nếu Ban hội thẩm hoặc Ban phúc thẩm cho rằng có trợ cấp
xuất khẩu, quốc gia bị đơn phải huỷ bỏ ngay trợ cấp trong thời hạn do
DSB quy định. Trong thời hạn đó, nếu trợ cấp xuất khẩu vẫn không bị
được xác minh, nước nhập khẩu có thể áp thuế đối kháng.
Mức thuế đối kháng không được vượt quá mức trợ cấp. Thậm chí, nếu
mức thiệt hại nhỏ hơn mức trợ cấp thì áp mức thuế tương ứng với
thiệt hại. Thuế đối kháng phải được áp dụng trên nguyên tắc không
phân biệt đối xử và không hối tố. Sau một thời gian nhất dịnh (muộn
nhất là 5 năm) sau khi áp dụng hoặc sau lần xem xét lại mới nhất,
thuế đối kháng phải chấm dứt. Tuy nhiên, nếu cơ quan có thẩm quyền
xác minh được rằng nếu chấm dứt áp thuế đối kháng sẽ dẫn đến việc
phục hồi trợ cấp và xảy ra thiệt hại, thuế đối kháng sẽ không được huỷ
bỏ. Nếu không hài lòng với phán quyết cuối cùng của cơ quan có
thẩm quyền, có thể kiện lên toà án nước nhập khẩu theo quy trình xem
xét lại các quyết định hành chính.
Trước hết, WTO là nơi kiện tụng giữa các quốc gia. Hầu
hết các vụ kiện về trợ cấp đều liên quan đến trợ cấp xuất khẩu. Vì thế,
chính phủ là nơi biết rõ nhất và chia sẻ những tri thức đó. Thế nhưng,
những gì diễn ra xung quanh vụ thép Trung Quốc giá rẻ vào Việt Nam
cho thấy, có vẻ như ngay cả các cơ quan liên quan trực tiếp nhất cũng
chỉ biết lơ mơ và trả lời còn lờ mờ về thương mại quốc tế, cụ thể là về
bán phá giá. Có lẽ đối với trợ cấp cũng không khá hơn. Điều này quả
thật rất đáng ngại.
Trợ cấp xuất khẩu nói riêng và những kiện tụng khác liên
quan đến thương mại quốc tế nói chung trong WTO đòi hỏi một vốn
tri thức khổng lồ và cặn kẽ về pháp luật, kinh tế, chính trị và cả các
chuyên ngành khác. Nó cũng cần thứ tiếng Anh tuyệt hảo để tranh cãi
trước các ban hội thẩm và Ban phúc thẩm, trước cơ quan nước ngoài,
để ra phán quyết tâm phục khẩu phục với đại diện các nước. Ngoài ra,
nó cần những kỹ năng chuyên sâu như hùng biện, ngoại giao Những
điều kiện này trước hết tối cần thiết cho những chuyên viên của Bộ
Thương mại và có thể là Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp sẽ thay mặt
chính phủ trực tiếp hầu kiện ở WTO.
3/ Phân loại các hình thức tài trợ
- Ngay tại Điều 1 của Hiệp định này đã quy định: Một ngành
công nghiệp được coi là đã nhận được trợ cấp khi ngành này “được
lợi” do 4 hành động sau đây của Chính phủ: 1/Hoạt động của Chính
phủ liên quan đến việc chuyển tiền trực tiếp (ví dụ các khoản cho vay
không, cho vay và hỗ trợ cổ phiếu), bảo đảm chuyển tiền hoặc chuyển
nợ trực tiếp (như bảo lãnh thuế). 2/Chính phủ miễn hoặc hoãn thu các
khoản thuế đến hạn (ví dụ các biện pháp khuyến khích tài chính như
tín dụng, thuế). 3/Chính phủ cung cấp hàng hoá hoặc dịch vụ ngoài cơ
sở hạ tầng chung hay mua hàng hoá. 4/Chính phủ tài trợ cho một cơ
chế cấp vốn. Tuy vậy, không phải mọi hoạt động trợ cấp đều bị WTO
loại bỏ. Theo Hiệp định SCM có thể phân ra các loại trợ cấp như sau:
1/Trợ cấp bị cấm vận hoàn toàn (hay có thể gọi là “trợ cấp đèn đỏ”)
bao gồm trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp khuyến khích sử dụng hàng nội
so với hàng nhập khẩu. 2/ Trợ cấp không bị cấm nhưng có thể là đối
tượng của các biện pháp đối kháng (gọi là ềtrợ cấp đèn vàngể). 3/Trợ
cấp không bị cấm và cũng không là đối tượng của các biện pháp đối
kháng (gọi là “trợ cấp đèn xanh”).
- Theo Hiệp định SCM thì tín dụng hỗ trợ xuất khẩu của Quỹ
Hỗ trợ Phát triển là một hình thức trợ cấp xuất khẩu. Vấn đề đặt ra ở
đây là khi gia nhập WTO, tín dụng hỗ trợ xuất khẩu có tiếp tục duy
trì được hay không và nếu còn tồn tại thì sẽ có biến đổi gì? Hiện nay
SCM hầu như không còn ngoại lệ dành cho nước phát triển hoặc
những nền kinh tế chuyển đổi nữa vì thế tất cả các ềtrợ cấp đèn đỏể
đều bị hạn chế hoặc nếu nó vẫn được duy trì sử dụng thì đương nhiên
sẽ trở thành đối tượng của các biện pháp đối kháng (điển hình là áp
mức thuế cao vào sản phẩm được trợ cấp ). Dẫu vậy thì WTO vẫn
ưu ái hơn tới các nước đang phát triển khi có thể cho phép một số
nước có thời gian quá độ 8 năm để từng bước loại bỏ trợ cấp xuất
khẩu và có thời gian 5 năm chuyển tiếp để cắt giảm các trợ cấp
cũng cần có sự chuyển biến cho phù hợp hoặc thậm chí có thể ch m
dứt hoàn toàn. Tuy nhiên, khi mà hầu như không một quốc gia thành
viên nào của WTO lại không duy trì trợ cấp thì Việt Nam cũng sẽ
phải nghiên cứu để duy trì trợ cấp phù hợp nhất. Quan trọng là hình
thức trợ cấp này nên thuộc loại “đèn xanh” và cũng có thể là “đèn
vàng”, nhưng có thể được bỏ qua không sử dụng các biện pháp đối
kháng hay biện pháp đối kháng sử dụng có thể chấp nhận được.
- Mặt khác, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, mong muốn
trở thành thành viên của WTO trở thành hiện thực thì trợ cấp có còn
nữa hay không? Thực tế tất cả các nước thành viên WTO đều duy trì
trợ cấp cho doanh nghiệp, đó là loại ềđèn xanhể hay “đèn vàng” chấp
nhận được: ví dụ như trợ cấp cho hoạt động nghiên cứu và phát triển
(R&D); trợ cấp phát triển khu vực; Trợ cấp bảo vệ môi trường.
- Cùng với lộ trình cắt giảm dần dần hoạt động hỗ trợ xuất khẩu
trong đó có tín dụng hỗ trợ xuất khẩu thì Chính phủ và Quỹ Hỗ trợ
phát triển cũng nên nghiên cứu xem xét mở rộng sang các hoạt động
tín dụng ưu đãi cho các hoạt động “đèn xanh” trên mà đặc biệt là hoạt
động nghiên cứu và phát triển (R&D) hay hoạt động bảo vệ môi
trường làm định hướng phát triển cho các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu Việt Nam trong hội nhập.
* Trợ cấp bị cấm : là các khoản trợ cấp yêu cầu người nhận phải
đáp ứng được những mục tiêu xuất khẩu nhất định, hoặc phải sử dụng
hàng trong nước thay cho hàng nhập khẩu. Chúng bị cấm vì chúng
được xây dựng nhằm làm biến dạng thưưong mại quốc tế, và do đó có
khả năng tác động tiêu cực đến trao đổi thương mại của các thành
viên khác. Những trợ cấp này phải bị dỡ bỏ dần theo một thời gian
biểu quy định. Chúng có thể bị đưa ra cơ chế giải quyết tranh chấp
của WTO nếu không tuân theo thời gian biểu dỡ bỏ đó. Nếu cơ chế
giải quyết tranh chấp kết luận rằng một khoản trợ cấp thuộc nhóm bị
cấm, khoản trợ cấp đó phải được dỡ bỏ ngay lập tức. Nếu không được
các ảnh hưởng xấu tới hoạt động thương mại giữa các nước thành
viên WTO, nhằm tạo ra một sân chơi chung bình đẳng cho mọi thành
viên của Tổ chức này.
- Theo Hiệp định SCM thì tín dụng hỗ trợ xuất khẩu của Quỹ
Hỗ trợ Phát triển là một hình thức trợ cấp xuất khẩu. Vấn đề đặt ra ở
đây là khi gia nhập WTO, tín dụng hỗ trợ xuất khẩu có tiếp tục duy
trì được hay không và nếu còn tồn tại thì sẽ có biến đổi gì? Hiện nay
SCM hầu như không còn ngoại lệ dành cho nước phát triển hoặc
những nền kinh tế chuyển đổi nữa vì thế tất cả các ềtrợ cấp đèn đỏể
đều bị hạn chế hoặc nếu nó vẫn được duy trì sử dụng thì đương nhiên
sẽ trở thành đối tượng của các biện pháp đối kháng (điển hình là áp
mức thuế cao vào sản phẩm được trợ cấp ). Dẫu vậy thì WTO vẫn
ưu ái hơn tới các nước đang phát triển khi có thể cho phép một số
nước có thời gian quá độ 8 năm để từng bước loại bỏ trợ cấp xuất
khẩu và có thời gian 5 năm chuyển tiếp để cắt giảm
Hiệp định nông nghiệp của WTO yêu cầu các nước phải giảm các
hình thức trợ cấp bóp méo thương mại và chia trợ cấp thành các
nhóm:
* Hộp Xanh lá cây: gồm các biện pháp hỗ trợ không hoặc
hầu như không gây bóp méo thương mại nên các nước được phép duy
trì không giới hạn. Đặc điểm của các biện pháp hỗ trợ thuộc Hộp
Xanh lá cây là do ngân sách chính phủ chi trả và không mang tính
chất hỗ trợ giá trợ cấp khuyến khích sử dụng hàng nội so với hàng
nhập khẩu.
* Hộp Xanh lơ: gồm các khoản chi trả trực tiếp từ ngân
sách nhà nước mà gắn với sản xuất và thuộc các chương trình thu hẹp
sản xuất nông nghiệp. Các nước không phải cam kết cắt giảm các biện
pháp này.
* Hộp Hổ phách: gồm các biện pháp hỗ trợ bị coi là gây
bóp méo sản xuất và thương mại, vì thế các nước phải cam kết cắt