Đề cương ôn tập Đảng lãnh đạo xây dựng khối Đại đoàn kết dân tộc và Hệ thống chính trị - Pdf 35

NỘI DUNG ÔN THI HỌC PHẦN BẮT BUỘC 3
Đảng lãnh đạo xây dựng khối ĐĐK dân tộc và HTCT
1. Tính đúng đắn, sáng tạo của chủ trương tập hợp lực lượng cách mạng trong Cương lĩnh đầu
tiên của Đảng. Ý nghĩa lịch sử và hiện thực?
Ngay từ khi Đảng cộng sản Việt Nam mới thành lập, trong cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng tháng
2 năm 1930 đã khẳng định con đường, mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng nước ta. Cương lĩnh đâu tiên trở
thành ngọn cờ tập hợp, đoàn kết các lực lượng và lãnh đạo phong trào cách mạng từ khi Đảng được thành lập,
nội dung của cương lĩnh nhìn chung luôn được thể hiện nhất quán trong suốt toàn bộ đường lối cách mạng nước
ta qua từng thời kỳ. Việc tìm hiểu để nêu những luận điểm của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là điều
cần thiết để khẳng định giá trị khoa học và tính đúng đắn của con đường mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.
Chính cương, sách lược tóm tắt đã trở thành cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng xác định đường lối
cách mạng Việt Nam, Đảng đã thể hiện trình độ tư duy sâu sắc và sáng tạo : vừa vận dụng đúng đắn chủ nghĩa
Mác-Lênin vào cách mạng Việt Nam, vừa đáp ứng chính xác những yêu cầu khách quan của xã hội Việt Nam
lúc bấy giờ. Đặc biệt chủ trương tập hợp lực lượng cách mạng:
Cương lĩnh xác định rõ cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải dựa trên lực lượng cách
mạng là liên minh công – nông làm nòng cốt, trong đó giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo nhưng đồng thời
phải lôi kéo, tập họp cả những người yêu nước ở tầng lớp tiểu tư sản, trí thức, trung nông và lợi dụng, trung lập
phú nông, trung và tiểu địa chủ, tư sản dân tộc. Đó là chủ trương đoàn kết tất cả các giai cấp cách mạng, các lực
lượng tiến bộ và cá nhân yêu nước nhằm tập trung lực lượng đánh đổ kẻ thù chủ yếu của dân tộc là CNĐQ
Pháp và tay sai, mở đường cho cách mạng phát triển đến thắng lợi hoàn toàn. Sự phân chia giai cấp tư sản, địa
chủ ra thành những nhóm đối tượng khác nhau để có chính sách đối xử phù hợp, tranh thủ lôi kéo những người
có lòng yêu nước, trung lập những người có thể trung lập nhằm làm suy yếu kẻ thù và cương quyết trừng trị đối
với kẻ thù là thể hiện sự nhận thức và đánh giá đúng của Đảng ta đối với mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp trong xã
hội, mỗi dân tộc trong cộng đồng, thừa nhận tính tích cực và sự đóng góp của họ trong sự nghiệp giải phóng
dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước. Đường lối xây dựng lực lượng cách mạng thể hiện rõ nét quan điểm về
đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh từ niềm tin sâu sắc mọi người Việt Nam đều là con Lạc, cháu Hồng. Ai
cũng chịu cái khổ, cái nhục của họa mất nước. Vì vậy, việc cứu nước là việc của mọi người, không phụ thuộc
vào địa vị xã hội, vào hoàn cảnh kinh tế, vào năng lực cá nhân
Giai cấp công nhân Việt Nam có đầy đủ những đặc điểm của giai cấp vô sản thế giới (như sống tập
trung, đại diện cho phương thức sản xuất hiện đại, có sứ mệnh lịch sử…) đồng thời họ lại có những đặc điểm
riêng của dân tộc như vừa bị áp bức giai cấp, vừa bị áp bức dân tộc cho nên họ có tinh thần triệt để cách mạng

số, đã có Cương lĩnh chính trị đầu tiên đúng đắn ngay từ đâu. Điều đó chứng minh rằng, Đảng đã nắm vững bản
chất khoa học và cách mang của chủ nghĩa Mác - Lênin, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa yếu tố dân tộc
và yếu tố giai cấp, sớm kết hợp yếu tố giai cấp với yếu tố dân tộc một cách sáng tạo, gắn chủ nghĩa yêu nước
chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản, phát huy được truyền thống yêu nước, đánh giá đúng vị trí của từng
giai cấp cách mạng, đoàn kết được các lực lương yêu nước, nhờ đó mà Đảng đã nắm được quyền lãnh đạo cách
mang. Chúng ta cũng không thể phủ nhận được rằng những chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ mà Cương lĩnh đã
nêu thời gian qua đã chứng tỏ sự đúng đắn, khoa học và như một thứ động lực tinh thần hợp lòng người nhất,
để trên nền móng đó phát huy sức mạnh của lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam, đặc biệt là trong công cuộc
đổi mới xây dựng CNXH ngày nay.
2. Bằng lý luận và thực tiễn hãy chứng minh: Đoàn kết là sức mạnh và động lực to lớn để giành
thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Ý nghĩa hiện thực của vấn đề?
Trong lịch sử, các triều đại phong kiến Việt Nam đã sớm nhận thấy sức mạnh to lớn của quần chúng
nhân dân trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo đã khẳng định, ý chí của
nhân dân chính là thành trì vững chắc nhất để giữ nước. Nguyễn Trãi lấy tư tưởng “Chở thuyền cũng là dân, lật
thuyền cũng là dân” làm nền tảng quan trọng để phát huy tối đa sức mạnh của nhân dân, đưa cuộc khởi nghĩa
Lam Sơn vượt qua khó khăn, đi đến thắng lợi, đánh bại quân xâm lược, giành lại giang sơn, giữ yên biên
cương, bờ cõi của dân tộc.
Không chỉ dừng lại ở đề cao vai trò của nhân dân, trên cơ sở quan tâm đến quyền lợi, lợi ích của nhân
dân, các triều đại phong kiến Việt Nam đã khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân để đánh bại các thế lực
ngoại bang xâm lược. Sự đồng thuận, đoàn kết thống nhất trong nội bộ triều đình là một trong những nguyên
nhân hết sức quan trọng góp phần quyết định những chiến công vẻ vang của cha ông ta.
Trong thời đại Hồ Chí Minh, tư tưởng đại đoàn kết được nhân lên gấp bội. Đại đoàn kết toàn dân tộc


trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức đã trở thành đường lối
chiến lược của cách mạng Việt Nam, huy động và chuyển hoá sức mạnh của toàn dân tộc và sức mạnh thời đại
thành sức mạnh tổng hợp là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc.
Dưới ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân tộc, toàn thể nhân dân từ Bắc chí Nam, từ miền ngược đến miền
xuôi, không kể dân tộc, thành phần xuất thân đã kết thành khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp đấu tranh

và nghiêm trọng, kỷ cương phép nước nhiều lúc, nhiều nơi không nghiêm, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp, trật tự
an toàn xã hội còn phức tạp. Các vụ khiếu kiện đông người vẫn còn nhiều, có lúc, có nơi rất gay gắt.
Việc tập hợp nhân dân vào Mặt trận và các đoàn thể, các tổ chức xã hội còn nhiều hạn chế, nhất là ở khu vực kinh tế tư
nhân, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ở một số vùng có đông đồng bào theo đạo, đồng bào dân tộc thiểu
số...
Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX số 23-NQ/TW, ngày 12 tháng 3 năm 2003 về phát
huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" trong đó nêu bật
các chủ trương và giái pháp

chủ trương và giải pháp chủ yếu xây dưng khối đại đoàn kết dân tộc do Hội nghi Trung ương 7 khóa IX
xác định
1- Xây dựng những định hướng chính sách nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Phát triển mạnh mẽ nền kinh tế nhiều thành phần, lấy phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân là nhiệm vụ
trung tâm; gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái trong từng bước phát
triển; đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo, khuyến khích làm giàu chính đáng. Tổ chức việc kết nghĩa, giúp đỡ nhau giữa
các vùng, các địa phương có kinh tế phát triển với vùng nghèo, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Phát triển văn hoá, y tế, giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ, phấn đấu nâng dần độ đồng đều về trình độ dân
trí, văn hoá và mức độ hưởng thụ, chăm sóc sức khoẻ của nhân dân các vùng trong nước; gìn giữ và phát huy văn
hoá truyền thống tốt đẹp của từng dân tộc; xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của cộng đồng
các dân tộc Việt Nam.
Phát huy dân chủ, giữ gìn kỷ cương; đẩy mạnh đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, đặc quyền, đặc lợi;
thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", coi trọng vai trò của nhân dân trong đấu tranh
chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.


Định hướng chính sách đối với các giai cấp, tầng lớp xã hội :
Giai cấp công nhân : nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp, bồi dưỡng tác phong
công nghiệp, thực hiện "trí thức hoá công nhân".
Giải quyết việc làm, giảm tối đa tỉ lệ công nhân thiếu việc làm và thất nghiệp. Thực hiện tốt pháp luật lao động, bảo
hộ lao động và việc chăm sóc, phục hồi sức khoẻ cho công nhân. Sớm tổ chức thực hiện Quỹ trợ cấp thất nghiệp.

cao trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp cho phụ nữ. Chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em. Tạo điều kiện để phụ
nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý các cấp.
Cựu chiến binh : phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính
quyền, chế độ xã hội chủ nghĩa; giúp nhau cải thiện đời sống; xoá đói, giảm nghèo; góp phần giáo dục truyền thống
và chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ; là chỗ dựa tin cậy của Đảng và chính quyền ở cơ sở.
Người cao tuổi : xây dựng chính sách chăm sóc sức khoẻ, quan tâm hơn đến người cao tuổi về y tế, hưởng thụ văn
hoá, nhu cầu được thông tin, phát huy khả năng tham gia đời sống chính trị của đất nước và các hoạt động xã hội,
nêu gương tốt, giáo dục lý tưởng và truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ. Thực hiện tốt chính sách đền ơn đáp
nghĩa, chăm sóc người có công với nước. Xây dựng Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi. Phát huy
vai trò Hội Người cao tuổi Việt Nam.
Các nhà doanh nghiệp : coi trọng vai trò của các doanh nhân trong phát triển kinh tế - xã hội. Hoàn thiện khung pháp
lý chung để các nhà doanh nghiệp yên tâm phát triển sản xuất - kinh doanh. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối
với các tổ chức hiệp hội các nhà doanh nghiệp.
Các dân tộc thiểu số : thực hiện tốt chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển trong cộng
đồng các dân tộc Việt Nam; chống kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc. Tập trung phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật
chất và tinh thần, xoá đói, giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, tiếng nói, chữ
viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Nêu cao ý thức tự lực tự cường của đồng bào các dân tộc thiểu số,


đồng thời tăng cường sự hỗ trợ, giúp đỡ của Nhà nước và cộng đồng. Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, nhân sĩ, trí thức dân tộc thiểu số. Động viên, phát huy vai trò của mọi tầng lớp nhân dân trong việc
bảo đảm an ninh chính trị và trật tự xã hội.
Đồng bào các tôn giáo : bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo, quyền sinh hoạt tôn giáo
bình thường theo pháp luật. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào
không theo tôn giáo. Giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của đạo lý và truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh
và nhớ ơn những người có công với nước, đấu tranh ngăn chặn các hoạt động mê tín dị đoan. Đồng bào theo đạo và
các chức sắc tôn giáo có trách nhiệm sống “tốt đời, đẹp đạo”, phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của
tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo hợp pháp hoạt động theo luật pháp và được luật pháp bảo hộ. Tăng cường công tác
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác tôn giáo.
Nghiêm cấm lợi dụng các vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật, kích động gây chia rẽ khối

nhiệm với dân", "nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin".
Cán bộ, công chức phải có thái độ chân thành, tôn trọng dân, hướng dẫn và giúp đỡ nhân dân; không thành kiến,
phân biệt đối xử khi làm việc với dân.
Bổ sung, hoàn chỉnh Pháp lệnh cán bộ, công chức, chú ý phát huy vai trò giám sát của nhân dân đối với hoạt động
của cán bộ, công chức.
Thực hiện phương thức dân chủ trong lãnh đạo và quản lý điều hành, khắc phục lối làm việc mệnh lệnh, hành chính
đơn thuần.


3- Mở rộng và đa dạng hoá các hình thức tập hợp nhân dân, nâng cao vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các đoàn thể nhân dân trong việc thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc.
- Mở rộng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đa dạng hoá các hình thức tập hợp nhân dân. Đẩy mạnh và nâng cao chất
lượng hoạt động của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức xã hội và các tổ chức nhân
dân. Sớm ban hành luật về hội quần chúng. Xây dựng các văn bản dưới luật để cụ thể hoá những nội dung nói trên
và để Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát huy hiệu lực tốt hơn trong đời sống xã hội.
Xây dựng các cộng đồng dân cư tự quản ở các thôn, làng, bản, ấp, tổ dân phố, hoạt động trên cơ sở hương ước,
quy ước không trái pháp luật. Chú trọng bồi dưỡng và hướng dẫn những người có uy tín trong cộng đồng tham gia
đóng góp cho phong trào chung.
Phát huy những mặt tốt của các hình thức cộng đồng truyền thống như làng, bản, dòng họ, gia đình; đồng thời, kịp
thời uốn nắn những biểu hiện cục bộ, lệch lạc.
- Mặt trận và các đoàn thể nhân dân phối hợp với các cơ quan nhà nước hướng hoạt động nhiều hơn về cơ sở, đến
từng hộ dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vận động và giúp nhân dân xoá đói, giảm nghèo,
vươn lên làm giàu chính đáng, hợp pháp, xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc ở từng cộng đồng dân cư. Đi sát để
hiểu tâm tư, nguyện vọng nhân dân, phát huy, nhân rộng những sáng kiến tích cực; vừa làm tốt chức năng tuyên
truyền, giáo dục, vừa quan tâm bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân.
Cử đại diện của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân tham gia các uỷ ban, hội đồng, ban điều hành một số dự án,
chương trình kinh tế - xã hội có quan hệ trực tiếp đến quyền lợi và trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân ở cơ sở.
Nghiên cứu việc đại diện công đoàn tham gia hội đồng quản trị trong các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp
nhà nước cổ phần hoá mà Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối và việc các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế trích quỹ lương để tạo kinh phí cho công đoàn hoạt động.


- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để phát huy hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn
thể nhân dân.
Kết hợp thực hiện chế độ tập trung, dân chủ trong Đảng và chế độ hiệp thương dân chủ trong tổ chức Mặt trận để làm
phong phú thêm nền dân chủ ở nước ta.
Khi Đảng có các chủ trương, chính sách lớn, đại diện của cấp uỷ đảng cần chủ động trình bày trước hội nghị Mặt
trận để mọi thành viên cùng bàn bạc, đóng góp ý kiến trên tinh thần dân chủ, xây dựng.
Tiếp tục cụ thể hoá việc phân công trách nhiệm giữa các bộ phận trong hệ thống chính trị trên lĩnh vực kinh tế - xã
hội cho phù hợp với thời kỳ mới. Giao cho Mặt trận và các đoàn thể nhân dân đảm nhiệm một số mặt công việc có
liên quan đến đời sống nhân dân.
Chăm lo đào tạo bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ Mặt trận và các đoàn thể. Sắp xếp, tổ chức lại và hiện đại hoá
từng bước hệ thống các trường đoàn thể ở Trung ương. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và các trường
chính trị tỉnh, thành phố cần có Khoa Dân vận. Cử những cán bộ đủ tiêu chuẩn sang công tác Mặt trận và đoàn thể
theo chủ trương luân chuyển cán bộ, qua đó phát hiện những cán bộ tốt để bồi dưỡng, đề bạt vào những cương vị
lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước.

4. Đồng chí đánh giá như thế nào về việc thực hiện Chiến lược xây dựng khối đại đoàn kết toàn
dân tộc do HNTW 7 khóa IX xác định. Những vấn đề chủ yếu cần tập trung giải quyết trong thời gian
tới?
5. Từ vị trí, vai trò của GCCN Việt Nam trong lịch sử và hiện tại, theo đồng chí cần làm gì để
phát huy vai trò của họ trong thời gian tới?
Giai cấp công nhân mang trên mình sứ mệnh lịch sử vô cùng trọng đại, xóa bỏ xã hội cũ, lạc hậu, xây
dựng xã hội mới tiến bộ, giải phóng giai cấp mình đồng thời giải phóng toàn nhân loại trên phạm vi toàn thế
giới.
Ở Việt Nam, vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với cách mạng đã sớm được khẳng định cả về
lý luận cũng như trong thực tiễn. Đó là một trong những bài học hàng đầu của mọi thắng lợi của cách mạng
nước ta trên nửa thế kỷ qua.
Lịch sử đã trao quyền lãnh đạo cách mạng cho giai cấp công nhân mà Đảng Cộng sản Việt Nam là đại
biểu. Khác với lý luận và thực tiễn ra đời của các chính Đảng chính trị của giai cấp công nhân, sự ra đời của
cách chính Đảng Cộng sản Việt Nam dựa trên cả ba yếu tố (Chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân

lượng. Sự phát triển không ổn định không đồng đều về số lượng và chất lượng của giai cấp công nhân, sự giảm
sút nhanh đội ngũ công nhân ở các doanh nghiệp quốc doanh, tăng nhanh ở các doanh nghiệp tư nhân. Sự tăng
nhanh quá trình trẻ hóa đội ngũ công nhân cùng với trình độ văn hóa, tay nghề và quá trình đào tạo được chú ý
hơn. Sự không thuần nhất, đa dạng hóa, phân hóa giàu nghèo, chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa các bộ
phận trong giai cấp công nhân. Ý thức học tập nâng cao trình độ văn hóa, chính trị ở không ít công nhân thiếu
quyết tâm, cốt có việc làm, lo thu nhập kinh tế, ổn định đời sống cho gia đình họ thiếu hoài bão lý tưởng lớn lao
cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng chủ nghĩa xã hội làm cho dân giàu, nước mạnh. Việc
phát huy quyền làm chủ của công nhân trong lao động, sản xuất và quản lý xã hội chưa cao. Ở họ còn phần nào
thụ động, dựa dẫm vào tập thể, bằng lòng với những gì đã có ở mức thấp. Tỷ lệ đảng viên kết nạp trong công
nhân chưa cao. Vai trò tiền phong gương mẫu của đảng viên công nhân còn nhiều hạn chế. Một bộ phận công
nhân thoái hóa biến chất, sa vào các tiêu cực và tệ nạn xã hội chậm được khắc phục...
Giai cấp công nhân nước ta đang đứng trước những yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng. Đó là tự
khắc phục những yếu kém, những hạn chế thiếu sót, vươn lên nhanh chóng về mọi mặt để phát huy vai trò lãnh
đạo đủ sức đảm đương những nhiệm vụ mới, nặng nề của công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu, thực hiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Để đạt được điều đó, giai cấp công nhân nước ta cần thực hiện tốt những vấn đề chính sau:
- Một là, chăm lo xây dựng giai cấp công nhân toàn diện về ý thức chính trị, lập trường tư tưởng, năng lực tổ
chức và hoạt động thực tiễn để đủ sức đảm đương vai trò lãnh đạo của giai cấp tiên phong. Đảng cần có định
hướng chiến lược xây dựng giai cấp công nhân hiện đại ở nước ta trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa.
- Hai là, định hướng chiến lược phát triển nền kinh tế hiện đại tạo nền tảng kinh tế vững chắc cho việc xây
dựng giai cấp công nhân tiên tiến.
- Ba là, xây dựng khối liên minh giữa giai cấp công nhân giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo
của Đảng làm nền tảng vững chắc củng cố phát triển giai cấp công nhân.
- Bốn là, có kế hoạch cụ thể đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ công nhân về số lượng và chất lượng nhằm
vào thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước lâu dài, vững chắc, bảo đảm cân đối về cơ cấu, toàn diện
về chất lượng và số lượng.
- Năm là, có chính sách cụ thể chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của người lao động nói chung, cho giai
cấp công nhân nói riêng.
- Sáu là, thực hiện công khai, dân chủ, phát huy quyền làm chủ của công nhân. Đấu tranh khắc phục các tiêu

Trong Luận cương chính trị năm 1930, Đảng ta xác định: Trong cách mạng tư sản dân quyền, vô sản giai cấp
và nông dân là hai động lực chính, nhưng vô sản có cầm quyền lãnh đạo thì cách mạng mới thắng lợi được.
Đảng ta đã từng bước tổ chức, rèn luyện, giác ngộ giai cấp nông dân trong quá trình đấu tranh cách mạng.
Cùng với công nhân và những người trí thức yêu nước, giai cấp nông dân đã tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin và
những tư tưởng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, trở thành một trong hai động lực chính của cách mạng. Lịch
sử cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng ta đã chứng minh tính cách mạng và tính khoa học trong
đường lối liên minh với giai cấp nông dân. Đó là nguồn sức mạnh cơ bản làm nên những thắng lợi vẻ vang của
cách mạng nước ta từ khi có Đảng.
Sau Cách mạng Tháng Tám và trong kháng chiến chống thực dân Pháp, khi hướng mũi nhọn đấu tranh vào đế
quốc và tay sai, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến quyền lợi của nông dân. Trong những năm 1945-1952, Đảng
dùng biện pháp cải cách từng bước để đem lại quyền lợi ruộng đất cho nông dân theo một đường lối riêng biệt
của Việt Nam. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cách mạng miền Nam sở dĩ có sức mạnh to lớn là
vì nhân dân miền Nam mà lực lượng đông đảo là nông dân đã được hưởng những quyền lợi của cách mạng đưa
lại, là vì Đảng đã kết hợp một cách sáng tạo hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ trong điều kiện chống chủ nghĩa
thực dân mới của đế quốc Mỹ.
Nước ta là nước nông nghiệp, muốn trở thành nước công nghiệp thì khâu đột phá trước hết phải trên lĩnh vực
nông nghiệp, phải là địa bàn nông thôn, nơi có gần 80% dân cư sinh sống, chiếm 75% lực lượng lao động xã
hội. Chính vì thế, tiếp theo Đại hội VI và Đại hội VII, Đại hội VIII của Đảng nhấn mạnh phải rất quan tâm đến
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Đây là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện
các hoạt động sản xuất trong nông nghiệp và bộ mặt kinh tế - xã hội nông thôn, biến lao động thủ công thành
lao động cơ giới, đưa sản xuất nhỏ lên thành sản xuất lớn hàng hoá, là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp, nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp nhằm khai thác mọi
tiềm năng tạo ra năng suất lao động, hiệu quả kinh tế - xã hội cao trong nông nghiệp, từ đó biến đổi bộ mặt kinh
tế - xã hội nông thôn tiến gần với thành thị: “Có chính sách khuyến khích và trợ giúp nông dân trong xây dựng
kết cấu hạ tầng, chuyển giao công nghệ, giải quyết các khó khăn về vốn, về giá cả vật tư nông nghiệp và hàng
1

. Văn kiện hội nghị lần thứ 6, Ban chấp hành trung ương khóa X, Nxb CTQG, H. 2008, tr. 47



của sự thống nhất “ý Đảng và lòng dân”; giữa lý tưởng của Đảng với khát vọng “không có gì quý hơn độc lập
tự do” của nhân dân Việt Nam; sức mạnh của sự thống nhất giữa ý Đảng và lòng dân trong mục tiêu độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Thực tế lịch sử cách mạng nước ta cho thấy, mệnh đề “Đảng với nhân dân là một” không phải là câu
khẩu hiệu mà là bản chất mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Bản chất mối quan hệ này thể hiện tập
trung ở chỗ: lý do ra đời, tồn tại và mục tiêu hoạt động của Đảng là vì nhân dân, vì độc lập, tự do và hạnh phúc
của nhân dân; nguồn sức mạnh bất tận và vô địch của Đảng là từ nhân dân, ở trong nhân dân; Đảng là của dân,
vì dân, Đảng quan tâm chăm lo đến dân. Dân một lòng, một dạ theo Đảng, chiến đấu dưới ngọn cờ của Đảng.
Điều đó đã được biểu hiện cụ thể sinh động trong thực tiễn cách mạng Việt Nam suốt hơn tám thập niên qua, là
nhân tố cơ bản, sức mạnh chủ yếu và động lực quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Thực tiễn 85 năm xây dựng, trưởng thành và 70 năm cầm quyền của Đảng ta cho thấy, chính lịch sử dân
tộc và nhân dân ta đã lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo, dẫn dắt dân tộc trên con đường
đi tới độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc. Đảng đã vì dân mà ra đời, lãnh đạo cách mạng, đưa nhân dân thoát khỏi


nô lệ, lầm than, vươn lên làm chủ, xây dựng cuộc sống mới, vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh. Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn và trao cho Đảng Cộng sản Việt Nam quyền duy nhất lãnh
đạo, duy nhất cầm quyền ở nước ta. Và nhân dân ta đã một lòng theo Đảng, đoàn kết dưới ngọn cờ của Đảng,
làm nên những kỳ tích vĩ đại, những thành tựu mang tầm vóc lịch sử. Đó là bản chất và nội dung cốt lõi mối
quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân ta. Mối quan hệ mật thiết đó đã, đang và vẫn thể hiện sinh động trong
thực tiễn, là cội nguồn sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam, mà không thế lực nào có thể chia cắt được.
Mọi người Việt Nam đều biết, vai trò lịch sử của Đảng ta đối với vận mệnh và tương lai của dân tộc,
mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân là khách quan, do chính lịch sử dân tộc Việt Nam và khát vọng
của nhân dân ta quy định; và do chính bản chất cách mạng, tính tiền phong của Đảng mới có được. Vai trò và
mối quan hệ đó đã được khẳng định trong thực tiễn lịch sử dựng nước và giữ nước của Việt Nam suốt hơn tám
thập niên qua, không ai có thể tranh giành, bác bỏ hay phủ nhận.
Thực tiễn cho thấy, những thành tựu của sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, mọi người dân
Việt Nam đều cảm nhận được rất rõ, được thực sự thụ hưởng cụ thể trong cuộc sống hằng ngày, được thế giới
đánh giá cao và tin tưởng vào sự phát triển của Việt Nam. Mọi đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân. Mọi người dân đều trực tiếp hay

nào phụ thuộc quyết định vào chính sự trong sạch, vững mạnh của Đảng, vào phẩm chất, năng lực của mỗi cán


bộ, đảng viên.
Củng cố mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân và xây dựng Đảng không phải là câu khẩu hiệu mà là
hành động thực tế. Đó không phải là sự nghiệp của riêng Đảng mà là sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo
của Đảng. Sức mạnh của nhân dân là to lớn, tai mắt của nhân dân là hết sức khách quan. Cần phát huy vai trò
và tinh thần làm chủ của nhân dân và các tổ chức quần chúng trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa
phương, cơ sở và giám sát hoạt động của cán bộ, đảng viên, trong đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái. Đó là
sự biểu hiện sinh động quyền làm chủ của nhân dân, lòng tin tưởng, tình cảm và quyết tâm của nhân dân trong
xây dựng, bảo vệ Đảng mến yêu của mình, củng cố mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân.
Nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, đó là sự thể hiện sâu sắc ý Đảng, lòng
dân, góp phần quan trọng làm chuyển biến phương thức lãnh đạo, công tác điều hành, quản lý và lề lối làm việc
của các cấp uỷ đảng, chính quyền; là phương thức hữu hiệu để nhân dân thực hiện quyền làm chủ ở cơ sở.
Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” là biểu hiện cụ thể quyền làm chủ của nhân dân trong
đời sống ở cơ sở”, phải được thể hiện tốt hơn trong đời sống hiện thực.
Đã đến lúc chúng ta cần nhìn nhận đầy đủ và thấu đáo hơn vấn đề Đảng lãnh đạo bằng “hành động
gương mẫu của đảng viên” và tầm quan trọng đặc biệt của “hành động gương mẫu của đảng viên" đối với việc
củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân. Vai trò lãnh đạo của Đảng, sự vững chắc của mối
quan hệ giữa Đảng với nhân dân phụ thuộc quyết định vào bản thân Đảng, vào sự trong sạch, vững mạnh của
Đảng và sự gương mẫu của mọi đảng viên. Đảng viên không gương mẫu thực hiện chủ trương, chính sách,
pháp luật, rèn luyện đạo đức, lối sống, thì chủ trương, chính sách của Đảng khó có thể trở thành hiện thực, thậm
chí bị thực hiện sai, nhân dân thiếu tin tưởng vào chủ trương, chính sách, công tác tuyên truyền, thuyết phục,
vận động của Đảng sẽ mất đi ý nghĩa thực tiễn, mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân sẽ bị suy giảm,
bị các thế lực thù địch lợi dụng kích động, chống phá.
Nhân dân ta luôn tin tưởng vào Đảng, bao giờ cũng mong muốn Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh,
là lương tâm, trí tuệ đại diện cho dân tộc; thực sự là “đạo đức và văn minh”; thật sự xứng đáng là người lãnh
đạo, dẫn dắt đi tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mọi đảng viên thật sự là tấm
gương mẫu mực toàn diện; đảng viên giữ chức vụ càng cao thì yêu cầu về sự gương mẫu càng lớn. Nhân dân
bao giờ cũng nhìn vào sự gương mẫu của đảng viên, xem đảng viên chấp hành chủ trương, chính sách và sống

THỰC TRẠNG
Ưu điểm:
+Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN có tiến bộ trên cả ba lĩnh vực Lập pháp, Hành pháp, Tư
pháp2
+ Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh, hiệu lực và hiệu quả hoạt động
được nâng lên”3. Cụ thể:
- Quốc hội tiếp tục được kiện toàn về tổ chức, có nhiều đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động. Hệ
thống pháp luật được bổ sung. Hoạt động giám sát đã tập trung vào những vấn đề bức xúc, quan trọng nhất
của đất nước. Việc thảo luận, quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách nhà nước, các
dự án, công trình trọng điểm quốc gia có chất lượng và thực chất hơn. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng
Dân tộc, các uỷ ban của Quốc hội có nhiều cải tiến nội dung, phương pháp công tác; đề cao trách nhiệm của
đại biểu Quốc hội.
- Cơ cấu tổ chức, bộ máy của Chính phủ được sắp xếp, điều chỉnh, giảm đầu mối theo hướng tổ chức
các bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực 4. Quản lý, điều hành của Chính phủ, các bộ năng động, tập trung nhiều
hơn vào quản lý vĩ mô và giải quyết những vấn đề lớn, quan trọng. Cải cách hành chính tiếp tục được chú trọng,
đã rà soát, bước đầu tổng hợp thành bộ thủ tục hành chính thống nhất và công bố công khai. Việc thực hiện thí
điểm đổi mới về tổ chức bộ máy chính quyền địa phương (không tổ chức hội đồng nhân dân quận, huyện,
phường) được tập trung chỉ đạo để rút kinh nghiệm.
- Tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp có một số đổi mới. Việc tăng thẩm quyền cho toà án
cấp huyện, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà, đề cao vai trò của luật sư trong tố tụng được thực hiện
bước đầu có kết quả. Việc thực hiện các thủ tục tố tụng ngày càng tốt hơn, hạn chế được tình trạng điều tra, truy
tố, xét xử oan, sai hay bỏ lọt tội phạm. Chất lượng hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được nâng
lên.
- Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác
phòng, chống tham nhũng, lãng phí và Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
được chỉ đạo tích cực, đạt một số kết quả. Nhiều vụ án tham nhũng được đưa ra xét xử. Trên một số lĩnh vực, lãng
phí, tham nhũng từng bước được kiềm chế.
*Hạn chế:
+Tổ chức và hoạt động của Nhà nước…còn một số khâu chậm đổi mới. Quốc hội còn lúng túng trong
việc thực hiện chức năng giám sát. Bộ máy quản lý nhà nước các cấp, nhất là ở cơ sở còn yếu kém Tình trạng

thống chính trị, với nhân dân, với thị trường. Nâng cao năng lực quản lý và điều hành của Nhà nước theo
pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật, kỷ cương. Nhà nước chăm lo, phục vụ nhân dân,
bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của mọi người dân
- Khẩn trương nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2013)
phù hợp với tình hình mới. Tiếp tục xây dựng, từng bước hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến,
hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền.
+ Thứ hai; tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước
- Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất
của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Hoàn thiện cơ chế bầu cử đại biểu Quốc hội để cử tri lựa
chọn và bầu những người thực sự tiêu biểu vào Quốc hội. Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, tăng hợp lý
số lượng đại biểu chuyên trách; có cơ chế để đại biểu Quốc hội gắn bó chặt chẽ và có trách nhiệm với cử tri.
- Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật, trước hết là quy trình xây dựng
luật, pháp lệnh; luật, pháp lệnh cần quy định cụ thể, tăng tính khả thi để đưa nhanh vào cuộc sống. Thực hiện
tốt hơn nhiệm vụ quyết định và giám sát các vấn đề quan trọng của đất nước, nhất là các công trình trọng
điểm của quốc gia, việc phân bổ và thực hiện ngân sách; giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp, công tác
phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí.
- Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng nền hành chính thống nhất,
thông suốt, trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực, hiệu quả; tổ chức tinh gọn và hợp lý; tăng tính dân chủ và pháp
quyền trong điều hành của Chính phủ; nâng cao năng lực dự báo, ứng phó và giải quyết kịp thời những vấn đề
mới phát sinh.
- Đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính; giảm mạnh và bãi bỏ các loại thủ tục hành
chính gây phiền hà cho tổ chức và công dân
- Đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xây dựng hệ thống tư pháp trong
5
6

Đảng Cộng sản Việt Nam .Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X. NXB CTQG HN, 2006, tr 15, 64, 175, 176
Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb CTQG. Hà Nội 2011, tr 171,172



nhân dân. Sự mơ hồ, thiếu cụ thể nào đó đều có ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống chính trị của đất nước, hoặc là
Đảng sẽ bao biện, làm thay tất cả, hình thức hóa Nhà nước và hệ thống chính trị, hoặc là hạ thấp vai trò lãnh
đạo của Đảng, làm cho địa vị cầm quyền của Đảng chỉ tồn tại trên danh nghĩa.
- Sự lãnh đạo của Đảng với hệ thống chính trị hiện nay đặt trong điều kiện mới, đó là xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, phát huy mạnh mẽ nền dân chủ trong cơ chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế. Để bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng trong
hệ thống chính trị, Đảng phải tự đổi mới và nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức đảng. Tăng cường mối quan
hệ của Đảng với các thành tố của hệ thống chính trị là một nội dung quan trọng của đổi mới phương thức lãnh
đạo của Đảng.
THỰC TRẠNG
*Ưu điểm:


+Trong quá trình lãnh đạo toàn diện công cuộc đổi mới, Đảng ta đã kiên trì và nghiêm túc thực hiện
nhiệm vụ then chốt về xây dựng Đảng trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức…nhờ đó đã đạt được một số
kết quả tích cực …7
+Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được tăng cường, đạt một số kết quả tích cực:
-Công tác lý luận đã chủ động nghiên cứu nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn của công cuộc đổi mới, diễn
biến mới của tình hình thế giới; giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh;
tập trung vào tổng kết và bổ sung, phát triển Cương lĩnh, xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 2020 và các văn kiện khác trình Đại hội XI của Đảng.
-Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng có đổi mới. Coi trọng hơn nhiệm vụ xây dựng đạo
đức trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; tập trung chỉ đạo có kết quả bước đầu cuộc vận động “Học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, gắn với nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chủ động hơn
trong đấu tranh chống “diễn biến hoà bình”, bác bỏ các quan điểm sai trái, luận điệu tuyên truyền của các thế
lực thù địch
-Công tác tổ chức, cán bộ được triển khai thực hiện tương đối đồng bộ. Tổ chức bộ máy các cơ quan
đảng, nhà nước các cấp được sắp xếp, kiện toàn theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu quả. Đã xây dựng, bổ sung
các quy định về chức năng, nhiệm vụ, phương thức hoạt động và lề lối làm việc của mỗi tổ chức; ban hành
nhiều quy chế phối hợp giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị. Tổng kết, rút kinh nghiệm, xác định rõ hơn
tổ chức và hoạt động các đảng đoàn, ban cán sự đảng trong các cơ quan hành pháp và tư pháp ở trung ương và

Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI. NXB CTQG HN, 2006, tr 161 - 164


phẩm chất đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, giáo điều, bảo thủ, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng,
lãng phí trong một bộ phận không nhỏ cán bộ công chức còn diễn ra nghiêm trọng. Nhiều tổ chức cơ sở Đảng
bị tê liệt, thiếu sức chiến đấu và không đủ năng lực lãnh đạo và chỉ đạo để giải quyết những vấn đề phức tạp
nảy sinh. Công tác tư tưởngcòn nhiều bất cập và thiếu tính thuyết phục, tính chiến đấu. Công tác lý luận chưa
làm sáng tổ được một số vấn đề quan trọng trong công cuộc đổi mới. Công tác tổ chức và cán bộ còn bộc lộ
nhiều mặt yếu kém. Chất lượng và hiệu quả giám sát chưa cao…9
+Công tác xây dựng Đảng còn nhiều hạn chế, yếu kém, chậm được khắc phục:
-Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn chưa làm sáng tỏ được một số vấn đề về đảng cầm
quyền, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tính chiến đấu, tính thuyết phục,
hiệu quả của công tác tư tưởng còn hạn chế; thiếu sắc bén trong đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến
hoà bình”. Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ,
đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn,
đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp, cùng với sự phân hoá giàu nghèo và sự yếu kém trong quản lý, điều
hành của nhiều cấp, nhiều ngành làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định,
phát triển của đất nước.
-Tổ chức của một số cơ quan đảng, nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội chưa thực sự tinh gọn, hiệu
quả; chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ chưa rõ ràng. Việc đổi mới công tác cán bộ còn chậm; thiếu cơ chế,
chính sách cụ thể để thực sự phát huy dân chủ trong công tác cán bộ, phát hiện và sử dụng người tài; chậm đổi
mới cơ chế, phương pháp và quy trình đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ; đánh giá cán bộ
vẫn là khâu yếu
-Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của không ít tổ chức đảng còn thấp; công tác quản lý đảng viên
chưa chặt chẽ, sinh hoạt đảng chưa nền nếp, nội dung sinh hoạt nghèo nàn, tự phê bình và phê bình yếu. Việc
xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn chậm,
vai trò của tổ chức đảng ở đây mờ nhạt. Động cơ phấn đấu vào Đảng của một số người có biểu hiện lệch lạc,
cơ hội.
-Việc xử lý, sử dụng và quản lý cán bộ, đảng viên có vấn đề lịch sử chính trị còn phiến diện, thiếu chặt
chẽ. Việc xem xét, giải quyết những vấn đề chính trị hiện nay của cán bộ, đảng viên còn lúng túng. Nhiều cấp

phận cấu thành trong hệ thống chính trị có khác nhau nhưng đều là công cụ thực hiện và phát huy quyền làm
chủ của nhân dân nhằm một mục đích chung là: Phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập,
thống nhất, dân chủ và giàu mạnh, có vị trí xứng đáng trên trường quốc tế. Hiến pháp năm 1992 đã xác định:
"Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân..." điều đó càng khẳng định Mặt trận
Tổ quốcViệt nam là một bộ phận không thể thiếu được của hệ thống chính trị nước ta.
"Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể thành viên có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đaị đoàn kết
toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc..." Đó là củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, tạo nên sự nhất
trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, thắt chặt mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước để thực
hiện thắng lợi công cuộc đổi mới.
THỰC TRẠNG
*Ưu điểm:
+Hoạt động MTTQVN và các đoàn thể nhân dân ngày càng thiết thực. Việc thực hiện quy chế dân chủ
cơ sở được mở rộng và có hiệu quả hơn, nhất là ở xã, phường. Công tác dân tộc, tôn giáo, vận động người Việt
Nam ở nước ngoài có tiến bộ11
+Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân phát huy tốt hơn vai trò tập hợp, xây dựng khối đại
đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, mở rộng tổ chức, phát triển đoàn viên, hội viên, tổ chức nhiều phong trào thi đua,
nhiều cuộc vận động có hiệu quả thiết thực...; cùng nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính
đáng của nhân dân, tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, góp phần tích cực vào những thành tựu của đất
nước12. Thông qua hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, khối đại đoàn kết toàn dân tộc - trên nền tảng liên
minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng - tiếp tục được mở
rộng và tăng cường trên cơ sở thống nhất về mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
*Hạn chế:
+Hoạt động MTTQVN và các đoàn thể nhân dân ở nhiều nơi còn mang tính hành chính, hình thức. Dân
chủ trong xã hội còn bị vi phạm. Kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi không nghiêm 13
+Việc tuyên truyền, vận động, tập hợp, thu hút nhân dân tham gia các phong trào, cuộc vận động của
Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân còn hạn chế. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân
dân chưa sâu sát các tầng lớp nhân dân và cơ sở 14.
GIẢI PHÁP
- Do tính quần chúng rộng rãi nên phương châm, phương pháp hoạt động của các tổ chức này thể hiện ở
tính tự nguyện, dân chủ, hiệp thương, phối hợp hành động, cùng có lợi trong một mục tiêu chung. Các tổ chức

người và của mọi tầng lớp trong xã hội. Mặt khác, các thế lực thù địch không từ bỏ âm mưu thực hiện chiến
lược “diễn biến hòa bình” nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân
ta. Trong giai đoạn mới của cách mạng, với nền dân chủ ngày càng phát triển thì vai trò của Mặt trận và các
đoàn thể nhân dân ngày càng quan trọng, nhiệm vụ càng nặng nề hơn.
Bởi vậy, việc tiếp tục nâng cao vai trò, vị trí của MTTQVN trong hệ thống chính trị và đời sống xã hội là một
yêu cầu khách quan, có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đảm bảo
cho sự phát triển vững chắc của đất nước ta hiện nay.

11. Có ý kiến cho rằng: Để bảo đảm dân chủ thực sự và phù hợp với xu thế hội nhập hiện nay,
Việt Nam nên chấp nhận cơ chế đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”. Quan điểm của đồng chí về vấn
đề trên như thế nào? xong
Thời gian gần đây, các thế lực thù địch đã và đang tăng cường chống phá cách mạng nước ta bằng nhiều thủ
đoạn tinh vi và quyết liệt. Cùng với các hoạt động phá hoại vào nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối của
Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước Việt Nam, trên các phương diện khác, chúng đặc biệt chú trọng lợi
dụng các trang mạng xã hội để tiến công ta.
Dưới những chiêu bài "dân chủ, nhân quyền”, một số người tự xưng mình là những người có "sứ mệnh", một số
người tự xưng là “trung thành “ với đảng, đấu tranh cho “dân chủ, nhân quyền” Việt Nam. Vậy thực chất quan
điểm chính trị của họ là gì? Họ thường xuyên đăng tải những thông tin sai trái, thù địch, bịa đặt lợi dụng vấn đề
"dân chủ, nhân quyền" nhằm nói xấu chế độ, chống phá nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối của Đảng,
Pháp luật của Nhà nước ở Việt Nam.
Điển hình là các hoạt động chống phá trên một số trang mạng xã hội, có cá nhân, thậm chí có những người dưới
danh nghĩa đảng viên “trung thành” viết và phát tán trên mạng internet với những hình thức khác nhau, nhiều
quan điểm sai trái, phê phán, thậm chí xuyên tạc Cương lĩnh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ cho
rằng: “Công cuộc đổi mới gần 30 năm… vẫn giữ nguyên thể chế độc đảng toàn trị kìm hãm tự do, dân chủ và
chia rẽ dân tộc”. Dưới danh nghĩa "đóng góp", họ “kiến nghị” “thay đổi Cương lĩnh của Đảng, từ bỏ đường lối
sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội, đòi thực hiện đa nguyên, đa đảng …”. Đây là việc làm vi phạm Điều lệ
Đảng, Quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm.
15

Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb CTQG. Hà Nội 2011, tr 246

hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta. Vì thế, hai trong nhiều vấn đề
then chốt của các học thuyết “dân chủ, nhân quyền kiểu phương Tây cần áp dụng đối với Việt Nam” là xóa bỏ
nền tảng tư tưởng của Đảng và vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng Cộng sản. Họ sử dụng chiêu bài
“dân chủ, nhân quyền” nhằm mục đích từng bước phá hoại Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN ở nước ta, không
thừa nhận chế độ XHCN mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang đồng tâm gắng sức xây đắp nên. Họ cũng cố
tình xuyên tạc, vu cáo Việt Nam "thiếu nền dân chủ", “vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”, lấy đó làm
cớ để tuyên truyền sai lệch, nhằm kích động những phần tử bất mãn, phản động chống đối Đảng, Nhà nước ta,
tiến tới phủ nhận con đường, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân
dân ta đã lựa chọn.
Nhân dân Việt Nam đã đi qua hai cuộc chiến tranh thần thánh để tự bảo vệ mình, tự giải phóng mình nên càng
thấu hiểu thế nào là tự do độc lập, thế nào là toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ. Vì vậy đương nhiên, nhân dân Việt
Nam sẽ biết nhìn nhận ai là bạn, ai là thù. Sự thật vẫn là sự thật và bản thân nó chứa đựng chân lý, không ai có
thể dùng ý muốn chủ quan để áp đặt. Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước ở Việt Nam do Đảng Cộng sản
khởi xướng và lãnh đạo gần 30 năm qua đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Vị thế của đất
nước Việt Nam ngày càng được nâng cao, đời sống của gần 90 triệu người dân Việt Nam ngày càng được cải
thiện. Khách quốc tế, bạn bè khắp năm châu đến Việt Nam đều thấy một sự thật: Đất nước Việt Nam đã thay da
đổi thịt; dù còn nhiều việc phải làm, đời sống chưa thật sự khá giả, song chính trị-xã hội của đất nước luôn ổn
định, cuộc sống thật sự có hòa bình, tự do, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, nhân dân thực sự là chủ nhân


của đất nước.
Cảnh giác, đấu tranh vạch trần các quan điểm tư tưởng sai trái thù địch, bịa đặt, bóp méo sự thật cũng chính là
sự khẳng định lập trường của Đảng và Nhà nước ta trước những biến động phức tạp trên thế giới và trong nước,
từ đó củng cố nhận thức chính trị, giữ vững “thế trận lòng dân”, đưa sự nghiệp cách mạng tới thắng lợi hoàn
toàn. Cùng với đó là phối hợp làm tốt công tác vận động quần chúng, tăng cường và nâng cao hiệu quả đầu tư,
thực hiện tốt phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; các tổ chức cựu chiến binh tích cực tham gia xóa đói
giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân, qua đó, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ, giữ
gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bồi đắp sự đồng thuận xã hội trong cộng đồng dân tộc, củng cố và tăng cường “thế
trận lòng dân” vững chắc. Góp phần bồi dưỡng, nâng cao bản lĩnh chính trị cho toàn Đảng, toàn dân và toàn
quân nâng cao cảnh giác cách mạng; tăng cường sức đề kháng và khả năng miễn dịch, làm thất bại mọi âm mưu

phồn vinh, nhân dân hạnh phúc.
-Động lực chủ yếu phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với
nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm
năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội”.
-Nhận thức mới về cơ cấu và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị.
-Hệ thống chính trị vận hành theo cơ chế: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”; trong
đó, Đảng vừa là một bộ phận của hệ thống chính trị, vừa là “hạt nhân” lãnh đạo hệ thống ấy, hoạt động trong
khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có chức năng thể chế
hoá và tổ chức thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là liên minh chính trị của
các đoàn thể nhân dân và các cá nhân tiêu biểu của các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo; là
cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; hoạt động theo phương thức hiệp thương dân chủ, có vai trò quan
trọng trong việc thực hiện phản biện, giám sát xã hội, góp phần xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, phát huy
quyền làm chủ của nhân dân. Nhân dân là người làm chủ xã hội, làm chủ thông qua Nhà nước và các cơ quan
đại diện, đồng thời làm chủ trực tiếp thông qua cơ chế “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; làm chủ
thông qua hình thức tự quản.
-Nhận thức mới về xây dựng Nhà nước pháp quyền trong hệ thống chính trị
-Trong tư duy về hệ thống chính trị, vấn đề đổi mới tư duy về Nhà nước có tầm quan trọng đặc biệt.
Thuật ngữ “xây dựng nhà nước pháp quyền” lần đầu tiên được đề cập tại Hội nghị Trung ương 2 khoá VII
(1991). Đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (1991) và các Đại hội VIII, IX và X, Đảng
tiếp tục khẳng định nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và làm rõ them nội dung của nó. Đó là:
Nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật; pháp luật giữ vị trí tối thượng trong việc điều chỉnh các
quan hệ xã hội; người dân được hưởng mọi quyền dân chủ, có quyền tự do sống và làm việc theo khả năng và
sở thích của mình trong phạm vi pháp luật cho phép.
Nhận thức mới về vai trò của Đảng trong hệ thống chính trị.
-Đảng Cộng sản cầm quyền là Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không làm thay Nhà nước. Đảng quan
tâm xây dựng củng cố Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, phát huy vai trò của các
thành tố này trong quản lý, điều hành xã hội. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng phải đồng bộ với đổi
mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, đổi mới kinh tế.
- Xây dựng Đảng trong hệ thống chính trị.

định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, thục hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; thực hiện dân
chủ rộng rãi trong Đảng và trong xã hội, đẩy nhanh phân cấp, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là
cá nhân người đứng đầu.
-Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị là công việc hệ
trọng, đòi hỏi phải chủ động, tích cực, có quyết tâm chính trị cao, đồng thời cần thận trọng, có bước đi vững
chắc, vừa làm vừa tổng kết, vừa rút kinh nghiệm.
-Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị ở mỗi cấp, mỗi
ngành vừa phải quán triệt các nguyên tắc chung, vừa phải phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, nhiệm vụ của từng
cấp, từng ngành.
- Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
-Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là sự khẳng định và thừa nhận Nhà nước
pháp quyền là một tất yếu lịch sử.
3. Đánh giá sự thực hiện đường lối


-Tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở nước ta đã có nhiều đổi mới góp phần xây dựng và từng
bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. Tổ chức bộ máy của hệ
thống chính trị được sắp xếp theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Hoạt động của hệ thống chính trị ngày càng hướng
về cơ sở. Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp trong các khoá đã có nhiều đổi
mới theo hướng phát huy dân chủ, cải cách hành chính, công khai các hoạt động của chính quyền, tăng cường
đối thoại, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân. Dân chủ trong xã hội có bước phát triển. Trình độ và
năng lực làm chủ của nhân dân từng bước được nâng lên.
-Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan Nhà nước được phân định rõ hơn, phân biệt quản lý nhà nước
với quản lý sản xuất kinh doanh. Nhà nước được từng bước kiện toàn, từ cơ cấu tổ chức đến cơ chế hoạt động
trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp.
-Mặt trận, các tổ chức chính trị - xã hội đã có nhiều đổi mới về tổ chức, bộ máy; đổi mới nội dung và
phương thức hoạt động, đa dạng hoá các hình thức để tập hợp ngày càng đông đảo các tầng lớp nhân dân; phát
huy dân chủ; chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tham gia
xây dựng và củng cố chính quyền; hướng mạnh hoạt động về cơ sở, bước đầu thực hiện nhiệm vụ giám sát và
phản biện xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status