2
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1
3
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ XÂY
DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC
TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC TỪ 1996 ĐẾN 2005
1.1
9
Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân là yêu cầu khách
quan trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
1.2
đại hoá đất nước
Quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết
9
toàn dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước
Chương 2
CHỮ VIẾT TẮT
Chủ nghĩa xã hội
CNXH
Chủ nghĩa tư bản
CNTB
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNH, HĐH
Đại đoàn kết dân tộc
ĐĐKDT
Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Nxb CTQG
Xã hội chủ nghĩa
XHCN
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
4
rẽ bè phái thì thất bại. Thực tế lịch sử đó càng làm sáng ngời tư tưởng vĩ đại
của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “ Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công,
thành công, đại thành công”.
Hiện nay công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng
và lãnh đạo đã trải qua 20 năm. Chúng ta đã và đang thu được những thành
tựu to lớn, toàn diện có ý nghĩa lịch sử. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh
tế - xã hội, kinh tế tăng trưởng nhanh, nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN bước đầu được xây dựng. CNH, HĐH đất nước càng đẩy mạnh, sự
nghiệp đổi mới càng đi vào chiều sâu thì càng xuất hiện nhiều vấn đề mới nảy
sinh. Bên cạnh những cơ hội, chúng ta còn đối mặt những thách thức lớn, nền
kinh tế thị trường đang tác động mạnh đến việc xây dựng khối ĐĐKDT như:
sự biến đổi cơ cấu giai cấp, phân hóa giai tầng xã hội, phân hoá giàu nghèo
diễn ra sâu sắc trong nội bộ nhân dân, các thế lực thù địch bằng “Diễn biến
hoà bình”, âm mưu chia rẽ Đảng với dân tộc, chia rẽ nội bộ, phá hoại khối
ĐĐKDT. Đồng thời chúng còn lợi dụng tính phức tạp và nhạy cảm của các
vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ và nhân quyền để kích động chia rẽ can
thiệp vào công việc nội bộ của Đảng, Nhà nước ta kích động đồng bào dân tộc
thiểu số, biểu tình phản đối chính quyền. Những tác động đó đang ảnh hưởng
đến đường lối xây dựng khối ĐĐKDT của Đảng hiện nay.
Để tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Đảng phải
tập hợp được sức mạnh toàn dân tộc làm nguồn sức mạnh động lực chủ yếu. Hơn
nữa trong giai đoạn cách mạng hiện nay, vấn đề phát huy sức mạnh ĐĐKDT có
bước phát triển mới, với tầm cao mới, chiều sâu mới so với trước. Đòi hỏi Đảng
phải có chủ trương giải pháp để phát huy sức mạnh tập hợp mọi lực lượng, giai
cấp, giai tầng trong xã hội, không chỉ phạm vi trong nước mà cả người Việt Nam
sinh sống ở nước ngoài để khơi dậy nguồn lực nội sinh tạo thành nguồn sức mạnh,
động lực to lớn cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
quan trọng, vai trò to lớn của khối ĐĐKDT đồng thời nêu ra những chủ
trương, giải pháp về xây dựng Đảng và đổi mới hệ thống chính trị để tiếp tục
6
lãnh đạo phát huy sức mạnh khối ĐĐKDT.
Hai là, nhóm nghiên cứu của các nhà khoa học nghiên cứu về tư
tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự vận dụng tư tưởng đó
vào việc xây dựng và phát huy sức mạnh khối ĐĐKDT trong thời kỳ mới.
Các công trình của: PGS Phùng Hữu Phú (1995), Chiến lược đại đoàn kết
dân tộc của Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội; Tư tưởng Hồ Chí Minh về
đại đoàn kết dân tộc với vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc
trong thời kỳ mới (2004), Nxb CTQG, Hà Nội….. Đây là những bài tham
luận của tập thể các nhà khoa học tại cuộc hội thảo về chủ đề "tư tưởng đại
đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh" tại Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh tháng 5 năm 2003. Các bài tham luận nêu trên đều phân tích làm sáng
tỏ tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự vận dụng vào xây
dựng khối ĐĐKDT hiện nay.
Ba là, các chuyên luận, luận văn của các nhà khoa học đăng trên các
tạp chí. Các công trình nghiên cứu này tập trung quán triệt quan điểm chủ
trương chính sách của Đảng về xây dựng khối ĐĐKDT, về phát huy vai trò
sức mạnh của quần chúng nhân dân, về đổi mới cơ chế chính sách nhằm củng
cố khối đại đoàn kết toàn dân trong thời kỳ mới đó là các công trình nghiên
cứu của: PGS, TS Nguyễn Trọng Phúc (2000), “Tăng cường đoàn kết dân tộc
phát huy sức mạnh của toàn dân trong sự nghiệp đổi mới”. Một số kinh
nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới,
Nxb CTQG, Hà Nội ; PGS, TS Trần Hậu (2004), “Đoàn kết dân tộc một đường
lối đúng đắn không thể phủ nhận”, Lẽ phải chúng ta, NxbCTQG, Hà Nội;
PGS, TS Đoàn Ngọc Hải (2003),“Quán triệt quan điểm của Đảng về xây
trong khoảng thời gian từ 1996 - 2005. Tuy nhiên để bảo đảm tính kế thừa có
hệ thống luận văn có đề cập đến một số sự kiện liên quan trước năm 1996.
8
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận: Dựa vào quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng đặc biệt là đường lối và chủ trương của
Đảng Cộng sản Việt Nam, về vai trò của quần chúng nhân dân, về xây dựng mặt
trận và khối ĐĐKDT.
* Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, luận văn chủ yếu sử dụng phương
pháp lịch sử, phương pháp lô gích và sự kết hợp hai phương pháp này, phân
tích tổng hợp để dựng lại bức tranh lịch sử, giải quyết các vấn đề đặt ra trên
bình diện khoa học lịch sử Đảng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu góp phần khẳng định tính đúng đắn sáng tạo đường
lối của Đảng về xây dựng khối ĐĐKDT trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
đất nước.
Những kinh nghiệm mà luận văn rút ra từ thực tiễn xây dựng khối
ĐĐKDT trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Là sự gợi mở góp
phần bổ sung hoàn thiện chủ trương đường lối của Đảng trong lãnh đạo xây
dựng khối ĐĐKDT trong giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Luận văn là tài liệu tham khảo nghiên cứu, giảng dạy môn Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam, ở các nhà trường quân đội.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu gồm: Phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận,
danh mục tài liệu tham khảo.
Nam vừa được hưởng sự ưu đãi của thiên nhiên vừa phải đối mặt với thử
thách khắc nghiệt của thiên tai địch hoạ. Để tồn tại, con người Việt Nam phải
11
nương tựa vào nhau, đùm bọc và đoàn kết với nhau. Chỉ có đoàn kết đùm bọc
che chở lẫn nhau con người mới đủ sức chống lại thiên nhiên khắc nghiệt.
Hơn thế nữa xét về mặt địa - chính trị đất nước Việt Nam lại là địa bàn quan
trọng có vị trí là đầu mối giao lưu Bắc - Nam - Đông - Tây, đất liền với đảo,
là mảnh đất màu mỡ kẻ thù thường xuyên dòm ngó xâm lược. Hoàn cảnh lịch
sử đó đặt ra cho dân tộc Việt Nam phải thường xuyên đương đầu với thế lực
xâm lược mạnh hơn ta về kinh tế và quân sự.
Một dân tộc nhỏ luôn phải đương đầu trước họa xâm lăng của đế quốc
tàn bạo, muốn không bị rơi vào đồng hoá và tiêu diệt thì con người Việt Nam
phải ý thức đoàn kết, tự lực tự cường. Chỉ có đoàn kết tự lực tự cường mới
tồn tại và phát triển. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam
đã chứng minh điều đó.
Năm 938 Ngô Quyền đã tổ chức đoàn kết chặt chẽ quân dân đánh tan
quân Nam Hán trên sông Bạch đằng, chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc mở ra kỷ
nguyên độc lập của nước Đại việt.
Thời Lý, đại đoàn kết dân tộc tạo ra sức mạnh vĩ đại đã lập nên những
kỳ tích của quân và dân ta, tiêu biểu là Lý Thường Kiệt (1019 – 1105) đánh
tan quân xâm lược Tống.
Thời Trần, từ sự nghiệp dựng nước, giữ nước phải dựa vào dân nên dân
trí phát triển, nhân tài nảy nở, nơi nơi nhân dân phấn chấn xây dựng cơ đồ, tạo
ra sức mạnh vĩ đại của dân tộc, ba lần liên tục trong hơn 30 năm đánh bại đội
quân xâm lược rất hung bạo của đế quốc Mông Nguyên. Tiêu biểu là Trần
Hưng Đạo, anh hùng dân tộc, đã nói đi đôi với làm: “ Vua tôi đồng lòng, anh
em hòa thuận trên dưới chung sức”, “ khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền
lịch sử của giai cấp công nhân thì cùng đồng thời đề cập đến vấn đề tập hợp lực
lượng cách mạng quốc tế. C.Mác và Ph.Ăngghen đã sáng lập ra Đồng minh
những người cộng sản và soạn thảo “Tuyên ngôn Đảng cộng sản”, “Tuyên ngôn
13
Đảng cộng sản” đã trở thành cương lĩnh đoàn kết, đấu tranh của giai cấp vô sản
toàn thế giới, nêu ra khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại” [32, tr.646].
V.I.Lênin đã tiếp tục kế thừa và phát triển tư tưởng tập hợp lực lượng cách mạng
quốc tế của C.Mác, Ph. Ăngghen phù hợp với thời kỳ lịch sử mới. Ông đã nêu
vấn đề đoàn kết những người vô sản với nhân dân các nước bị áp bức, bóc lột
nhằm chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc thành một khẩu hiệu chiến lược
“Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”. Người chỉ rõ “chỉ
có độc một mình đội tiền phong thôi thì không thể thắng nổi. Ném độc một mình
đội tiền phong vào một cuộc chiến đấu quyết định…thì đó không những là điều
dại dột, mà còn là một tội ác nữa” [30, tr.97]. Lênin phân tích tình hình cụ thể và
chỉ rõ phải mở rộng phạm vi đoàn kết để tập hợp rộng rãi các lực lượng trong và
ngoài nước chứ không chỉ trong nội bộ giai cấp công nhân.
Tiếp thu và phát triển những nội dung tư tưởng đại đoàn kết của chủ
nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã vận dụng vào cách mạng Việt Nam trong
việc hoạch định đường lối xây dựng khối ĐĐKDT trong đấu tranh giải phóng
dân tộc và xây dựng CNXH.
Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, với đường lối phương
pháp cách mạng đúng đắn dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng
Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống quý báu của dân tộc, đáp ứng
nhu cầu, nguyện vọng sâu xa và chính đáng của các tầng lớp nhân dân, phù
hợp với xu thế khách quan của thời đại, trong mỗi giai đoạn và thời kỳ cách
mạng, Đảng đều có quan điểm và chính sách đại đoàn kết đúng đắn. ĐĐKDT
đã thực sự là nguồn sức mạnh và động lực cách mạng to lớn nhân tố có ý
15
giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại để đánh đổ bọn
đế quốc và bọn Việt gian, đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa bỏng.
Việc cứu nước là việc chung, ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh
vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, người có của góp của
người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng. Toàn thể đồng bào
tiến lên! Đoàn kết thống nhất đánh đuổi Pháp - Nhật [35, tr.197-198].
Như vậy thắng lợi của cách mạng Tháng Tám 1945 là thắng lợi của
đường lối cứu nước đúng đắn sáng tạo, là thắng lợi của Mặt trận Việt
Minh, thắng lợi của khối ĐĐKDT dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch
Hồ Chí Minh.
Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), Đảng
xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc vẫn được tiếp tục đặt lên hàng đầu, kẻ
thù của cuộc kháng chiến là thực dân Pháp xâm lược và bọn tay sai bán nước.
Nhiệm vụ chống phong kiến tuy có điều kiện thực hiện nhiều hơn so với thời
kỳ cách mạng Tháng Tám nhưng vẫn theo tinh thần rải ra từng bước, tạo điều
kiện mở rộng khối đoàn kết dân tộc.
Đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức
mình là chính là thể hiện đậm nét tư tưởng ĐĐKDT. Với đường lối đó
Đảng đã tổ chức thành một khối thống nhất, tạo nên thế trận “cả nước đánh
giặc”, “mỗi làng là một pháo đài”, “mỗi quốc dân là một chiến sĩ”. Để tập
hợp lực lượng rộng rãi, Đảng chủ trương Mặt trận Việt Minh và Mặt trận
Liên Việt hợp nhất thành một Mặt trận lấy tên là Mặt trận Liên Việt nhằm
thu hút hết thảy mọi lực lượng.
Tại Đại hội mặt trận Việt Minh Liên Việt thống nhất thành Mặt trận
Liên Việt. Phát biểu với Đại hội Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Tại Đại hội này,
17
thứ III. 1960 là: “ Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ
vững hoà bình, đẩy mạnh cách mạng XHCN ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh
cách mạng dân tộc dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam thực hiện thống nhất
nước nhà” [27, tr.73]. Để mở rộng khối ĐĐKDT, đoàn kết tất cả những người
thực sự yêu Tổ quốc, yêu hoà bình, không phân biệt thuộc đảng phái nào, tôn
giáo nào và quá khứ của họ đã hợp tác với bên nào, nhằm tập trung mũi nhọn
đấu tranh của nhân dân ta chống Mỹ Diệm. Đại hội Mặt trận Liên Việt toàn quốc
họp 9-1955 quyết định thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Phát biểu tại Đại
hội Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: “Mặt trận dân tộc thống nhất cần mở rộng
hơn nữa củng cố hơn nữa, đoàn kết tất cả những người thật sự yêu Tổ quốc, yêu
hoà bình, không phân biệt họ thuộc đảng phái nào, tôn giáo, tầng lớp nào” [41,
tr.61].
Trong những năm kháng chiến khốc liệt ở miền Nam. Tháng 1-1959
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 vạch ra con đường phát
triển của cách mạng miền Nam để tập trung lực lượng chống Mỹ Diệm Hội
nghị vạch rõ: “Đảng phải đẩy mạnh công tác dân vận tiến tới thành lập Mặt
trận dân tộc thống nhất chống Mỹ Diệm thật rộng rãi lấy liên minh công nông
làm cơ sở, bao gồm tất cả những lực lượng yêu nước ở miền Nam tranh thủ
mọi người có thể tranh thủ được, ngay cả những phần tử có khuynh hướng
chống Mỹ Diệm trong chính quyền đối phương” [46, tr.120].
Theo tinh thần đó, sau phong trào đồng khởi của nhân dân miền Nam,
ngày 20-12-1960 Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được
thành lập. Mặt trận chủ trương đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai
cấp các dân tộc, các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo và các nhân sĩ yêu
nước, không phân biệt xu hướng chính trị nhằm đánh đổ ách thống trị của Đế
quốc Mỹ và tập đoàn Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ thực hiện độc
lập, dân chủ hoà bình, trung lập, tiến tới hoà bình, thống nhất Tổ quốc. Mặt
19
sau:
Căn cứ vào đặc điểm con đường đi lên CNXH ở nước ta. Con đường đi
lên CNXH ở nước ta là sự phát triển quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN.
Nước ta quá độ lên CNXH từ một nước vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, nền
kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển, sản xuất nhỏ là phổ biến; đất nước
lại trải qua hàng chục năm chiến tranh ác liệt tàn phá, thiên tai bão lụt liên
miên. Vì vậy xây dựng CNXH bỏ qua chế độ TBCN tạo ra sự chuyển biến về
chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp và
trải qua thời kỳ lâu dài. Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội diễn ra cuộc
đấu tranh quyết liệt giữa cái mới và cái cũ, giữa các nhân tố XHCN đang phát
sinh với yếu tố phi CNXH cản trở. Cuộc đấu tranh giai cấp đấu tranh giữa hai
con đường XHCN và TBCN diễn ra trong điều kiện mới, nội dung giai cấp và
nội dung dân tộc gắn kết với nhau bằng những hình thức mới. Đồng thời hiện
nay sự nghiệp cách mạng nước ta đứng trước nhiều thời cơ, vận hội nhưng
cũng không ít khó khăn cả những khó khăn mới xuất hiện khi đẩy mạnh
CNH, HĐH, cả khó khăn trở ngại do những yếu kém hiện nay và tàn tích từ
trước, cả những khó khăn trong nước và những tác động bất lợi từ bên ngoài.
Từ đặc điểm đó, Đảng nhấn mạnh: Nước ta căn bản vẫn là nước nông nghiệp,
điểm xuất phát kinh tế thấp, khoảng cách về trình độ phát triển giữa nước ta với
các nước trên thế giới còn rất lớn, đất nước đi lên CNXH trong điều kiện cạnh
tranh quốc tế ngày càng quyết liệt, nếu chúng ta không nhanh chóng vươn lên
thì sẽ tụt hậu xa hơn về kinh tế. Đây là nhiệm vụ nặng nề khó khăn, chỉ có phát
huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động được các nguồn lực, động viên
được sức mạnh toàn dân, cả nguồn lực vật chất và tinh thần của các giai cấp,
tầng lớp xã hội, các thành phần kinh tế tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn.
21
CNH, HĐH là nhiệm vụ trung tâm có phạm vi ảnh hưởng rất rộng, có
liên quan trực tiếp đến tâm lý, lối sống của mọi người, đến hoạt động của mọi
lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ cao gắn liền với thị
trường trong nước và trên thế giới với sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của
các thành phần kinh tế, sức mạnh thời đại. Những nhân tố đó nếu được huy
động khai thác là một trong những vấn đề quyết định thành bại của công cuộc
đổi mới đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
Chính vì vậy Đại hội VIII chỉ rõ: “CNH, HĐH là sự nghiệp của toàn dân,
của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo” [12, tr.85].
Căn cứ vào tiềm năng, yếu tố nội lực của dân tộc ta. Đất nước ta có hơn
80 triệu người đó là những chủ thể của sự nghiệp đổi mới, thực hiện CNH, HĐH
đất nước, mà còn là một nguồn vốn phong phú, đa dạng có khả năng tái sinh lớn
nhất. Đó là vốn quý nhất trong mọi nguồn vốn. Đội ngũ lao động của Việt Nam
gắn với đất đai, tài nguyên, lực lượng sản xuất, với khoa học công nghệ, khoa
học quản lý hiện có sẽ là một nguồn nhân tài vật lực hết sức phong phú trong đó
lực lượng mạnh nhất là trí tuệ và tài năng tiềm năng của đất nước ta.
Con người Việt Nam vốn thông minh sáng tạo, cần cù, giàu lòng yêu
nước, nhân ái vị tha lại có đường lối hoà hợp ĐĐKDT của Đảng và nhà nước
ta sẽ là lực lượng hùng hậu thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ CNH, HĐH.
Xuất phát từ đặc điểm trên để khối ĐĐKDT trở thành nguồn sức mạnh
và động lực chủ yếu đường lối xuyên suốt của Đảng đều xuất phát từ vai trò
sức mạnh của quần chúng nhân dân.
Thực tiễn đã chứng minh những năm thực hiện đường lối đổi mới,
Đảng luôn luôn nhấn mạnh vai trò của quần chúng nhân dân, bài học kinh
nghiệm được rút ra tại Đại hội lần thứ VI: “Trong toàn bộ hoạt động của
mình Đảng phải quán triệt tư tưởng “ lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy
cuộc đổi mới đạt được những thành tựu hôm nay” [12, tr.83].
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã tổng kết bài học 15 năm đổi
23
mới, đây là Đại hội mở đầu cho thế kỷ XXI, một chặng đường lịch sử mà
trong đó đất nước ta sẽ hoàn thành nhiệm vụ CNH, HĐH đưa nước ta trở
thành nước công nghiệp. Đại hội chỉ ra con đường để xây dựng và bảo vệ
thành công Tổ quốc Việt Nam XHCN là phát huy sức mạnh toàn dân tộc
tiếp tục đổi mới đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Với đường lối đó Đảng
muốn khẳng định con đường phát triển của đất nước phải dựa vào sức
mạnh của toàn dân tộc, cũng như trước đây Đảng từng kêu gọi “mang sức
ta mà giải phóng cho ta”, mặt khác cũng khẳng định nhân dân ta đủ điều
kiện gánh vác sự nghiệp trọng đại ấy. Đại hội IX khẳng định:
Kế thừa truyền thống quý báu của dân tộc, Đảng ta luôn giương
cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân. Đó là đường lối chiến lược, là
nguồn sức mạnh và động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân là trách nhiệm của cả hệ thống
chính trị và toàn xã hội [13, tr.123].
Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng ĐĐKDT, Hội nghị Trung ương lần thứ
bảy khoá IX đề ra nhiệm vụ quan trọng: củng cố và tăng cường khối đại
đoàn kết toàn dân nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc giữ
vững độc lập, thống nhất Tổ quốc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh”.
Với đường lối đó Đảng đã huy động tối đa mọi nguồn lực, sức mạnh
của toàn dân, của cả cộng đồng dân tộc biến khối ĐĐKDT thành sức mạnh
to lớn để phát triển đất nước. Ý chí của Đảng, của dân chỉ có thể thực hiện
bằng sức mạnh của khối ĐĐKDT. Do đó, xây dựng củng cố khối ĐĐKDT
hội.
Đây là quan điểm của Đảng thể hiện sự cởi mở rộng rãi và chính sách
nhất quán sự tin cậy của Đảng ta đối với người Việt Nam và cộng đồng xã
25
hội. Đại hội IX của Đảng chủ trương:
Thực hiện đại đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp tầng lớp,
thành phần kinh tế mọi giới, mọi lứa tuổi mọi vùng của đất nước, người
trong Đảng và người ngoài Đảng, người đang công tác và người đã
nghỉ hưu, mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống
trong nước hay ở nước ngoài [13, tr.123].
Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng, lắng nghe, đón nhận những thái
độ, cử chỉ hành động hợp pháp thật sự chân thành của các tầng lớp nhân dân,
của những ai quan tâm đến vận mệnh, tiền đồ của dân tộc. Đó cũng là thể hiện
sự chân thành, tin tưởng của Đảng ta vào tình cảm, tư tưởng và tài năng của
mọi lực lượng của dân tộc hướng vào mục tiêu độc lập dân tộc và thống nhất
vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Như vậy đối tượng ĐĐKDT được Đảng xác định không ngừng mở
rộng biên độ của sự tập hợp lực lượng, thu hút rộng rãi mọi giai tầng xã hội,
bao gồm tất cả mọi người dân đất Việt. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Hễ là
người Việt Nam thì ai cũng có lòng yêu nước ghét giặc”, do đó Hồ Chí Minh
căn dặn “phải tránh hết sức để họ ở ngoài Mặt trận”, “miễn là không phản lại
quyền lợi dân chúng…có lòng trung thành với Tổ quốc”, “không được bỏ một
lực lượng nào sẵn sàng phục vụ quốc gia” Hồ Chí Minh nói “bất kỳ ai thật
thà tán thành hoà bình, độc lập dân chủ thì dù những người đó trước đây
chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ” [39, tr. 438].
Đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh cả cộng đồng dân tộc trên
cơ sở thống nhất mục tiêu, lợi ích căn bản.