HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ – HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
- - - Y Z - - -
BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP BỘ NĂM 2007 XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
Ở TÂY NGUYÊN TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
(Mã số: B. 07 - 29) Cơ quan chủ trì: Học viện Chính trị khu vực III
Chủ nhiệm đề tài:
PGS.TS. Trương Minh Dục
3
MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tài
Tây Nguyên (bao gồm 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và
Lâm Đồng) có hơn 46 dân tộc anh em sinh sống (ïcó 12 dân tộc bản địa). Đây là địa
bàn có vị chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế và quốc phòng, an
ninh; có tuyến biên giới dài 591 km, trong đó có 150 km tiếp giáp với tỉnh Atôpơ
của Lào và 441 km tiếp giáp với hai tỉnh Mônđônkiri, Ratanakiri của Cămpuchia.
Quán triệt Nghị quyết 22 của Bộ
Chính trị, Quyết định 72 của Hội đồng Bộ
trưởng (nay là Chính phủ), Chỉ thị 525 của Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt là Nghị
quyết 10 của Bộ Chính trị ngày 18 tháng 01 năm 2002, sau 20 năm đổi mới, kinh tế
- xã hội Tây Nguyên đã có những bước phát triển khá toàn diện và đang chuyển
mạnh sang sản xuất hàng hóa. Hệ thống chính trị cơ sở được kiện toàn, khối đại
đoàn k
ết các dân tộc được giữ vững. Các cấp ủy đảng ở Tây Nguyên đã tập trung
xây dựng cơ sở chính trị ngày càng vững mạnh, phát huy được vai trò lãnh đạo, tổ
chức thực hiện có hiệu quả các chương trình kinh tế, xã hội và duy trì tốt các phong
trào chính trị xã hội của địa phương. Thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân
dân từng bước được củng cố và tăng cường, trật tự an toàn xã hội được
đảm bảo.
Quán triệt những chủ trương, chính sách về củng cố và tăng cường khối đại
ẽ, đồng bộ, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả
của phong trào. Đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, nhất là ở cơ sở còn hạn chế về
năng lực, trình độ, chưa được đào tạo cơ bản.
Lợi dụng những khó khăn về đời sống, đặc điểm tâm lý, phong tục tập quán
của đồng bào dân tộc thiểu số và nhữ
ng thiếu sót, sơ hở trong quá trình thực hiện
chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Đảng, và Nhà nước, các thế lực thù địch
và phản động đã tăng cường hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chủ
trương của Đảng. Thông qua việc truyền đạo Tin lành trái phép, các lực lượng phản
động đã kích động xu hướng ly khai, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, âm mưu
thành lập nhà nước “Đề ga độc l
ập“ (điển hình là các vụ bạo loạn mang tính chất
chính trị vào tháng 2 - 2001 và tháng 4 - 2004)
Tình hình trên đây cho thấy, việc xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân
tộc ở các tỉnh Tây Nguyên đang đặt ra những vấn đề hết sức cấp bách. Công tác vận
động, tập hợp quần chúng thực sự trở thành một cuộc đấu tranh gay go, phức tạp,
quyết liệt chống lại âm mưu, ý đồ c
ủa các thế lực phản động để giữ vững trận địa
lòng dân, củng cố niềm tin của đồng bào vào sự lãnh đạo của Đảng, tích cực xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
5
Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá quá trình lãnh đạo thực hiện xây dựng khối
đại đoàn kết dân dân tộc ở Tây Nguyên trong những năm đổi mới, từ đó rút ra
những kinh nghiệm để góp phần hoàn thiện các chủ trương, biện pháp, thực hiện có
hiệu quả công tác dân vận, nhằm củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc ở
Tây Nguyên là vấn đề có ý nghĩa lý luận và th
ực tiễn sâu sắc.
Xuất phát từ lý do đó, chúng tôi chọn vấn đề “Xây dựng khối đại đoàn kết
dân tộc ở Tây Nguyên trong những năm đổi mới (1986 - 2006)” làm đề tài nghiên
đất có vị trí chiến lược quan trọng này, Mỹ tăng cường nghiên cứu dân tộc học. Một
số công trình về các dân tộc ở Tây Nguyên đã được xuất bản. Đáng chú ý là công
trình Những nhóm tộc người chính ở Nam Việt Nam của G.Hickey, 1967; Những
nhóm thiểu số ở Cộng hoà Nam Việt Nam do tướng Westmoreland chủ biên và cuốn
Cao nguyên miề
n Thượng của Long Giang và Toan Ánh (1974)
1
.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, việc nghiên cứu về Tây Nguyên
nói chung; nghiên cứu về vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc nói riêng nhằm đưa ra
những luận cứ khoa học để khai thác tiềm năng, thế mạnh về điều kiện tự nhiên,
những đặc điểm về văn hóa - xã hội của quá trình xây dựng cuộc sống mới ấm no,
hạnh phúc cho đồng bào các dân tộc thiểu số, thực hiệ
n mục tiêu bình đẳng, đoàn
kết dân tộc được Đảng, Nhà nước ta và các nhà khoa học quan tâm.
Trong văn kiện các đại hội, các nghị quyết của Đảng đều đề cập đến đặc điểm
dân tộc, dân cư và có chính sách, chủ trương phù hợp. Cố Tổng bí thư Lê Duẩn trong
bài báo: "Tây Nguyên đoàn kết tiến lên" (Tạp chí Cộng Sản -1978) và Cố Chủ tịch Hội
đồng Nhà nước Trường Chinh trong bài "Đư
a đồng bào các dân tộc Đắk Lắk lên chủ
nghĩa xã hội" (Tạp chí Cộng Sản, 1983) đã phân tích những đặc thù về dân tộc, dân cư
và chỉ đạo các đảng bộ Tây Nguyên phải nghiên cứu, vận dụng để đề ra chủ trương,
giải pháp cho phù hợp.
- Một số công trình chuyên khảo về dân tộc học như: Tây Nguyên của Hoàng
Văn Huyền (1980); Các dân tộc ít người ở Việ
t Nam (các tỉnh phía Nam) (1984); Đại
cương về các dân tộc Êđê, M'nông ở Đắk Lắk của Bế Viết Đẳng và các đồng tác giả
(1982); Các dân tộc ở Gia Lai- Kon Tum do Đặng Nghiêm Vạn chủ biên (1981); Vấn
đề dân tộc ở Lâm Đồng do Mạc Đường chủ biên (1983); Cộng đồng quốc gia dân tộc
Việt Nam của GS. Đặng Nghiêm Vạn (2003) đã giúp người đọc hiểu rõ nguồn gốc tộc
ết Đẳng chủ biên (1996), đã đánh giá các chính sách của Đảng và Nhà
nước ta được thực thi trong thực tiễn với những thành công và hạn chế, từ đó đề
xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách dân tộc của Đảng.
- Vấn đề đất đai và sở hữu đất đai đã được một số công trình đề cập như các
đề tài cấp bộ: Quản lý, sử dụng đất nông nghiệp ở Tây Nguyên do TS Nguyễn Thế
Tràm làm chủ nhiệm đề tài (2001); Một số giải pháp quản lý nhằm bảo vệ và phát
triển rừng ở Tây Nguyên do ThS. Phạm Phong Duể làm chủ nhiệm đề tài (2003).
Đặc biệt, công trình nghiên cứu khá công phu c
ủa tập thể các nhà khoa học Vũ Đình
Lợi, Bùi Minh Đạo và Vũ Thị Hồng (Viện Dân tộc học) thực hiện: Sở hữu và sử
dụng đất đai ở các tỉnh Tây Nguyên (2000), trên cơ sở nghiên cứu sở hữu đất đai
trong lịch sử, phân tích thực trạng sử dụng đất đai ở Tây Nguyên thời gian qua; từ
đó đề xuất các giải pháp giải quyết v
ấn đề đất đai ở Tây Nguyên. Vấn đề đất đai
chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến những "điểm nóng" ở Tây Nguyên
thời gian qua.
- Trên lĩnh vực chính trị đã có một số công trình như:"Một số vấn đề về xây
dựng hệ thống chính trị ở Tây Nguyên" do PGS. TS Phạm Hảo - TS Trương Minh
Dục đồng chủ biên (2003); Đề tài nhánh cấp nhà nước KX 05 - 11 về
cơ cấu, tiêu
8
chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới hiện nay ở Đắk Lắk
(1993 - 1994); "Một số vấn đề về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện người
các dân tộc ở Tây Nguyên" do GS. TS. Lê Hữu Nghĩa chủ biên (2001). Các công
trình này đã trình bày những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình xây dựng HTCT và
việc hình thành đội ngũ cán bộ các dân tộc thiểu s
ố; đánh giá thực trạng hệ thống
chính trị, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý người dân tộc thiểu số trong HTCT ở Tây
động của quan hệ dân tộc ở Tây Nguyên, từ đó xác định phương hướng và các giải
9
pháp để xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc phù hợp với đặc điểm Tây
Nguyên. Tuy nhiên, các tác giả mới đề cập đến xu hướng xích lại gần nhau của các
dân tộc, chưa thấy được những mầm mống của những nguyên nhân làm rạn nứt
khối đại đoàn kết dân tộc đã bắt đầu xuất hiện khi phát triển kinh tế thị trường, công
nghiêp hoá, hiện đại hoá đất nướ
c.
Đáng chú ý trong lĩnh vực này có các nghiên cứu khá công phu của GS.TS.
Phan Hữu Dật và tập thể tác giả trong công trình: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn
cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay (2001) bước đầu đã đánh giá
những thành công và hạn chế trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng;
phân tích các xu hướng xuất hiện trong quan hệ dân tộüc ở Tây Nguyên thời gian
qua.
- Trên lĩnh vực tôn giáo, có một số
đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ như:
Quá trình thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng, đưa đồng bào theo các đạo giáo
ở Tây Nguyên đi lên CNXH 1975- 1995, do PTS Trần Quốc Long làm chủ nhiệm
(1997); Đạo Tin Lành ở Tây Nguyên - quá trình xâm nhập, đặc điểm và việc thực
hiên chính sách...do TS Nguyễn Văn Nam làm chủ nhiệm (2003). Các đề tài này
bước đầu nghiên cứu các hình thức tôn giáo sơ khai; quá trình thâm nhập, phát triển
của đạo Ki tô, Tin lành vào vùng các dân tộc thiểu số và chính sách tôn giáo của
Đảng, Nhà nước
ở Tây Nguyên.
Từ năm 2002 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã tiến hành chương
trình nghiên cứu cấp bộ về Tổng kết thực hiện chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo ở
Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ. Các tác giả đề tài nhánh Tây Nguyên đã tiến hành
khảo sát thực tế ở 3 tỉnh Kon Tum, Gia Lai và Đắk Lắk, tổ chức hội thảo khoa học và đã
hoàn thành các báo cáo chuyên đề, đặc biệt là báo cáo tóm tắt: Về thực hiện chính sách
Nguyên. Tạp chí Tư tưởng Văn hóa số 6.2003; Luận văn thạc sĩ lịch sử:"Đảng bộ tỉnh
Đắk Lắk lãnh đạo công tác dân vận (1986 - 2002) của tác giả Nguyễn Mậu Linh
(2003).
Ngoài ra, còn một số bài báo khoa học đăng tải trên các tạp chí khoa học
như: Nghiên cứu Lý luận, Thông tin Lý luận, Sinh hoạt Lý luận, Dân vận, Tư tưởng
Văn hóa...
Những công trình khoa học trên đã đề cập nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn
trong quá trình thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng ở các tỉnh Tây
Nguyên.
Nhưng cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu sâu về quá
trình lãnh đạo và thực hiện việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở Tây Nguyên
trong những năm đổi mới. (từ 1986 đến nay)
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
a, Mục tiêu: Tổng kết toàn diện quá trình thực hiện xây dựng và củng cố
khối đại đoàn kết dân tộc của Đảng ở các tỉnh Tây Nguyên trong những nă
m đổi
mới, rút ra những kinh nghiệm thực tiễn. Trên cơ sở đó, xác định phương hướng và
đề xuất các giải pháp để giải quyết vấn đề dân tộc, củng cố và tăng cường khối đại
đoàn kết dân tộc ở Tây Nguyên trong thời gian đến.
b, Nhiệm vụ
1
Trần Đức Lương: Đảng, Nhà nước, nhân dân ta nhất định xây dựng Tây Nguyên thành địa bàn trù phú, tươi
đẹp. Báo Nhân dân, ngày 27-3-2006.
2
Lê Truyền: Thực hiện chính sách đoàn kết, bình đẳng, giúp nhau cùng phát triển trong đồng bào dân tộc
thiểu số ở Tây Nguyên, Báo Nhân dân ngày 27-3-2006.
3
CHƯƠNG I
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG VÀ CỦNG CỐ
KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC ỞÍ TÂY NGUYÊN
Tây Nguyên - theo các nhà nghiên cứu, là một danh từ xuất hiện vào giữa
năm 1947 để chỉ vùng cao nguyên rộng lớn phía Tây Nam Trung bộ, ngày nay là 5
tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng.
Tây Nguyên là một vùng lãnh thổ tự nhiên có tài nguyên thiên nhiên phong phú,
là vùng có vị trí chiến lược quan trọng trong nhiều mặt về chính trị, quốc phòng, an
ninh.
Tây Nguyên hiện nay là địa bàn cư trú của cư dân thuộc 46 dân tộc trong cả
nước, trong đó có 12 dân tộc thiểu số bản địa. Theo số li
ệu thống kê năm 2005, dân
số Tây Nguyên có hơn 4,66 triệu người (chiếm hơn 5,3% dân số cả nước, (trong đó
đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ là 1.181.337 người, chiếm 25,35% dân số Tây
Nguyên).
Đứng về góc độ văn hóa học, Tây Nguyên là một khu vực lịch sử - văn hóa
hay khu vực lịch sử - dân tộc học của nước ta, nhưng chỉ là một bộ phận của cao
nguyên miền Trung Đông Dương từ
Đông Bắc Campuchia, Nam Hạ Lào đến Cò
Rạt của Thái Lan, và hợp thành một khu vực địa lý - văn hóa - dân tộc rất quan
trọng ở Đông Nam Á lục địa.
I. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN
Với diện tích 54.474 km
2
, chiếm khoảng một phần sáu diện tích cả nước, Tây
Nguyên là một vùng đất rộng lớn chứa đựng nhiều tiềm năng phát triển, đặc biệt là
phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa lớn.
Đray H’Linh (Đắk Lắk), thủy điện Ia Ly (Gia Lai - Kon Tum). Hiện nay, các nhà
máy thủy điện khác (như Sê San II, Sê San III, Buôn Trốp) đang được xây dựng ở
Tây Nguyên. Ngoài những sông lớn, những sông suối nhỏ ở Tây Nguyên cũng có
thể khai thác thủy điện vừa và nhỏ phục vụ nhu cầu t
ại chỗ. Ngoài thủy điện, Tây
Nguyên có nguồn năng lượng mặt trời phong phú. Với chế độ khí hậu hai mùa mưa
nắng rõ rệt (mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa nắng từ tháng 11 đến tháng 4),
trong đó, mùa nắng có độ bức xạ mặt trời rất cao nên năng lượng mặt trời ở Tây
Nguyên vào mùa đó được đánh giá là có tiềm năng khai thác hơn ở những vùng đất
khác.
Bên cạnh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, Tây Nguyên là vùng đấ
t tươi
đẹp, chứa đựng nhiều tiềm năng về du lịch, đặc biệt là du lịch tự nhiên - sinh thái và
14
du lịch văn hóa. Những cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ trong các cánh rừng nguyên
sinh ở Chư Mo Ray, Đak Uy, Ngọc Linh, Lang Biang, Kon Hơ Nừng, Yoóc Đôn,
Lak,... với các thác nước trong lành với những cánh rừng xanh tươi nhiều hoa lá
(như thác Đak T’re, thác Konxlak, thác Măng Cành, thác Yaly,...) luôn hấp dẫn con
người đến chiêm ngưỡng, nghỉ ngơi, thư giãn. Cùng với những cảnh quan thiên
nhiên tươi đẹp và hùng vĩ, những nền văn hóa phong phú, đa dạng và độc đáo của
các dân tộc bả
n địa Tây Nguyên với những kho tàng văn hóa vật thể và phi vật thể
và một hệ thống các di tích văn hóa - lịch sử hứa hẹn những khả năng rộng lớn để
phát triển một nền kinh tế du lịch văn hóa kết hợp với du lịch sinh thái sinh động và
hấp dẫn.
Tuy vậy, bên cạnh những thuận lợi nêu trên, điều kiện tự nhiên ở Tây Nguyên
cũng chứa đự
ng không ít những khắc nghiệt, khó khăn, tạo ra những cản trở không
nhỏ đối với quá trình phát triển của vùng. Cụ thể:
sớm hơn: bắt đầu từ tháng 6 và kéo dài đến tháng 9, nhưng biên độ lũ không lớn,
lượng dòng chảy mặt, dòng chảy ngầm đều thấp hơn so với trung bình nhiều năm
trước đó, tháng 10 và tháng 11 hầu như không có lũ. Những biến động bất thường
về thời tiết đó là điề
u kiện bất lợi cho sản xuất vụ Đông Xuân. Tình hình khô hạn
trên địa bàn Tây Nguyên trở nên đặc biệt nghiêm trọng kể từ năm 1998 đến nay, đã
gây nhiều thiệt hại đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng. Ước tính trong 6
tháng đầu năm 2002, thiệt hại do hạn hán gây ra đối với Đắk Lắk là khoảng 500 tỷ
đồng, Lâm Đồng khoảng 350 tỷ đồng.
1
Sự khắc nghiệt của khí hậu và những diễn biến xấu của thời tiết trong thời
gian gần đây cùng với sự ngăn cách của địa hình đã tạo nên những khó khăn lớn đối
với sự phát triển nhiều mặt của một số khu vực cũng như toàn vùng Tây Nguyên.
- Sau giải phóng, nhiều loại tài nguyên của Tây Nguyên, đặc biệt là tài
nguyên rừng, bị sử dụng lãng phí và mấ
t mát nghiêm trọng do sự khai thác quá
mức, không có kế hoach, thậm chí là sự phá hoại của con người. Nhiều cánh rừng
nguyên sinh ở Tây Nguyên bị khai thác, đốt phá bừa bãi để lấy gỗ, lấy củi, lấy đất
canh tác, làm nương rẫy. Theo tính toán sơ bộ của các cơ quan chức năng, từ 1975
đến 1993, rừng của Tây Nguyên bị mất hơn một triệu hec ta. Ở Đắk Lắk, từ năm
1978 đến 1991 rừng bị mất 114.300 ha, bình quân m
ỗi năm Đắk Lắk mất 8793 héc
ta rừng. Từ 1992 đến 1995 tốc độ mất rừng có giảm nhưng bình quân mỗi năm cũng
mất từ 3.000 đến 5.000 ha
2
. Vì vậy, cơ cấu rừng của Tây Nguyên thay đổi theo
hướng giảm rừng nguyên sinh giàu, tăng rừng nghèo và rừng cây bụi. Mặc dù đã có
nhiều nỗ lực ngăn chặn, nhưng hiện nay tình trạng phá rừng, khai thác rừng trái
phép vẫn âm thầm diễn ra nhiều nơi ở Tây Nguyên. Theo báo cáo của các địa
II. ĐẶC ĐIỂM DÂN TỘC, DÂN C
Ư Ở TÂY NGUYÊN
Nghiên cứu thành phần dân tộc và sự phân bố cư dân ở Tây Nguyên hiện
nay, có thể phân thành hai khối: khối các dân tộc thiểu số bản địa và khối cư dân
mới nhập cư (cư dân người Kinh và các dân tộc thiểu số ở miền Nam và miền Bắc)
đến Tây Nguyên trong những giai đoạn lịch sử khác nhau
2.1. Đặc điểm các dân tộc thiểu số bản địa
Khái niệm bản địa đượ
c dùng để chỉ các dân tộc thiểu số bản địa đã có mặt ở
Tây Nguyên rất lâu trước khi người Kinh chuyển cư từ các miền đồng bằng và ven
biển lên đây sinh sống, làm ăn.
Từ lâu Tây Nguyên là địa bàn sinh tụ lâu đời của 12 dân tộc thiểu số bản địa:
Gia Rai, Ê Đê, Chu Ru, Ra Glai, Ba Na, Xơ Đăng, Cơ Ho, Mạ, M’nông, Gié
1
Bộ Kế hoạch và đầu tư - Vụ kinh tế địa phương. Tài liệu đã dẫn
17
Triêng, Brâu, Rơ Măm, trong đó có những dân tộc như Brâu, Rơ Măm dân số trên
dưới 350 người được đưa vào “sách đỏ”.
Các dân tộc thiểu số bản địa ở Tây Nguyên thuộc 2 ngữ hệ: Nam Á (nhóm
Môn - Khơme) và Nam Đảo (nhóm Malayo - Polynesia). Hai nhóm cư dân này có
mối quan hệ trong lịch sử phát triển. Có người cho rằng cư dân nói tiếng Nam Đảo
vốn xưa cũng là cư dân nói tiếng Môn - Khơme, trải qua quá trình giao tiếp lâu dài đã
bị Nam Đả
o hóa. Lại có người quan niệm cư dân nói tiếng Môn - Khơme vốn xưa nói
tiếng Nam Đảo, về sau đã bị Môn - Khơme hóa.
Giải thích hiện tượng này, các học giả cho rằng những người Môn- Khơ me
là những chủ nhân đến vùng đất này trước (chính vì vậy, họ được gọi là những
Do hậu quả của lịch sử để lại, nên mỗi dân tộc ở Tây Nguyên thường có
nhiều ngành, nhiều nhóm địa phương.
2.1.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội
Tây Nguyên là một vùng đất có tầm quan trọng đặc biệt về kinh tế, chính trị,
quốc phòng, an ninh. Hoàn cảnh địa lý, môi trường sinh thái và con người ở đây với
cấu trúc xã hội và gia đình độc đáo, với một tập hợp các yếu t
ố văn hóa phong phú, đa
dạng, với nhiều gam màu sắc hấp dẫn đã tạo thành một vùng văn hóa tiêu biểu, một
khu vực lịch sử - dân tộc học kỳ thú.
Trong các công trình nghiên cứu về Tây Nguyên, các tác giả đều cho rằng xã
hội Tây Nguyên trước khi thực dân Pháp xâm lược còn đang ở giai đoạn cuối của
chế độ nguyên thuỷ với truyền thống mẫu hệ đối với cư dân nói ngôn ngữ Malayo -
Polynesia và phụ hệ ở mức độ phụ hệ khác nhau của cư dân nói ngôn ngữ Môn -
Khơ me
1
.
Đặc điểm trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc thiểu số ở Tây
Nguyên cũng được chúng tôi đề cập đến trong các công trình nghiên cứu của mình
2
và coi đó là điểm xuất phát cho mọi chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước
đối với các dân tộc thiểu số ở vùng này.
"Đặc điểm kinh tế của cư dân Tây Nguyên là một nền nông nghiệp nương rẫy.
Người Tây Nguyên làm nương rẫy không đi vào cải tiến công cụ sản xuất, chiếc rìu, xà
gạc, gậy chọc lỗ, chiếc cuốc xới cỏ tồn tại từ bao
đời nay. Nhưng họ hướng những cố
gắng vào khâu kỹ thuật canh tác để giữ độ màu của đất, hạn chế rửa trôi, nhanh tái sinh
rừng, giữ độ ẩm cho đất, khai thác những khác biệt của tiểu khí hậu địa phương để phơi
1
dụng các dải đất thấp gần suối để trồng lúa nước bằng kỹ thuật thô sơ: xới đất bằng
cuốc, đào mương nhỏ và ngắn để đưa nước suối vào ruộng, có nơi dùng trâu d
ẫm.
Các nguồn sống khác: hái lượm và săn bắt là hai loại hình thức kinh tế chiếm
đoạt bổ sung cho nghề nương rẫy, góp phần quan trọng cho bữa cơm hàng ngày của
người dân tộc. Ở Tây Nguyên do không gian rộng, địa thế tương đối bằng phẳng với
bãi cỏ xen với rừng, lại có thể là nơi sinh hoạt của những bầy thú lớn, do đó càng
khuyến khích hoạt động săn bắt. Dệ
t và đan lát là hai nghề thủ công phổ biến, là hoạt
động diễn ra trong mọi gia đình vào thời kỳ nông nhàn, nhưng chỉ chủ yếu giúp từng
gia đình tự túc về mặc và một số đồ gia dụng. Người Tây Nguyên đã biết nghề rèn sắt,
do kỹ thuật phức tạp của nó, nghề thủ công này đã chuyên môn hóa, là hoạt động của
một số gia đình và đã bước đầu đi vào trao đổ
i. Một luồng trao đổi ra đời giữa các vùng
Thượng, tuy không thường xuyên, với con trâu làm vật ngang giá.
Săn bắt và thuần phục voi cũng là công việc nguy hiểm, nhưng là một nghề
cũng được tổ chức hàng năm. Đây là một nghề đòi hỏi sự hiểu biết phong phú và lòng
dũng cảm và cả những điều may rủi, sự trợ giúp của thần linh.
Ngoài nghề trồng trọt, chăn nuôi gia súc, làm nghề
thủ công để tạo ra vật dụng
cần thiết cho tiêu dùng, người Tây Nguyên vẫn tiến hành hái lượm, là nghề khai thác
bầu sữa tự nhiên của núi rừng. Hàng ngày, người Tây Nguyên vào rừng săn bắt, hái
lượm để phục vụ cho đời sống thường nhật: rau quả, các loại củ, măng, nấm, chim thú,
cá tôm, một số loài côn trùng ăn được. Hái lượm, săn bắt ngoài nhu cầu kinh tế, đó còn
là một nhu cầu văn hóa, là thú vui, mộ
t cách để con người hòa mình trở lại với thế giới
quen thuộc của mình.
Canh tác nương rẫy theo kiểu luân canh, đòi hỏi một không gian sinh tồn rộng,
hình thành nên một thói quen chuyển dịch thườìng xuyên trong cuộc sống và sinh hoạt.
Tuy nhiên, nghề rèn của người Xơ Đăng, nghề gốm của người Gié Triêng rất nổi
tiếng.
+ Sản xuất hàng hóa nhỏ chưa xuất hiện. Do phân công lao động chưa phát
triển và còn nặng tính chất giới tính nên sản xuất hàng hoá nhỏ chưa xuất hiện.
Quan hệ hàng hóa tiền tệ chưa phát triển. Những yế
u tố của sản xuất hàng hóa gắn
với quá trình du nhập chủ nghĩa tư bản từ bên ngoài vào, chủ yếu tập trung ở các thị
xã, thị trấn. Kinh tế tư bản chủ nghĩa chưa đủ sức thay thế kinh tế tự nhiên.
Quan hệ trao đổi trước đây chỉ diễn ra giữa thương nhân Lào, Việt hay già
làng trưởng bản và mang nặng tính chất bất bình đẳng.
1
Trương Minh Dục: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Tây Nguyên. Nxb
CTQG, H., 2005, tr. 103, 104.
21
Sau ngày giải phóng, phương thức sản xuất có ít nhiều thay đổi: một bộ phận
chuyển sang trồng cây công nghiệp: cà phê, cao su, tiêu. Tuy nhiên, phương thức
sản xuất đốt rừng làm rẫy, chọc lỗ tỉa hạt vẫn được duy trì. Do phương thức sản
xuất ít thay đổi, kinh tế - xã hội phát triển chậm, nền nông nghiệp độc canh, tự cung
tự cấp còn quá nhỏ bé lạc hậu nên năng suất lao động xã h
ội rất thấp.
Đời sống của nhân dân các dân tộc thiểu số sau 30 năm giải phóng dù đã
được cải thiện nhiều nhưng số nghèo đói vẫn còn nhiều. Thu nhập của người dân
các dân tộc thiểu số từ 50.000 đ đến 100.000 đồng / tháng, phổ biến là 50. - 60.000
đ, thậm chí thu nhập bình quân của bà con dân tộc Brâu ở làng Đắc Mế (Ngọc Hồi,
Kon Tum) là 36.000 đ / tháng
1
. Năm 1975 ở Đắk Lắk 50% dân số đói quanh năm,
nay còn 20% thiếu đói 2 đến 5 tháng lúc giáp hạt.
sản phẩm trong ngành nông nghiệp ngày càng được nâng cao. Ngành trồng trọt
ngày càng phat triển theo xu hướng đa dạng hóa cây trồng với những vườn cây công
nghi
ệp, cây ăn quả, vườn rừng. Ở Đắk Lắk trong những năm đầu thập kỷ 80 của thế
kỷ XX, cây công nghiệp chỉ chiếm hơn 20% thì nay đã chiếm ưu thế (hơn 1/2 giá trị
sản phẩm ngành trồng trọt; cây lương thực từ chỗ chiếm 60% giá trị sản phẩm
ngành trồng trọt hiện nay chỉ còn chiếm 1/3). Vì vậy, trong cơ cấu thu nhập của
ngườ
i dân nguồn thu từ trồng trọt, nhất là trồng lúa giảm xuống, có nơi như người
Xơ Đăng ở Ea Giêng (Krông Bách, Đắk Lắk), người Ê Đê ở Ea Phê (Krông Bách,
Đắk Lắk) còn 46,74%.
Tiếc rằng xu hướng này chưa trở thành phổ biến trong các vùng dân tộc mà
chỉ phát triển ở những vùng thuận lợi, dọc các trục giao thông.
2.1.2. Đặc điểm văn hóa
- Trình độ dân trí còn thấp. Do ảnh hưởng nặng nề c
ủa chính sách chia để trị
và chính sách ngu dân triệt để của chính quyền phong kiến và thực dân Pháp, trước
Cách mạng Tháng Tám 1945 gần như 100% nhân dân các dân tộc Tây Nguyên mù
chữ, thất học. Khái niệm trường lớp, thầy giáo, học sinh chưa có. Thực dân Pháp
chỉ chú ý đào tạo một số trí thức để phục vụ cho chính sách thống trị của chúng. Sau
khi thay thế thực dân Pháp, chính quyền Mỹ - ngụy có phát triển giáo dục ở Tây
Nguyên, nhưng đó là một n
ền giáo dục mất cân đối về nhiều mặt, vừa phản động về
nội dung. Tỷ lệ người đi học so với dân số rất thấp
1
.
Sau ngày giải phóng, chính quyền cách mạng đã nhanh chóng xóa bỏ nền
giáo dục phản động và nô dịch của chế độ Mỹ - ngụy, cải tạo và xây dựng lại các cơ
sở giáo dục nhỏ bé, mất cân đối mà chế độ cũ để lại. Thành lập một nền giáo dục
xã hội ở vùng dân tộc.
- Phong tục tập quán lạc hậu còn phổ biến. Các tập tục, tập quán của đồng
bào các dân tộc được hình thành qua quá trình sản xu
ất, đấu tranh với thiên nhiên và
xã hội và tồn tại, bén rễ sâu trong lịch sử phát triển của các dân tộc. Các tập tục cổ
hủ mang yếu tố tự ti, biệt lập, khép kín của các công xã thị tộc và có giá trị như luật
pháp của từng buôn làng. Nó ràng buộc con người, kìm hãm trí tuệ con người, làm
cho con người dễ chấp nhận thực tại, không thích thay đổi, chưa có ý chí vươn lên
để tiếp thu cái mới.
Trình độ dân trí thấp cộng v
ới phong tục tập quán lạc hậu chính là căn nguyên
sâu xa kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, là nguyên nhân của kinh tế - xã
hội chậm phát triển. Đây chính là cơ sở để trong quá trình thực hiện chính sách phát
triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc, sự nghiệp phát triển văn hóa giáo dục phải đi trước
một bước, mở đường cho phát triển kinh tế. Chỉ khi nào trình độ dân trí được nâng lên,
phong tục tập quán, tâm lý xã hộ
i cũ được thay đổi mới hình thành ý thức công dân của
mỗi người dân tạo ra những tiền đề cần thiết cho sự phát triển.
2.1.3. Đặc điểm tổ chức xã hội
24
Xã hội Tây Nguyên đang tồn tại tàn dư của chế độ công xã nông thôn điển
hình. Đặc điểm kinh tế như trình bày ở phần trên chính là nền tảng cho thiết chế xã
hội tồn tại là công xã nông thôn điển hình. Hình thái tổ chức xã hội của đồng bào là
các buôn, plây. Đó là tổ chức xã hội cao nhất tương đối hoàn chỉnh, tương đối độc
lập và tách biệt khép kín về khu vực canh tác, khu vự
c cư trú với thiết chế xã hội
hạn chế. Ranh giới lãnh thổ, quyền sử dụng đất riêng được xác định, các luật tục, lễ
thức gắn liền với buôn, plây. Thiết chế xã hội này được coi là thiêng liêng, tồn tại
bất chấp những tác động bên ngoài dưới thời thực dân cũ và mới; bên cạnh những
25
bộ, từng bước giải phóng sức lao động, thúc đẩy kinh tế tư hữu của gia đình nhỏ
phát triển. Đây là một cuộc cách mạng trong lĩnh vực kinh tế xã hội ở Tây Nguyên.
Trong các hình thức gia đình chưa phải cổ truyền này, người vợ vẫn giữ vai
trò của người chủ gia đình mẫu hệ truyền thống, nhưng vai trò của người đàn ông
cũng thay đổi nhiề
u, họ thay mặt cho gia đình trong lĩnh vực sản xuất và hoạt động
xã hội, kể cả chức vụ nếu có. Họ vẫn là động lực phát triển xã hội với những hạn
chế nhất định.
Trình bày những nhân tố kinh tế, văn hóa, xã hội cho thấy rằng nội lực cho sự
phát triển của các dân tộc ở trình độ thấp. Để giúp họ vươn lên xây dựng cuộc s
ống
mới, chính sách của Đảng phải phù hợp với đặc điểm kinh tế xã hội để từng bước
phát triển lực lượng sản xuất đem tiến bộ và văn minh vào vùng dân tộc, từng bước
xóa bỏ nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân; phải
có sự giúp đỡ của cả nước trong sự bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau mới tạo đ
à cho các
dân tộc vươn lên được.
2.2. Đặc điểm khối cư dân mới đến Tây Nguyên
Do điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp cho nên Tây
Nguyên có sự thu hút dân cư trong nước tới lập nghiệp. Theo số liệu thống kê, dân
số Tây Nguyên tăng cơ học nhanh. Sự biến động của cơ cấu dân cư làm cho vấn đề
kinh tế - xã hội ở Tây Nguyên thêm phức tạp. Đến nay đã có c
ư dân của 34 tộc
người khắp cả nước với thành phần cư dân cơ cấu phức tạp, có quá trình phát triển
kinh tế-xã hội không đồng đều, lại đa dạng về ngôn ngữ, tâm lý xã hội, phong tục
tập quán và văn hóa nghệ thuật, có nguyên quán ở hầu hết các tỉnh trong cả nước.
Do đó, cư dân Tây Nguyên là quần thể chưa ổn định. Tính thống nhất của họ mới
d
ựa vào một cơ sở vững chắc và duy nhất: đó là cuộc đấu tranh chống phong kiến,