Tổng quan những thành tựu về xây dựng văn hoá, xã hội, con người ở Việt Nam trong 20 năm đổi mới - Pdf 20

Tổng quan những thành tựu về xây dựng văn hoá, xã hội, con người ở Việt
Nam trong 20 năm đổi mới
(ĐCSVN)- Song song với việc phát triển và tăng trưởng kinh tế, 20 năm qua,
dưới sự lãnh đạo của Đảng; việc xây dựng nền văn hoá mới và giải quyết các
vấn đề xã hội, con người luôn luôn được quan tâm. Tăng trưởng kinh tế gắn chặt
với phát triển văn hoá, xã hội và con người. Nhiều học giả nước ngoài đã khẳng
định rằng: Việt Nam là tấm gương sáng trong việc phát triển kinh tế thị trường
kết hợp và giải quyết thành công nhiều vấn đề thuộc lĩnh vực văn hoá, xã hội và
con người.
Hôm nay đây, nhìn lại chúng ta có thể khẳng định những nét tổng quan
nhất về thành tựu văn hoá, xã hội và con người ở Việt Nam sau 20 năm qua
là:
1.Những thành công lớn có ý nghĩa lịch sử trong giải quyết việc làm, xoá đói,
giảm nghèo.
Trước đổi mới, đời sống của mọi tầng lớp dân cư gặp muôn vàn khó khăn.
Việc làm khan hiếm, số người không có việc làm ngày càng tăng. Sự phân
hóa giàu nghèo diễn ra nhanh chóng. Đói và nghèo diễn ra ở mọi vùng đất
nước và thâm nhập ở mọi tầng lớp dân cư. Lấy phát triển kinh tế làm hàng
đầu, kết hợp với sức mạnh tổng hợp trong nước và quốc tế, bằng trí tuệ và
tinh thần chủ động, đoàn kết, Đảng đã thật sự lãnh đạo thành công trong
việc giải quyết việc làm, xoá đói, giảm nghèo, tạo ra sự chuyển biến, cải
thiện rõ rệt đời sống của đại bộ phận nhân dân.
Đến năm 2005 chúng ta đã tạo được việc làm cho 7,5 triệu lao động. Công
cuộc xoá đói, giảm nghèo được đẩy mạnh và đạt kết quả đầy ấn tượng.
Theo tiêu chuẩn quốc gia, tỷ lệ hộ đói giảm từ 30% năm 1992 xuống 7%
năm 2005. Còn theo tiêu chuẩn quốc tế (tính theo chuẩn 1
đôla/ngày/người), thì tỷ lệ nghèo chung đã giảm từ 58% năm 1993 xuống
28,9% năm 2002; nếu tính theo chuẩn mới (2 đô la/ngày/người) thì hộ
nghèo ở Việt Nam năm 2004 là 27,5%. Ngay từ năm 2002, Việt Nam đã được
Liên hợp quốc đánh giá là “hoàn thành sớm hơn so với kế hoạch toàn cầu:
giảm một nửa tỷ lệ nghèo vào năm 2015”.

khống chế thành công bệnh viêm đường hô hấp cấp (SARS). Tuổi thọ trung
bình của người dân từ 63 tuổi năm 1990 tăng lên 71,3 tuổi năm 2005. Chỉ số
phát triển con người (HDI) từ mức dưới trung bình (0,498 năm 1991) tăng
lên mức trung bình (0,688 năm 2002). Năm 2004, với chỉ số 0,691, nước ta
xếp thứ 112 trên tổng số 177 nước được điều tra. Năm 2005, Việt Nam
được lên 4 bậc, xếp thứ 108 trong tổng số 177 nước được điều tra. Điều
đáng chú ý là, nếu so với thứ bậc xếp hạng GDP bình quân đầu người thì
thứ bậc xếp hạng HDI của Việt Nam luôn cao hơn. Chẳng hạn, năm 2002
vượt lên 19 bậc: GDP bình quân đầu người xếp thứ 128 trên tổng số 173
nước được thống kê, còn HDI xếp thứ 109/173. Điều dó chứng tỏ sự phát
triển kinh tế của Việt Nam có xu hướng phục vụ sự phát triển con người,
bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội tốt hơn so với một số nước đang
phát triển có GDP bình quân đầu người cao hơn nước ta.
5. Sự nghiệp văn hoá có nhiều tiến bộ.
Những giá trị và đặc sắc văn hóa của 54 dân tộc anh em được kế thừa và
phát triển, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa Việt Nam thống nhất
trong đa dạng. Giao lưu, hợp tác văn hóa với nước ngoài được mở rộng.
Một số nét mới trong chuẩn mực văn hóa của con người Việt Nam từng
bước hình thành. Các tài năng văn hóa - nghệ thuật được khuyến khích.
Nhiều di sản văn hóa - cả vật thể và phi vật thể - được giữ gìn, tôn tạo. Việc
phân phối các sản phẩm văn hoá đã nhanh và đều khắp hơn. Hệ thống các
sản phẩm văn hoá góp phần trực tiếp vào sự phát triển, tăng trưởng của
ngành du lịch, của nền kinh tế quốc dân. Hoạt động giao lưu, hợp tác quốc
tế về văn hoá thực sự khởi sắc, góp phần làm cho vị thế của Việt Nam trên
trường quốc tế được nâng cao; văn hoá, con người và cuộc sống Việt Nam
được bạn bè hiểu biết rõ hơn. Dân trí được nâng lên, cùng với văn hoá
phát triển đã góp phần khơi dậy tính chủ động sáng tạo của nhân dân và
nâng cao tính đồng thuận xã hội, tạo ra bầu không khí dân chủ, niềm tin
của nhân dân được nâng lên không ngừng.
6. Cơ cấu xã hội nước ta có những biến đổi theo hướng tiến bộ.

minh.
Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tiếp tục ổn định và phát triển;
tạo lập được những tiền đề cần thiết để bắt đầu từ năm 2001, đất nước chuyển
sang giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội
chủ nghĩa; năng lực nội sinh của khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm
lực an ninh, quốc phòng được tăng cường; đời sống vật chất, tinh thần của nhân
dân được cải thiện rõ rệt. Chỉ số phát triển con người (HDI) được liên tục nâng
cao và thành tựu phát triển con người của Việt Nam được UNDP đánh giá là tốt
nhất khu vực Đông Nam Á. Những thành tựu của 20 năm đổi mới làm tăng thêm
thế và lực mới của Việt Nam, tạo điều kiện để đẩy mạnh hơn nữa công cuộc
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Để có được những thành tựu đó, khoa học xã hội đã góp phần quan trọng, trong
việc cung cấp những luận cứ khoa học cho đường lối đổi mới toàn diện đất
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trước hết là đổi mới tư duy lý luận trên
tất cả các lĩnh vực cơ bản của sự phát triển, nhất là đổi mới tư duy kinh tế.
Nghiên cứu đó có liên quan trực tiếp tới việc hoạch định đường lối, chiến lược,
chính sách phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực
chính trị, kinh tế - xã hội, văn hoá - con người, môi trường, quốc phòng, an ninh
ở mỗi giai đoạn. Những kết quả nghiên cứu của các chương trình, đề tài nghiên
cứu đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận, luận giải những vấn đề thực
tiễn mới nẩy sinh trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa, góp phần xây dựng và thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng khóa VI,
VII, VIII và IX. Kết quả nghiên cứu của các chương trình, đề tài được in thành
sách, được công bố trên các tạp chí khoa học đã góp phần nâng cao nhận thức
của nhân dân về con đường mà Việt Nam đã lựa chọn, về sự nghiệp đổi mới và
phát triển đất nước, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội.
Có thể nói, chất lượng nghiên cứu khoa học xã hội đã được nâng cao thêm một
bước. Những tri thức khoa học hiện đại đã bước đầu được vận dụng vào công
tác quản lý kinh tế - xã hội, khắc phục lối tư duy siêu hình, duy ý chí, mở rộng
tầm nhìn, góp phần giáo dục lòng yêu nước, đạo đức, lối sống của người Việt

khoa học xã hội trong lĩnh vực kinh tế là đã góp phần đáng kể vào công cuộc đổi
mới tư duy kinh tế, tạo nên bước chuyển từ tư duy hiện vật sang tư duy hàng
hoá, tư duy thị trường; từ tư duy bao cấp, ỷ lại sang tư duy chủ động, sáng tạo;
từ tư duy kế hoạch hoá tập trung sang tư duy kinh tế thị trường; từ tư duy kinh tế
khép kín sang tư duy mở cửa, chủ động hội nhập quốc tế, từ tư duy đơn sở hữu
sang tư duy đa sở hữu, đa thành phần; từ không thừa nhận đến thừa nhận sự
đa dạng hoá các hình thức phân phối, kể cả phân phối theo vốn, tài sản; từ tư
duy Nhà nước làm tất cả, độc quyền sang tư duy đa dạng hoá các chủ thể làm
kinh tế, giảm độc quyền nhà nước, xoá bỏ độc quyền doanh nghiệp, v.v
Bên cạnh đóng góp vào việc đổi mới tư duy kinh tế, khoa học xã hội đã góp phần
khẳng định xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô
hình tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, là vấn đề
mang tầm chiến lược và có ý nghĩa quyết định để xây dựng thành công chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam. Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật
của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa có hai chế độ sở hữu cơ
bản là công hữu và tư hữu, có nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh
tế đan xen, hỗn hợp. Các thành phần kinh tế phải được đối xử công bằng và
bình đẳng.
Cùng với công cuộc đổi mới, các nghiên cứu về khoa học xã hội xác định ngày
càng rõ hơn vai trò của kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với
tư cách là động lực của nền kinh tế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status