1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xây dựng hậu phương đảm bảo nguồn lực về kinh tế có vai trò quyết
định thắng lợi trong chiến tranh cách mạng. Lênin khẳng định, trong bất cứ cuộc
chiến tranh nào, "nhân tố kinh tế vẫn là quyết định, đó là một chân lý" [44, tr. 55].
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, xuất phát từ mục đích
của cuộc kháng chiến, từ đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường
kỳ và tự lực cánh sinh, quán triệt sâu sắc tư tưởng của Lênin, từ kinh nghiệm
trong quá trình lãnh đạo xây dựng căn cứ địa thời kỳ đấu tranh giành chính
quyền, ngay từ đầu cuộc kháng chiến, Đảng ta đã chủ động xây dựng căn cứ
địa, hậu phương của kháng chiến, trong đó đặc biệt chú trọng xây dựng kinh
tế kháng chiến, coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để
đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi.
Với tầm nhìn chiến lược, căn cứ vào những yếu tố chủ quan, khách
quan: vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, con người,... của vùng,
Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm lựa chọn và quyết định xây dựng
Thanh - Nghệ - Tĩnh thành hậu phương lớn mạnh của cuộc kháng chiến. Quán
triệt chủ trương của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ Liên khu IV đã
trực tiếp lãnh đạo nhân dân ba tỉnh từng bước xây dựng kinh tế vùng tự do
Thanh - Nghệ - Tĩnh vững mạnh. Công cuộc xây dựng kinh tế kháng chiến ở
vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân
Pháp đã đạt được những thành quả to lớn, góp phần quan trọng đưa cuộc
kháng chiến đến thắng lợi, trong đó nổi bật lên vai trò lãnh đạo của Đảng bộ
Liên khu IV.
Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng trên mặt trận xây dựng kinh tế trong
kháng chiến chống thực dân Pháp ở vùng tự do Liên khu IV là cần thiết, góp
3
- Nghệ - Tĩnh được đề cập ở một vài khía cạnh mang tính chất minh họa kết
quả.
Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế của Viện Kinh tế học
thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam: Kinh tế Việt Nam từ Cách mạng
tháng Tám đến kháng chiến thắng lợi (1945-1954), Nxb Khoa học, Hà Nội,
1966;
45 năm kinh tế Việt Nam (1945-1990), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990;
Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, tập I của Đặng Phong, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, 2000... đã phản ánh khá sinh động nền kinh tế Việt Nam trong
kháng chiến chống thực dân Pháp, đi sâu phân tích những đặc điểm, mục
đích, thành tựu của nền kinh tế kháng chiến; các nguyên tắc kinh tế, chính
sách kinh tế, bộ máy kinh tế kháng chiến, từng ngành kinh tế; trong đó điểm
vài nét về xây dựng kinh tế kháng chiến ở vùng tự do Liên khu IV.
Đặc biệt, một số công trình nghiên cứu, luận án tiến sĩ được bảo vệ thành
công đã xuất bản thành sách như: Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của
quân dân Liên khu IV (1945-1954) của Viện Lịch sử Đảng, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2003; Vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh trong kháng chiến
chống Pháp 1946-1954, của PGS.TS Ngô Đăng Tri, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2001; Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công cuộc xây dựng các
vùng tự do lớn trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Luận án tiến sĩ, bảo vệ
năm 1993, tại Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh của PTS Đào Trọng Cảng và các công trình lịch sử Đảng bộ các địa
phương Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh... đã dựng lại bức tranh tổng thể về
cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện ở Liên khu IV hoặc phản ánh trực tiếp
công cuộc xây dựng hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh nhưng dừng lại ở mức
khái quát toàn diện mọi mặt từ chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa và nêu ra ý
nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lợi, bài học kinh nghiệm của công cuộc xây
dựng hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh một cách chung nhất. Cho đến nay,
5
- Nội dung nghiên cứu: Sự lãnh đạo của Đảng bộ Liên khu IV đối với
công cuộc xây dựng kinh tế ở vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh.
- Thời gian: trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954).
- Không gian: ở địa bàn vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh.
5. Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
a) Cơ sở lý luận
Trên cơ sở những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và của Đảng
ta về vai trò của kinh tế, vai trò của hậu phương trong chiến tranh cách mạng.
b) Nguồn tư liệu
- Các văn kiện của Bộ Chính trị, Trung ương; bài nói, bài viết của Chủ
tịch Hồ Chí Minh; các văn kiện, báo cáo của Liên khu ủy IV, của Đảng bộ ba
tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh được xác định là nguồn tài liệu chính, chủ yếu.
- Một số công trình khoa học, luận án, luận văn có liên quan đến đề tài
là tài liệu tham khảo.
c) Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgíc
là chủ yếu, ngoài ra là các phương pháp phân tích, thống kê, so sánh nhằm
làm nổi bật quá trình xây dựng kinh tế của nhân dân vùng tự do Thanh - Nghệ Tĩnh dưới sự lãnh đạo của Đảng từ 1945-1954.
6. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa quá trình Trung ương Đảng lãnh đạo xây dựng nền
kinh tế kháng chiến và Đảng bộ Liên khu IV lãnh đạo xây dựng kinh tế ở
vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh trong kháng chiến chống thực dân Pháp.
- Rút ra một số kinh nghiệm về vấn đề Đảng lãnh đạo xây dựng kinh
tế trong kháng chiến.
6
Thanh - Nghệ - Tĩnh có địa hình hết sức phong phú, đa dạng: Rừng
núi, trung du và đồng bằng ven biển, trong đó rừng núi, trung du là dạng địa
hình phổ biến; đồng bằng và ven biển là vùng quan trọng, rộng ở phía Bắc,
hẹp ở phía Nam. Đồng bằng Thanh - Nghệ - Tĩnh có diện tích 62.000 ha,
được bồi đắp bởi nhiều con sông như sông Mã, sông Chu, sông Cả, sông
Ngàn Sâu, Ngàn Phố, trong đó Thanh Hóa chiếm 1/2 diện tích. Mặc dù điều
kiện thiên nhiên có nhiều khó khăn do khí hậu khắc nghiệt nhưng đồng bằng
Thanh - Nghệ - Tĩnh vẫn là nơi tập trung nhân tài, vật lực, đầu mối giao thông
thủy bộ quan trọng và là vùng lúa quan trọng thứ ba ở nước ta sau đồng bằng
sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng.
Vùng biển Thanh - Nghệ - Tĩnh rất giàu hải sản. Dọc bờ biển có nhiều
cửa sông, trung bình cứ 20 km lại có một cửa sông, cửa lạch. Ngoài khơi có
nhiều đảo nhỏ như đảo Hòn Nẹ, Hòn Mê, Hòn Mắt, Hòn Chim... Nguồn hải
sản phong phú, cửa sông, cửa lạch cùng với nhiều đảo lớn nhỏ đã trở thành
thế mạnh của vùng để phát triển nghề cá. Nước biển ở Thanh - Nghệ - Tĩnh có
độ mặn thích hợp cho sản xuất muối. Với đặc điểm đó, biển Thanh - Nghệ Tĩnh có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc tạo nguồn thực phẩm thiết yếu
(muối, cá, nước mắm) cho quân dân toàn Liên khu và quân dân cả nước trong
cuộc kháng chiến.
Mạng lưới sông ngòi ở Thanh - Nghệ - Tĩnh rất dày đặc. Ở Thanh Hóa
có hệ thống sông Mã với các phụ lưu như sông Chu, sông Lèn, sông Bưởi,
sông Luồng... Ở Nghệ An, Hà Tĩnh có hệ thống sông Cả với dòng chính là
sông Lam, sông La. Đa số các sông chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam.
Ngoài ra, Thanh - Nghệ - Tĩnh còn có hệ thống các kênh đào như kênh Than,
kênh Sắt, kênh Đa Cái... Các kênh đào đã nối các con sông với nhau tạo thành
mạng lưới đường thủy quan trọng có vai trò lớn trong tưới tiêu, vận chuyển
phục vụ sản xuất và chiến đấu. Thuyền nhỏ và vừa có thể đi lại được trên
8
ngại không nhỏ cho hoạt động sản xuất và đời sống của nhân dân. Mất mùa,
đói kém xảy ra liên miên.
Với vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên nêu trên, ba tỉnh Thanh - Nghệ Tĩnh trở thành một địa bàn chiến lược quan trọng, có nhiều thuận lợi để xây
dựng thành vùng căn cứ địa, hậu phương vững chắc của cuộc kháng chiến.
Về mặt kinh tế, trước khi bước vào cuộc kháng chiến, kinh tế vùng tự
do Thanh - Nghệ - Tĩnh hết sức khó khăn. Dưới thời Pháp thuộc, Thanh Nghệ - Tĩnh là vùng đất nghèo nàn, lạc hậu: Nông nghiệp xơ xác, tiêu điều;
công nghiệp hầu như không có gì, đa số dân cư sống bằng nghề nông. Dưới
ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, hầu hết ruộng đất của nông dân bị
thực dân Pháp và bọn địa chủ phong kiến cướp đoạt. Thiếu ruộng đất để canh
tác cộng thêm chế độ thuế khóa nặng nề đã làm cho đời sống nông dân vô
cùng cực khổ.
Xuất phát từ mục đích xâm lược, thực dân Pháp chỉ chú trọng xây
dựng một số ngành công nghiệp và một số nhà máy có liên quan đến việc khai
thác, vơ vét tài nguyên khoáng sản để đem về chính quốc, như: nhà máy xẻ
gỗ, nhà máy diêm, nhà máy xe lửa Trường Thi và một số nhà máy khác tại
Vinh để phục vụ các hoạt động khai thác, vơ vét của chúng.
Dưới ách phát xít Pháp - Nhật, đời sống nhân dân ở Thanh - Nghệ Tĩnh hết sức cực khổ, nạn đói khủng khiếp cuối 1944 và năm 1945 đã cướp đi
sinh mạng hàng vạn người. Riêng Nghệ An trong 3 tháng cuối 1944 đầu 1945
đã có 42.630 người chết, trong đó có 2.250 gia đình không còn người sống
sót. Hà Tĩnh có tới 50.000 người chết.
Về xã hội, Thanh - Nghệ - Tĩnh là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc:
Kinh, Thái, Mường, Dao, Tày, Nùng; trong đó dân tộc Kinh chiếm 90%. Mỗi
dân tộc có trình độ và bản sắc văn hóa riêng nhưng họ đều cần cù lao động,
yêu nước nồng nàn, đoàn kết và anh dũng, kiên cường chống giặc ngoại xâm.
10
Thanh - Nghệ - Tĩnh là nơi có mật độ dân số đông đúc. Năm 1947, cả
ba tỉnh có hơn 2,5 triệu người, trong đó Thanh Hóa 1,2 triệu, Nghệ An trên 80
nào bị dập tắt với sự hoạt động của người cộng sản.
Trong hoàn cảnh bí mật gian khổ, luôn luôn bị đàn áp kìm
hãm trong nhà lao đế quốc, người đảng viên cộng sản ở Liên khu
IV đã rèn đúc được một ý chí kiên quyết, bền bỉ và trung thực [3, tr.
1].
Sau Cách mạng Tháng Tám, hệ thống tổ chức đảng, chính quyền ở
Thanh - Nghệ - Tĩnh từng bước được khôi phục, củng cố và kiện toàn. Ngày
31-8-1945, Xứ ủy Trung Bộ được lập lại do đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Ủy
viên Trung ương Đảng làm Bí thư. Tháng 10-1945, Chiến khu IV được thành
lập gồm 6 tỉnh: Thanh - Nghệ - Tĩnh - Bình - Trị - Thiên.
Dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy, Ủy ban hành chính Trung Bộ, hệ thống tổ
chức Đảng từ Tỉnh ủy đến chi bộ; bộ máy chính quyền các cấp; các tổ chức
quần chúng... ở Thanh - Nghệ - Tĩnh từng bước được kiện toàn. Đảng bộ của ba
tỉnh đã tập trung khôi phục lại các huyện ủy, củng cố các chi bộ ở khắp các vùng
nông thôn, thành thị; tiến hành sinh hoạt đảng thường xuyên để quán triệt chủ
trương, đường lối, chính sách mới của Đảng và Nhà nước; khắc phục nhận thức,
tư tưởng sai trái trong cán bộ, đảng viên. Nhờ đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên ở
Thanh - Nghệ - Tĩnh ngày càng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng. Cuối
1946, đội ngũ đảng viên Đảng bộ Thanh Hóa là 300 đồng chí, Đảng bộ Nghệ
An có 2.786 đảng viên và 160 chi bộ. Hầu hết cán bộ, đảng viên ở các địa
phương đều hăng hái hoạt động, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu; tổ chức
đảng thực sự là hạt nhân lãnh đạo chính quyền và phong trào cách mạng của
nhân dân.
12
Hệ thống chính quyền ở ba tỉnh cũng được củng cố và đi vào hoạt động
nề nếp. Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời các tỉnh được thành lập sau
ngày Tổng khởi nghĩa đều được đổi thành Ủy ban nhân dân rồi sau đó đổi
chiến. Quán triệt tinh thần đó và trên cơ sở xác định rõ vai trò, nhiệm vụ của
địa phương, Đảng bộ Liên khu IV và nhân dân ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh
vững tin bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ, ra sức phấn đấu
hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà lịch sử giao phó, trong đó xây dựng
kinh tế vùng tự do phục vụ kháng chiến là nhiệm vụ trung tâm, cơ bản và nổi
bật nhất.
1.2. ĐẢNG BỘ LIÊN KHU IV LÃNH ĐẠO KHÔI PHỤC VÀ BƯỚC ĐẦU
XÂY DỰNG KINH TẾ KHÁNG CHIẾN Ở VÙNG TỰ DO (1945 - 1950)
1.2.1. Chủ trương, đường lối xây dựng kinh tế trong cuộc kháng
chiến toàn dân, toàn diện của Đảng
Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
ra đời - mở ra kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc: kỷ nguyên đấu tranh bảo vệ
và xây dựng nền độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, từng bước đưa đất nước
phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, sau Cách mạng Tháng Tám, nước ta
đứng trước muôn vàn khó khăn: thù trong, giặc ngoài, nền kinh tế kiệt quệ,
dân trí thấp, tàn dư xã hội cũ nặng nề. Ngày 23-9-1945, thực dân Pháp núp
bóng quân Anh nổ súng gây hấn ở Nam Bộ, đe dọa vận mệnh dân tộc ta.
Nhận rõ những khó khăn to lớn của đất nước, trước sự sống còn của
dân tộc, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hết sức sáng suốt, từng bước
vạch ra đường lối kháng chiến kiến quốc đúng đắn. Trong đó, vấn đề xây
dựng nền kinh tế kháng chiến luôn được coi trọng. Ngay trong phiên họp đầu
tiên của Hội đồng Chính phủ (3-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra 6
nhiệm vụ cấp bách, trong đó xác định nhiệm vụ số một là cứu đói.
14
Để giải quyết nạn đói, ổn định đời sống nhân dân, Đảng nêu rõ biện
Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc
kháng chiến, khẳng định quyết tâm kháng chiến chống thực dân Pháp của
toàn dân tộc Việt Nam.
Chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Trung ương Đảng và Lời kêu gọi
toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh phản ánh đường lối kháng
chiến cơ bản của cách mạng Việt Nam. Đường lối kháng chiến của Đảng sau
đó được giải thích và phát triển đầy đủ trong tác phẩm Kháng chiến nhất định
thắng lợi của Tổng Bí thư Trường Chinh.
Tác phẩm phân tích, giải thích một cách sâu sắc đường lối kháng
chiến của Đảng ta trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa.
Về đường lối xây dựng kinh tế kháng chiến, Tổng Bí thư Trường Chinh nêu
rõ: để đảm bảo những điều kiện cho kháng chiến lâu dài, kháng chiến về mặt
kinh tế rất quan trọng. Một mặt phá hoại kinh tế địch, không cho địch lấy
chiến tranh nuôi chiến tranh; mặt khác xây dựng kinh tế ta theo hướng vừa
kháng chiến vừa kiến quốc và tự cung, tự cấp. Tổng Bí thư nhấn mạnh: chính
sách kinh tế trong kháng chiến là nâng cao sức sản xuất, đáp ứng nhu cầu thời
chiến "ăn no, mặc ấm, đánh khá¢e", bước đầu xây dựng kinh tế quốc doanh và
kinh tế hợp tác xã, coi trọng nông nghiệp và thủ công nghiệp, chú ý công nghiệp
quốc phòng, tăng thu, giảm chi, thực hành tiết kiệm, giảm nhẹ dần sự đóng
góp của nhân dân, củng cố tiền tệ, giữ vững giá hàng, có khuyến khích, có
thưởng, có phạt.
Tháng 4-1947, Ban Chấp hành Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị cán
bộ Trung ương. Hội nghị đã cụ thể hóa đường lối kháng chiến trong tình hình
trước mắt và kịp thời rút kinh nghiệm trong những tháng đầu của cuộc kháng
chiến toàn quốc. Hội nghị nêu rõ: Chiến tranh sẽ quyết liệt hơn và có thể kéo
dài, ta phải bồi bổ thực lực để một ngày kia phản công; xây dựng nền kinh tế
kháng chiến phải đi đôi với phá hoại kinh tế địch. "Phá kinh tế địch bằng cách
tẩy chay và quân sự phá hoại; kinh tế trong lúc kháng chiến phải thích hợp với
18
nhân. Kêu gọi nhân dân thực hành tiết kiệm, xóa bỏ các hủ tục lạc hậu, thực
hiện nếp sống mới; tổ chức các trại tế bần để tập trung những người không
nơi nương tựa... đến sống và làm ăn.
Để xây dựng kinh tế, Đảng bộ, chính quyền ba tỉnh phát động phong
trào làm thủy lợi, khai hoang, phục hóa, đẩy mạnh sản xuất. Nhân dân ba tỉnh
khẩn trương nạo vét, tu sửa nhiều công trình thủy lợi. Hệ thống sông Chu ở
Thanh Hóa được nạo vét, đảm bảo tưới tiêu cho 45.000 ha đất canh tác. Ở
Nghệ An, nhiều công trình thủy lợi nhanh chóng được sửa chữa để phục vụ
sản xuất như đập nước Xuân Dương (Diễn Châu), đê ngăn mặn ở La Vân (Nghi
Lộc), đê ngăn cát ở Quỳnh Lưu, hệ thống nông giang ở Đô Lương, Diễn
Châu, Yên Thành... Các tỉnh đều thành lập Ban chỉ đạo sản xuất, Hội nông
gia tương tế và ngân hàng tín dụng cho nông dân vay vốn. Một số nơi còn
thành lập tổ đổi công và hợp tác xã nông nghiệp. Riêng Nghệ An, đến tháng
6-1946 đã xây dựng được 41 hợp tác xã nông nghiệp; Hà Tĩnh có 18 hợp tác
xã nông nghiệp, 1 hợp tác xã tiêu thụ và 7 trại kinh tế với quy mô hàng trăm lao
động. Với khẩu hiệu "tấc đất, tấc vàng", "tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản
xuất nữa", nhiều vùng đất hoang hóa được khai phá đưa vào canh tác. Những
nơi trước đây là đồn bốt địch cũng được san bằng, phá gỡ rào, tường để trồng
ngô, khoai, sắn.
Nhằm khuyến khích nhân dân khai hoang, mở rộng diện tích trồng
trọt, tỉnh Thanh Hóa đã thực hiện miễn thuế từ 3 đến 5 năm cho diện tích mới
khai khẩn. Phong trào thâm canh, tăng vụ, trồng cây màu ngắn ngày được
khuyến khích. Nhờ đó, diện tích canh tác của ba tỉnh tăng cao hơn hẳn so với
trước Cách mạng Tháng Tám. Tính đến cuối 1946, Hà Tĩnh đã tăng thêm 242
mẫu ruộng các loại. Ở Nghệ An, đến tháng 6-1946, nhân dân đã khai hoang
được hơn 700 mẫu.
20
quyền dân tộc, ngày 18 và 19-12-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng
họp Hội nghị mở rộng quyết định phát động nhân dân cả nước đứng lên tiến
hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, dưới sự chỉ đạo trực tiếp
của Khu ủy khu IV, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân ba tỉnh Thanh - Nghệ Tĩnh đã ra sức thực hiện nhiệm vụ kháng chiến - kiến quốc, đẩy mạnh "tiêu
thổ để kháng chiến", kết hợp với tăng cường các hoạt động sản xuất và cất giấu
lương thực, thực phẩm; ủng hộ đồng bào miền Bắc, miền Nam kháng chiến.
Nhằm làm tốt công tác "tiêu thổ để kháng chiến", Đảng bộ và chính
quyền các địa phương đã tiến hành giải thích cho nhân dân lao động hiểu rõ
mục đích, yêu cầu của công việc phá hoại nhà cửa, tháo gỡ, di chuyển máy
móc lên căn cứ mới. Đồng thời, chỉ đạo sơ tán công nhân và gia đình đi xây
dựng các cơ sở sản xuất mới ở nông thôn hoặc trung du và miền núi.
Với chủ trương đúng đắn và biện pháp thích hợp, công việc tiêu thổ
kháng chiến được tiến hành khẩn trương và đạt kết quả. Thành phố Vinh, thị
xã Thanh Hóa, thị xã Hà Tĩnh và các công sở tại các thị trấn được phá hoại
triệt để. Trên 11.000 ngôi nhà, trong đó có 301 nhà tầng ở thành phố Vinh,
10.000m2 nhà ở thị xã Hà Tĩnh, 1.600 ngôi nhà và 30 công sở ở thị xã Thanh
Hóa bị đánh sập. Hàng chục đầu máy, hàng trăm toa xe chở khách, chở hàng;
và nhiều loại máy móc, kho tàng, cơ quan ở các đô thị được di chuyển đến nơi
an toàn, nhân dân tản cư khỏi các thành phố, thị xã. Tuyến đường sắt dài 390
km thuộc địa phận Thanh - Nghệ - Tĩnh được bóc dỡ đường ray, tháo dỡ toàn
bộ 77 đầu máy xe lửa, 750 toa xe. Các trục đường giao thông quan trọng đều
bị cắt ra thành nhiều đoạn, chi chít hầm chữ chi và các ụ chướng ngại vật. Cầu
lớn, cầu dài từ 50 mét trở lên trên quốc lộ 1, 7, 8 đều bị phá sập... Với khoảng
200.000 ngày công cho công tác tiêu thổ trong những ngày đầu của cuộc kháng
chiến ở Thanh - Nghệ - Tĩnh đã gây thiệt hại vô cùng lớn về kinh tế. Song
Người nào cũng biết đoàn kết yêu nước [47, tr. 65].
22
Người nhấn mạnh vấn đề cốt lõi để sự nghiệp cách mạng đi đến thành
công là vấn đề cán bộ. Người còn căn dặn Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa
phải làm tốt nhiệm vụ của vùng căn cứ địa, hậu phương như tiếp đón và giúp
đỡ hết lòng cán bộ và đồng bào tản cư từ nơi khác đến.
Trước nhiệm vụ nặng nề nhưng hết sức vinh quang, Đảng bộ Thanh
Hóa đã nêu cao quyết tâm lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mà
Chủ tịch Hồ Chí Minh giao phó. Ngay sau đó, các phong trào thi đua lao động
sản xuất được phát động mạnh mẽ trong toàn tỉnh. Hàng vạn ngày công được
huy động để đào đắp, tu sửa mương máng, đê điều, đảm bảo tưới tiêu cho
đồng ruộng, khắp nơi nêu cao khẩu hiệu "tấc đất tấc vàng". Chính quyền các
cấp hỗ trợ nông dân về giống, vốn, sức kéo đảm bảo cấy trồng đúng thời vụ.
Thâm canh, tăng vụ được chú trọng.
Với nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ và nhân dân, kinh tế nông nghiệp của
Thanh Hóa chuyển biến mạnh mẽ. Năm 1947, tổng sản lượng lúa đạt 26 vạn
tấn, ngô đạt 7.800 tấn, khoai 48.000 tấn và thu hoạch được 547 tấn bông, bảo
đảm tự túc về lương thực và nguyên liệu cho nghề dệt.
Bên cạnh sản xuất nông nghiệp, các nghề thủ công truyền thống được
phục hồi và phát triển. Khu ủy Khu IV đặc biệt chú ý chỉ đạo các tỉnh tập
trung phát triển công nghiệp quốc phòng để sản xuất vũ khí cho bộ đội. Ngoài
các xưởng sản xuất và sửa chữa vũ khí đã chuyển đến nơi an toàn, các tỉnh
còn mở nhiều xưởng mới. Ở Thanh Hóa có xưởng lò cao Như Xuân. Hà Tĩnh,
ngoài hai xưởng của Ủy ban kháng chiến hành chính Trung Bộ, tỉnh còn
thành lập 35 xưởng mới. Các xưởng đã đảm nhiệm được việc sửa chữa vũ khí
trong toàn khu và sản xuất được các loại vũ khí thông thường. Các xí nghiệp
quốc doanh và cả các xưởng sản xuất nhỏ đều sản xuất theo thiết kế của quốc
Nam của nhân dân Pháp dâng cao. Phong trào đòi độc lập dân tộc của các
nước thuộc địa của Pháp ở châu Phi ủng hộ cuộc kháng chiến của Việt Nam
ngày càng mạnh mẽ. Khó khăn về kinh tế, chính trị và những thất bại về quân
sự làm giới cầm quyền Pháp lúng túng về chiến lược. Chúng buộc phải
24
chuyển hướng chiến lược từ đánh nhanh thắng nhanh sang chiến lược đánh
lâu dài, tiếp tục thực hiện chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng
người Việt đánh người Việt"; thực hiện âm mưu càn quét vùng tự do, mở
rộng, củng cố vùng chiếm đóng, lập đội ngũ tề ngụy làm cơ sở. Thực hiện âm
mưu này, thực dân Pháp tiến hành chiến tranh tổng lực, tăng cường càn quét,
củng cố và giữ vững những vùng tạm chiếm, đánh phá cơ sở kinh tế, chính trị,
các cơ sở dự trữ cho kháng chiến của ta.
Trước tình hình đó, để tạo ra bước chuyển mạnh mẽ cho cuộc kháng
chiến, tháng 1-1948, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng
đánh giá những năm đầu cuộc kháng chiến toàn quốc và vạch ra phương
hướng, biện pháp lớn nhằm đẩy mạnh cuộc kháng chiến trong giai đoạn mới.
Về kinh tế, Đảng chủ trương đẩy mạnh xây dựng nền kinh tế kháng
chiến, phá âm mưu của địch phá hoại kinh tế kháng chiến của ta; phá kinh tế
tài chính địch, xây dựng nền sản xuất hợp lý của ta để thực hiện khẩu hiệu tự
cấp, tự túc, cải thiện đời sống nhân dân lao động. Tịch thu tài sản, ruộng đất
của bọn phản quốc để chia cho nông dân nghèo và bộ đội; triệt để thực hiện
giảm tô 25%, bài trừ các thứ địa tô phụ, chia lại công điền cho hợp lý và công
bằng, bỏ chế độ quá điền, khuyến khích các hình thức đổi công và tổ chức
hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, mở mang vận tải.
Đối với Liên khu IV, Hội nghị nhận định:
Mấy tỉnh Bắc và Nam Trung Bộ sẽ bước vào vòng khói lửa.
Hiện đã có nhiều triệu chứng địch sắp đánh Thanh - Nghệ - Tĩnh
Đảng bộ Liên khu IV lần thứ nhất họp. Đại hội kiểm điểm, đánh giá tình hình
một năm kháng chiến và đề ra nhiệm vụ công tác trong giai đoạn mới. Đại hội
khẳng định quyết tâm bảo vệ vững chắc Thanh - Nghệ - Tĩnh và xây dựng
Thanh - Nghệ - Tĩnh thành hậu phương của cuộc kháng chiến. Đại hội nêu rõ
nhiệm vụ chuẩn bị sẵn sàng về mọi mặt để đánh bại địch nếu chúng tấn công