Đảng bộ tỉnh sơn la lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc (1996 2006) - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

PHẠM XUÂN THU

Đảng bộ tỉnh Sơn La lãnh đạo xây dựng
khối đại đoàn kết dân tộc (1996 - 2006)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI, 2009


DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

BHC:

Ban chấp hành

CNH-HĐH: Công nghiệp hoá - hiện đại hóa.
ĐCS:

Đảng Cộng Sản

ĐCSVN:

Đảng Cộng Sản Việt Nam

ĐĐKDT:

Đại đoàn kết dân tộc



MỤC LỤC
Trang
PHẦN I: MỞ ĐẦU ........................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài. ................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài .................................................................... 3
3, Mục đích và nhiệm vụ của luận văn. ....................................................... 8
5, Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. ............................................. 9
6, Đóng góp của luận văn ......................................................................... 10
7, Kết cấu của luận văn ............................................................................. 10
PHẦN II: NỘI DUNG .................................................................................. 11
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG KHỐI
ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH SƠN LA (1986 - 1995).... 11

1.1. Lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của
ĐCS Việt Nam về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. ............. 11
1.1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin.............................. 11
1.1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh và của ĐCS Việt Nam......... 13
1.2. Sơ lược về việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở Sơn La
(1986-1995) ...................................................................................... 17
1.2.1. Sơn La miền đất và con người .......................................... 17
1.2.2. Thực trạng của khối đại đoàn kết dân tộc ở Sơn La (1986 1995) .......................................................................................... 27
Chương 2: ĐẢNG BỘ TỈNH SƠN LA VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC (1996 - 2006)... 42

2.1. Công cuộc đổi mới toàn diện của tỉnh và bước đột phát mới trong
xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ( 1996 - 2000) ........................... 42
2.1.1. Chủ trương xây dựng khố đại đoàn kết dân tộc theo tinh
thần Đại hội lần thứ X của Đảng bộ tỉnh và đại hội lần thứ VIII

thần đoàn kết đó được định hình ổn định và lưu truyền từ đời này sang đời
khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, làm nên một truyền thống Việt Nammột sức mạnh Việt Nam.
Kế thừa và phát huy truyền thống đoàn kết của dân tộc, trong suốt cuộc
đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nêu cao tư tưởng đại
đoàn kết toàn dân vì đại nghĩa của dân tộc. Người đã kết hợp nhuần nhuyễn,
sáng tạo những luận điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin “cách mạng là sự
nghiệp của đông đảo quần chúng” với tư tưởng truyền thống của tổ tiên “lấy
dân làm gốc” hay với triết lý nhân sinh của người xưa “ một cây làm chẳng
nên non; Ba cây chụm lại nên hòn núi cao” để từ đó đúc kết thành khẩu hiệu
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công”
trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam, giải phóng dân tộc và xây dung chủ
nghĩa xã hội ở nước ta. Vì vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng,
Đảng cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên chăm lo và mở rộng
khối đại đoàn kết dân tộc. Căn cứ vào nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng,
Đảng đã linh hoạt kịp thời đề ra những chủ trương chính sách và các hình
thức tổ chức Mặt trận luôn thích ứng với yêu cầu và nhiệm vụ của Cách
mạng. Vì thế, khối đại đoàn kết dân tộc không ngừng lớn mạnh và phát triển.

1


Sơn La một địa bàn chiến lược ở vùng Tây Bắc của Tổ quốc, nơi có
nhiều dân tộc thiểu số cùng chung sống, luôn là điểm nảy sinh những vấn đề
“nhạy cảm” về dân tộc, tôn giáo… nên việc xây dựng khối đại đoàn kết dân
tộc càng quan trọng, thường xuyên trong sự nghiệp lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
Sơn La. Thực tế đã chứng minh rằng, nhân tố để Sơn La giành được thắng lợi
bước đầu trong việc xây dựng và phát triển kinh tế- văn hóa- xã hộicủa tỉnh là
do Đảng bộ Sơn La đã biết vận dụng đúng đắn đường lối, chính sách của
Đảng vào địa phương mình và đem lại những thành quả bước đầu có tác dụng
bổ sung thêm yếu tố bền vững cho khối đoàn kết dân tộc của tỉnh .

học đã nghiên cứu về xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Tuy nhiên, đó là
những công trình khoa học ở tầm quốc gia còn các công trình nghiên cứu về
xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở từng tỉnh cụ thể, về số lượng còn rất
khiêm tốn và nhất là đối với một tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn như Sơn
La.
Trong các nguồn tài liệu như:
* Sách, bài nghiên cứu, tư liệu về Sơn La
1. BCH Đảng bộ tỉnh Sơn La: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sơn La, Tập III
(1976-2000) Nxb chính trị quốc gia, HN,2005.
2. ĐCS Việt Nam - Tỉnh ủy Sơn La: Văn kiên Đại hội đại biểu tỉnh Sơn
La, Lần thứ XI, in tại: Xí nghiệp in Sơn La,2005.
3. ĐCS Việt Nam - Tỉnh ủy Sơn La: Văn kiên Đại hội đại biểu tỉnh Sơn
La, Lần thứ XII, in tại Công ty cổ phần in và bao bì Sơn La, 2006.
4. ĐCS Việt Nam - Tỉnh ủy Sơn La: Nhà máy thủy điện Sơn La và công
cuộc di dân tái định cư , in xí nghiệp in thương mại 2006.

3


5. Vi Trọng Liên: Vài nét về người Thái ở Sơ La, Nxb Văn hóa dân tộc,
Hà Nội 2001.
6. Cầm Chí Kiên, “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Sơn La làm theo lời
Bác “xây dựng và tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc””, Nhân dân các
dân tộc Sơn La làm theo lời Bác, Nxb chính trị quốc gia, 2005.
7. Đoàn Lưu Phương, “ Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền
thống, góp phần xây dựng quê hương”, Nhân dân các dân tộc Sơn La làm
theo lời Bác, Nxb chính trị quốc gia, 2005.
8. UB Mặt trận Tổ quốc tỉnh Sơn La: Các báo cáo tổng kết hoạt động
công tác Mặt trận và chương trình thống nhất hành động từ (1996 - 2006).
Lưu: Văn phòng UB Mặt trận Tổ quốc tỉnh Sơn La.

9. TS. Trần Văn Hải, “Dưới ánh sáng tư tưởng ĐĐK Hồ Chí Minh tăng
cườgn củng cố khối đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới”, Tạp chí Lịch
sử Đảng - Số 5, Tr 20 - 24, 2003.
10. TS Trần Hậu, “Quán triệt TTĐĐKDT của Chủ tịch Hồ Chí Minh
trong sự nghiệp xây dựng đất nước quá độ lên CNXH”, TT Hồ Chí Minh về
dân tộc tôn giáo và đại đoàn kết trong Cách mạng Việt Nam, Tr 572 - 577,
Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003.
11. PGS.TS Trần Hậu, “Xây dựng khối ĐĐKDT” Việt Nam 20 năm đổi
mới, Tr 511 - 522, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006.

5


12. Nông Đức Mạnh, “Thực hiện ĐĐKDT là trách nhiệm của cả hệ
thống chính trị và toàn xã hội”, Tạp chí Cộng Sản - Số 24, Tr6-9, 2001.
13. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 11, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000.
14. PGS. TS Trịnh Nhu, “TT Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và mối
quan hệ giữa các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam”, TT Hồ Chí Minh về
dân tộc, Tôn giáo và ĐĐK trong Cách mạng Việt Nam, Tr 263 - 278, Nxb
Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003.
15. Tráng A Pao, “Thực hiện chính sách dân tộc của Đảng - Cơ sở phát
huy khối ĐĐK toà dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, Đại hội ĐCSVN lần thứ
X, Tr 465-469, Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội, 2006.
16. GS.TS Nguyễn Phú Trọng, “Sự lãnh đạo của Đảng và sức mạnh
ĐĐK toàn dân”, ĐCSVN trong tiến trình đổi mới đất nước, Tr 449 - 462, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005.
- Đề tài khoa học:
17. HVCTQGHCM, Kế thừa và phát huy truyền thống ĐĐK của dân
tộc Việt Nam trong công cuộc đổi mới hiện nay, lưu: Thư viện
HVCTQGHCM, 2004.

nay, LVThs lịch sử, 2004.
Với nguồn tư liệu này, cho người viết một cách nhìn tổng thể nhất về
công tác lãnh đạo, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc của Đảng qua các thời
kỳ lịch sử; học hỏi được cách thức tiếp cận, xử lý các nguồn tư liệu để nghiên
cứu về khối đại đoàn kết dân tộc. Mặc dù là những công trình nghiên cứu ở
những vấn đề, những nơi khác nhau và ở những thời điểm khác nhau. Nhưng

7


qua tìm hiểu người nghiên cứu thấy được đặc điểm chung, điểm riêng biệt về
xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đều khẳng định vai trò và
tầm quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc, và đề cập đến những thành
công, hạn chế của việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân ở nước ta trong
các thời kỳ cách mạng. Đây là nguồn tài liệu quan trọng để người viết tham
khảo, kế thừa khi nghiên cứu đề tài của mình.
3, Mục đích và nhiệm vụ của luận văn.
*Mục đích
Nghiên cứu làm sáng tỏ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Sơn La đối
với việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ 1996-2006, rút ra
những bài học kinh nghiệm phục vụ cho quá trình xây dựng khối đại đoàn kết
dân tộc ở tỉnh Sơn La hiện nay.
* Nhiệm vụ
- Trên cơ sở lý luận Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
quan điểm của ĐCSVN đối với việc xây dựng khối đoàn kết dân tộc, Trình
bày một cách hệ thống, quá trình Đảng bộ Sơn La xây dựng khối đoàn kết dân
tộc (1996-2006) nhằm: nghiên cứu sự vận dụng những chủ trương đường lối
của Đảng về xây dựng khối đoàn kết dân tộc của Đảng bộ tỉnh. Từ đó sẽ làm
rõ thành công, hạn chế của quá trình xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở

tưởng Hồ Chí Minh, luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử, kết hợp
với phương pháp lôgíc đồng thời vận dụng các phương pháp khác như: phân
tích, so sánh, tổng hợp, thống kê…để nghiên cứu đề tài.
* Nguồn tài liệu

9


Dựa trên các tác phẩm của Mác- Lênin, Hồ Chí Minh có liên quan đến
vấn đề đoàn kết; các Văn kiện Đại hội, Hội nghị Trung ương của Đảng cũng
như của Đảng bộ Sơn La, các Nghị quyết, chỉ thị của Tỉnh ủy Sơn La về việc
xây dựng khối đoàn kết dân tộc, các Báo cáo của Mặt trận Tổ quốc và các
đoàn thể; các công trình nghiên cứu khoa học của các nghành, các địa phương
đã được công bố có liên quan đến phạm vi của đề tài.
6, Đóng góp của luận văn
Luận văn làm sáng tỏ quá trình và góp phần bổ sung thêm các tư liệu về
sự lãnh đạo xây dựng khối đoàn kết dân tộc của Đảng bộ Sơn La; luận văn sẽ
là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho những công trình nghiên cứu tiếp sau
về vấn đề xây dựng khối đoàn kết dân tộc- một vấn đề rất nóng bỏng hiện
nay.
7, Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo. Luận văn
gồm 3 chương 6 tiết.
chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng khối đại đoàn kết
dân tộc của Đảng bộ tỉnh Sơn La (1986-1995)
chương2: Đảng bộ Sơn La vận dụng quan điểm của Đảng lãnh đạo xây
dựng khối đại đoàn kết dân tộc (1996-2006)
chương 3: Nhận xét và những kinh nghiệm về xây dựng khối đại đoàn
kết dân tộc ở Sơn La




người lại với nhau, là động lực của đấu tranh. Vì vậy, muốn đoàn kết toàn dân
phải quan tâm đến lợi ích thiết thân của mỗi thành viên trong từng cộng đồng.
Sức mạnh quần chúng chỉ có được khi mà quần chúng được tổ chức, tập
hợp họ lại, đoàn kết họ lại dưới sự lãnh đạo của một chính đảng. Muốn tập
hợp được quần chúng phải giáo dục tuyên truyền làm cho quần chúng giác
ngộ làm theo, “Phải biết cách làm công tác tuyên truyền, tổ chức, cổ động sao
cho dễ tiếp thu nhất, dễ hiểu nhất, rõ ràng nhất, sinh động nhất cả đối với các
phố thợ thuyền, nhà máy lẫn với các vùng nông thôn” [43,tr42]. Lênin nhấn
mạnh về vai trò, tầm quan trọng của tổ chức đồng thời Người đã phát triển,
mở rộng quan điểm của Mác - Ăngghen từ “Vô sản tất cả các nước đoàn kết
lại” thành “Vô sản tất cả các nước các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”. Với
quan điểm này, đã trở thành chân lý của thời đại. Ngày nay chân lý đó đang
rực sáng: Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết. Đoàn kết trở thành lực lượng vật
chất, thành sức mạnh vô địch của mọi cuộc cách mạng.
Phát triển tư tưởng của Mác - Ăngghen, Lênin đã viết: “Việc giáo dục
rèn luyện quần chúng lao động là nhiệm vụ cơ bản công tác giáo dục của
Đảng cộng sản và của mọi cuộc cách mạng XHCN” [42,tr210]. Nguồn gốc
của sức mạnh là ở quần chúng, nhưng phải là quần chúng được giác ngộ, khi
đã được giáo dục có hiểu biết và sự hiểu biết càng sâu rộng thì họ càng nâng
cao tính chủ động, sáng tạo, tích cực từ đó làm việc gì cũng dễ dàng hơn.
Lênin còn khẳng định: “Một nước mạnh là nhờ sự tự giác của quần
chúng, nước mạnh là khi nào quần chúng hiểu rõ tất cả mọi cái: quần chúng
có thể phán đoán được về mọi cái và đi vào hoạt động một cách có ý thức”
[41,tr23].
Khi nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin ta nhìn thấy rõ
hơn về những nguyên lý, những phương pháp tổ chức tập hợp quần chúng để

12



Tư tưởng đoàn kết của Hồ Chí Minh vừa mang tính giai cấp vừa mang
tính dân tộc và thời đại. Với Hồ Chí Minh, đoàn kết không phải là một vấn đề
sách lược trước mắt mà là một vấn đề chiến lược lâu dài, nó không phải là
biện pháp đơn thuần để tập hợp lực lượng trong đấu tranh cách mạng mà đã
được nâng lên thành một vấn đề có tính chất đường lối; nó cũng không phải là
một thủ đoạn để tranh thủ quần chúng mà là tâm huyết vì thắng lợi của cuộc
cách mạng. Như vậy, vấn đề đoàn kết của Người đã được nâng lên tầm tư
tưởng. Không phải ngẫu nhiên mà tư tưởng đoàn kết Hồ Chí Minh trở thành
một trong ba nguyên tắc cơ bản về chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước
Việt Nam: đoàn kết- bình đẳng- tương trợ.
Theo tư tưởng của Người, đại đoàn kết không phải là một chủ trương,
một chiến lược xuất phát từ sự cần thiết, ý muốn chủ quan của lực lượng lãnh
đạo cách mạng mà đại đoàn kết là một nhu cầu, một đòi hỏi khách quan của
bản thân quần chúng trong cuộc đấu tranh tự giải phóng. Do vậy, nó cũng sẽ
là sự nghiệp của quần chúng, vì quần chúng. Khi ấy, lực lượng lãnh đạo cách
mạng chỉ có sứ mạng thức tỉnh, hướng dẫn quần chúng chuyển những nhu cầu
tự nhiên, tự phát của họ thành một nhu cầu tự giác, thành hiện thực, có tổ
chức và sức mạnh. “Cách mạng trước hết là do dân giác ngộ, muốn làm cho
nhân dân giác ngộ trước hết phải có Đảng cách mạng để vận động và tổ chức
quần chúng” [49,tr267].
Như vậy, những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin về vai trò
của quần chúng nhân dân, của khối đoàn kết rộng rãi quần chúng nhân dân
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nguồn gốc quan trọng hình thành nội
dung tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh. Đồng thời, Hồ Chí Minh đã kế
thừa, phát triển truyền thống đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam, những giá trị
văn hoá phương Đông, kinh nghiệm của một số phong trào cách mạng, một số
lãnh tụ trên thế giới, vận dụng sáng tạo và bổ sung một số nội dung, phương


15


đoàn kết: Đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế. Cương
lĩnh đã xác định một trong những phương hướng cơ bản để thực hiện mục
tiêu: Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh là phải thực hiện
chính sách đại đoàn kết dân tộc, củng cố mở rộng Mặt trận dân tộc thống
nhất.
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (1/1994) chủ trương mở rộng
khối đại đoàn kết toàn dân, hoàn thiện các chính sách bảo đảm lợi ích và phát
huy vai trò của công nhân, nông dân, trí thức, thanh niên, phụ nữ, dân tộc, tôn
giáo, các nhà công thương, cộng động người Việt ở nước ngoài.
Tổng kết 10 năm đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
(9/1996) rút ra 6 bài học trong đó có bài học “mở rộng và tăng cường khối đại
đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh của cả dân tộc”. Một lần nữa đại hội
khẳng định: “cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, vì nhân dân và do nhân
dân”. Từ thực tiễn của công cuộc đổi mới Đại hội đã đề ra phương hướng cho
thời gian tới: “để tiếp tục sự nghiệp đổi mới tiến lên giành những thành tựu
lớn hơn, cần thực hiện tốt hơn nữa việc mở rộng, tăng cường khối đại đoàn
kết toàn dân, cả ở trong nước và ngoài nước, phát huy dân chủ, động viên tối
đa sức mạnh của toàn thể dân tộc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, văn minh” [19, tr73].
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001) với chủ đề
“phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh CNH-HĐH, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN” , tự nó đã nói lên vai trò, tầm quan
trọng của công tác đoàn kết, phát huy sức mạnh quần chúng trong tình hình
mới. Đại hội xác định: “Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết
toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng

16


của kiến tạo địa chất nên nơi đây có cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ với những
sông suối, thung lũng hữu tình đã đi vào thơ ca khiến say đắm lòng người.
Sơn La có diện tích tự nhiên 14.055 km2 với 73% diện tích là đồi núi và
rừng, giao thông đi lại rất khó khăn. Phía Bắc của tỉnh giáp Yên Bái và Lào
Cai; Phía Đông giáp với Phú Thọ và Hòa Bình; phía Nam giáp với Tỉnh
Thanh Hóa và tỉnh Hủa Phăn, Luông Pha Băng của nước Cộng hòa Nhân dân
Lào, Phía Tây giáp với tỉnh Lai Châu. Với một vị trí như vậy, nên Sơn La có
tầm vai trò hết sức quan trọng về kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng.
Quốc lộ 6 chạy xuyên dọc theo chiều dài của tỉnh (Hà Nội - Sơn La - Lai
Châu) không chỉ đóng vai trò huyết mạch mà còn là trục giao thông chiến
lược cho toàn vùng.
Tỉnh Sơn La có ba cao nguyên lớn: Cao nguyên Sơn La, Cao nguyên Nà
Sản và Cao nguyên Mộc Châu tạo ra một tiềm năng lớn về ngành nông
nghiệp, trồng cây công nghiệp ngắn và dài ngày, chăn nuôi đại gia súc. Các
loại cây con có giá trị kinh tế cao như trồng dâu nuôi tằm, cà phê, chè, rau
xanh, hoa cây cảnh, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Mỗi năm Sơn La sản xuất từ
18 đến 20 vạn tấn ngô, đậu tương hàng hóa. Đây là nguồn nguyên liệu chủ
yếu cho Công nghiệp chế biến thức ăn gia súc. Rõ ràng, Sơn La có đầy đủ
điều kiện để có thể phát triển các cơ sở công nghiệp chế biến nông, lâm sản
tham gia vào thị trường trong nước và xuất khẩu.
Nằm ở vị trí đầu nguồn hai con sông lớn là Sông Đà và Sông Mã, Sơn La
không chỉ giữ vững vai trò của địa bàn phòng hộ xung yếu cho vùng Đồng
Bằng Bắc Bộ và hai công trình thủy điện lớn nhất của cả nước. Thủy điện
Hòa Bình, thủy điện Sơn La; Công trình thủy điện Sơn La được thi công và
khánh thành trong nay mai sẽ tạo tiềm năng mới để Sơn La hội nhập kinh tế
thị trường của cả nước, hình thành, mở rộng và phát triển thêm hệ thống các

18




1

TX. Sơn La

Phưòng Chiềng Lề

-

4

8

2

H. Bắc Yên

T. Tr Bắc Yên

1

-

13

3

H. Mai Sơn


16

6

H. Phù Yên

T.Tr. Phù Yên

1

-

26

7

H.

-

-

13

1

-

18


-

28

T. Tr. Yên Châu

1

-

14

T. X. Sơn La

8

4

189

Thuận T.Tr. Thuận Châu

Châu
11

H. Yên Châu
Tỉnh Sơn La

Sơn La tuy không mấy thuận lợi cho phát triển kinh tế, nhưng lại có vị trí
hết sức quan trọng về an ninh quốc phòng. Từ xa xưa đến nay nhân dân Sơn

chắn, mái nhà của họ có hình mai Rùa, trên nóc cùng có khau cút ở hai đầu
hồi, trong nhà ít vách ngăn rất rộng rãi và thoáng mát. Người Thái định cư
thành các bản, mỗi bản có ranh giới cụ thể, có tên gọi, có khu rừng, ruộng đất,
có bãi tha ma, nguồn nước riêng. Các bản thường cấu trúc theo hình mật tập,
mỗi bản thường có vài chục đến hàng trăm nóc nhà.
Người Thái ở Sơn La có hai ngành: Thái Đen và Thái Trắng, người ta
dựa vào một phần đặc điểm của trang phục nữ giới và ngôn ngữ để phân biệt
hai ngành Thái. Ngoài nông nghiệp, người Thái còn có một số nghề thủ công
truyền thống rất đặc sắc như nghề dệt vải, nghề rèn, nghề đan lát mây tre,
nghề kim hoàn và đặc biệt là nghề làm gốm.
Người Thái có phong tục, tập quán, tín ngưỡng, có tiếng nói và chữ viết
riêng. Họ còn lưu truyền đến ngày nay nhiều nghi lễ nông nghiệp quan trọng
như: Xên Bản, Xên Mường, Lễ hội cầu mưa…. nhiều hình thức sinh hoạt văn
hóa, văn nghệ dân gian phong phú. Đặc biệt họ còn có một kho tàng sách Thái
cổ rất phong phú với những tác phẩm viết về lịch sử, văn học rất nổi tiếng

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status