Đảng lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp chống mỹ, cứu nước (1954 1975) - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ THỊ HÒA

ĐẢNG LÃ NH ĐẠO XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀ N KẾT
DÂN TỘC TRONG SỰ NGHIỆP CHỐNG MỸ ,
CỨU NƯỚC (1954-1975)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2010


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ THỊ HÒA

ĐẢNG LÃ NH ĐẠO XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀ N KẾT
DÂN TỘC TRONG SỰ NGHIỆP CHỐNG MỸ ,
CỨU NƯỚC (1954-1975)

Chuyên ngành : Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số

: 62 22 56 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ………………………………..98
2.2. Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc “đánh cho Mỹ cút, đánh cho
ngụy nhào” (1969-1975)………………………………………………………120


2.2.1. Tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc đánh bại một bước quan trọng chiến
lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của đế quốc Mỹ (1969-1973)……………….120
2.2.2. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc giải phóng hoàn toàn miền Nam
(1973 - 1975)…………………………………………………………………….144
Chương 3 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM …………………………………..156
3.1. Nhận xét chung……………………………………………………………..156
3.1.1. Chủ trương, chính sách xây dựng, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc
của Đảng trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của
chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; sự kế thừa, phát huy truyền thống yêu
nước của dân tộc; đồng thời là sự phát triển lên tầm cao mới những kinh nghiệm đại
đoàn kết trong Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
……………………………………………………………………………………...156
3.1.2. Đánh giá chính xác tình hình thế giới và trong nước, đặc biệt là tình hình
cách mạng hai miền Nam - Bắc làm cơ sở cho việc hoạch định đường lối, chủ
trương xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc……………………………………160
3.1.3. Quá trình xây dựng và phát huy thắng lợi sức mạnh khối đại đoàn kết dân
tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng là một trong những nhân tố quyết định, đánh bại
cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ …………………………………165
3.1.4. Những hạn chế trong quá trình chỉ đạo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc
………………………………………………………………………………….178
3.2. Những kinh nghiệm chủ yếu…………………………………………….182
3.2.1. Xác định đúng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng cả nước và của cách mạng
mỗi miền, để đề ra chủ trương xây dựng, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc
……………………………………………………………………………………182
3.2.2. Xác định những điểm tương đồng làm cơ sở đoàn kết, tập hợp lực lượng dưới

Trong thời đại ngày nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, của kinh tế thế giới, của toàn cầu hoá… trên thế giới cũng đang diễn ra
những biến động vô cùng phức tạp. Để hội nhập và phát triển, bên cạnh những cơ
hội, đất nước ta còn gặp vô vàn những thách thức, đặc biệt sau sự kiện tan rã của
Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu, những biến động chính trị ở các khu vực
khác nhau trên thế giới. Hiện nay, vấn đề tập hợp lực lượng, xây dựng khối đại
đoàn kết dân tộc vững mạnh trở thành một vấn đề nóng bỏng. Chính vì vậy, Đảng
luôn nêu cao sự cần thiết và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tổng kết thực tiễn,
rút ra những bài học kinh nghiệm, trong đó có bài học về xây dựng và củng cố
khối đại đoàn kết dân tộc, nhằm ngăn chặn sự phá hoại từ nhiều phía của các thế
lực chống phá Việt Nam, phục vụ cho công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ
quốc. Với ý nghĩa đó, nên chúng tôi đã chọn đề tài cho luận án tiến sĩ Lịch sử,

1


chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam của mình là: “Đảng lãnh đạo xây dựng
khối đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975)”.
2. Tình hình nghiên cứu vấn đề
Về đề tài này, mặc dù chưa có một công trình chuyên luận, nhưng đã có
nhiều công trình nghiên cứu liên quan gián tiếp, hoặc trực tiếp, được công bố với
nhiều góc độ và phạm vi nghiên cứu khác nhau. Có thể chia thành những nhóm tài
liệu như sau:
Các công trình nghiên cứu trong nƣớc
Sách chuyên khảo, tham khảo
- Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; thắng lợi và bài học
(Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996); Chiến tranh cách mạng Việt Nam 19451975 - Thắng lợi và bài học (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000); Cuộc chiến
tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ ở Việt Nam (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử
quân sự, Hà Nội, 1991); Miền Nam giữ vững thành đồng của Trần Văn Giàu (gồm
5 tập, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội ấn hành trong các năm 1964, 1966, 1970,
1978); Cách mạng ruộng đất ở miền Nam Việt Nam của Lâm Quang Huyên (Nxb

dựng khối đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh qua các giai đoạn cách
mạng. Các tác giả tập trung làm rõ khái niệm “đại đoàn kết toàn dân tộc”, “đại
đoàn kết dân tộc”, “đại đoàn kết toàn dân”, “đoàn kết các dân tộc thiểu số”, “đoàn
kết các tôn giáo” theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong cuốn Tư tưởng Hồ Chí Minh
về đại đoàn kết với vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời
kỳ mới, có bài “Đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Bác Hồ và sự thực hiện
của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”, của tác giả Lê Văn Châu.
Tác giả bàn về tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Hồ Chí Minh và làm rõ khái
niệm “đại đoàn kết toàn dân tộc” theo tư tưởng Hồ Chí Minh với nội dung cốt lõi:
“Đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam tức là trước hết đoàn kết đại đa số nhân dân
ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác”. Trong bài “Tư
tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh với vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết
toàn dân tộc trong thời kỳ mới”, tác giả Nguyễn Khánh Bật cho rằng: “Hồ Chí
Minh nhiều lần sử dụng cụm từ “đại đoàn kết toàn dân tộc” hoặc “đoàn kết toàn
dân tộc”. Người nói về “đại đoàn kết”, “đại đoàn kết toàn dân”, “đoàn kết toàn
dân”, “đoàn kết dân tộc”, “toàn dân tộc ta đoàn kết”, đặt chúng trong mối quan hệ
với nhau”; “trong Hồ Chí Minh toàn tập không có từ đoàn kết toàn dân tộc, nhưng

3


Người nhiều lần sử dụng từ “toàn dân tộc” với ý nghĩa đoàn kết dân tộc”. Nguyễn
Khánh Bật kết luận: Theo Hồ Chí Minh, “đoàn kết dân tộc” có ý nghĩa tương tự
như đoàn kết toàn dân”. Một cách khái quát hơn, tác giả Cao Duy Hạ trong bài “Tư
tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng của
nước ta” cho rằng, “đại đoàn kết toàn dân tộc” theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trước
hết, phải đoàn kết nhất trí trong Đảng về đường lối, chủ trương, chính sách và tổ
chức thực hiện; trên cơ sở đó đoàn kết chặt chẽ các tầng lớp nhân dân, đoàn kết tốt
các đảng phái, các đoàn thể, các nhân sĩ, đoàn kết các dân tộc anh em, đoàn kết
chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo. Trong bài “Xây dựng khối

- Sức mạnh chiế n thắ ng của cuôc kháng chiế n chố ng Mỹ , cứu nước (Nxb
Khoa ho ̣c Xã hô ̣i , Hà Nội, 1985); Lược sử Mặt trận dân tộc thố ng nhấ t Viê ̣t Nam
(Nxb Sự thâ ̣t Hà Nô ̣i , 1991); Lịch sử Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam (Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, 2007, gồ m 3 tâ ̣p)…
Đây là các công trình nghiên cứu v ề MTDTTN, trình bày lịch sử ra đời và
hoạt động của MTDTTN Việt Nam với nhiều hình thức và tên gọi qua từng giai
đoạn cách mạng. Ở những mức độ khác nhau, các tác giả đã làm rõ vị trí, vai trò và
hoạt động của MTDTTN trong tiến trình các mạng Việt Nam, trong đó, chú trọng
làm sáng tỏ vấn đề xây dựng MTDTTN, phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc trong
sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước (1954-1975). Tiêu biểu là cuốn Sức mạnh chiến
thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội,
1985), tập hợp bài viết của nhiều tác giả, trong đó có những bài về MTDTTN, làm
rõ quá trình ra đời, những đóng góp cơ bản của Mặt trận cho thắng lợi cuối cùng
của dân tộc; trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm về xây dựng và tổ
chức hoạt động của Mặt trận với tư cách là hạt nhân của khối đại đoàn kết dân tộc.
Cuốn sách Chung một bóng cờ của tập thể tác giả, do Tổng bí thư Nguyễn Văn
Linh chỉ đạo biên soạn, đã phản ánh khá hệ thống đường lối đoàn kết dân tộc của
Đảng, quá trình thực hiện đường lối, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của
MTDTGPMNVN đối với sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà. Trong công trình
này, nổi bật là bài “Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam – một giai đoạn
hợp thành lịch sử dân tộc Việt Nam” của luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Khi khái quát sự ra
đời, hoạt động của MTDTGPMNVN, tác giả cũng đồng thời nhấn mạnh vai trò của Mặt
trận trong quá trình tập hợp lực lượng trong nước và quốc tế, nhằm tăng cường
khối đại đoàn kết dân tộc, tạo ra sức mạnh tổng hợp, đánh bại ý chí xâm lược
của đế quốc Mỹ, đưa sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến thành công. Tác giả

5


khẳng định: “Ngọn cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam được chiến sĩ và

6


viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2001); Khuất Thị Hoa Quá trình
thực hiện chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống thực dân
Pháp xâm lược (1945-1954), (Luận án tiến sĩ Lịch sử, Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2001); Bùi thị Thu Hà: Đảng bộ An Giang vận động tín đồ
Hòa Hảo tham gia kháng chiến chống Mỹ, nước nước (1954-1975), (Luận văn thạc
sĩ khoa học Lịch sử, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1997)…
Những công trình được liệt kê chủ yếu nghiên cứu về sự lãnh đạo Đảng ở
những phương diện khác nhau trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Triển khai
các nhiệm vụ nghiên cứu chính yếu của mình, các tác giả, tuy chưa đi sâu, song đã
đề cập đến chủ trương và quá trình thực hiện xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc
của Đảng ở những góc độ khác nhau. Các tác giả đều khẳng định rằng, các tổ chức
Mặt trận với tư cách là hạt nhân của khối đại đoàn kết dân tộc, đã đóng góp đáng
kể trong quá trình tập hợp lực lượng, thêm bạn, bớt thù, làm tăng thêm sức mạnh
của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Bài báo và tạp chí
- “Chữ “Đồng” trong quan điểm Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân” của
Phạm Ngọc Quang (Tạp chí Cộng sản số tháng 7/2001); “Tìm hiểu về đoàn kết Lương
giáo và tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng trong tư tưởng Hồ Chí Minh” của Vũ Văn Hậu
(Tạp chí Dân vận số tháng 7/2001); “Theo ngọn cờ đoàn kết của Hồ Chí Minh” của
Mạch Quang Thắng (Nghiên cứu Lý luận số 7/2000); “Tấm lòng khoan dung độ lượng
của Bác Hồ đối với những người lạc lối, lầm đường” của Song Thành (Tạp chí Lịch sử
Đảng số 7/2001); “Đi tìm nét tương đồng, điểm quy tụ của toàn dân tộc trong tư tưởng
đại đoàn kết Hồ Chí Minh” của Bùi Đình Phong (Tạp chí Dân vận số 5/2002); “Nguyên
tắc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh” của Lê Đại Nghĩa
(Tạp chí Dân vận, số 3/2006)…
Những bài viết nêu trên chủ yếu làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn
kết dân tộc, nguyên tắc, sách lược đoàn kết tôn giáo, đoàn kết mọi lực lượng dân

thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Nga... Có thể chỉ ra một số tác phẩm tiêu biểu:
Cuộc chiến tranh dài ngày nhất nước Mỹ của G.C Herring (Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 1998); Việt Nam, The Ten Thousand Day War (Việt Nam, cuộc
chiến tranh mười ngàn ngày) của Micheal Maclear, Nxb, Sự thật Hà Nội, 1990;
Shingo Shibata: Những bài học của chiến tranh Việt Nam (Viện thông tin khoa học
xã hội dịch và phát hành, Hà Nội, 1976); Lyndon Baines Johnson: Về cuộc chiến

8


tranh xâm lược miền Nam và chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta (Bản dịch
của Việt Nam Thông tấn xã phát hành 1972)...
Những công trình nghiên cứu trên chủ yếu là mô tả về cuộc chiến tranh của Mỹ
ở Việt Nam. Vấn đề đoàn kết dân tộc Việt Nam được đề cập như một nguyên nhân
thành công của Việt Nam, hoặc thất bại của phía Mỹ trong cuộc chiến tranh. Trong
cuốn Giải phẫu một cuộc chiến tranh của G.Côncô (Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội,
1991), tác giả nhấn mạnh rằng, sở dĩ nhân dân Việt Nam đã chiến đấu và chiến thắng đế
quốc Mỹ là bởi Đảng Cộng sản Việt Nam đã đoàn kết được toàn dân tộc Việt Nam,
đồng thời đoàn kết được đông đảo các lực lượng tiến bộ trên thế giới đồng tình ủng hộ
cho cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ. Sau 20 năm cuộc chiến tranh Việt Nam kết
thúc, R. Mc.Namara, Nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đã công bố hồi ký Nhìn lại
quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 1995), phân tích 11 nguyên nhân cơ bản dẫn đến thất bại của Mỹ ở Việt Nam và
cho rằng, việc “đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc thúc đẩy một dân tộc đấu
tranh và hy sinh cho lý tưởng và các giá trị của nó” của phía Mỹ là một trong những
nguyên nhân thất bại quan trọng.
Tổng quát lại, khi khảo cứu các công trình nêu trên, có thể rút ra những kết
luận sau:
Thứ nhất, thành quả của những công trình nghiên cứu trên đây, ở những
mức độ khác nhau đã soi rọi và là cơ sở, để tác giả luận án có thể đi sâu nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu và nguồn tư liệu như trên, luận án có nhiệm vụ kế thừa
kết quả của những người đi trước, thu thập, xử lý tư liệu mới nhằm:
- Hệ thống hoá, khái quát hoá những tư liệu đã có, bổ sung những tư liệu mới, góp
phần khôi phục một cách khách quan quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết
dân tộc trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước qua hai giai đoạn 1954 - 1965 ;
1965 – 1975.
- Đi sâu phân tích đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng với quá trình tập hợp
lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước (1954 -1975).
- Bước đầu đưa ra những đánh giá, nhận xét một cách khoa học về thành tựu, hạn
chế trong quá trình lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc của Đảng, từ đó rút ra
những kinh nghiệm chủ yếu, phục vụ sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc.

10


5. Cơ sở lý luận, các nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận để thực hiện đề tài là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân, về dân tộc và giai cấp, về tập
hợp lực lượng, xây dựng khối đoàn kết dân tộc trong MTDTTN...
Các nguồn tài liệu
- Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin và Hồ Chí Minh về đại
đoàn kết dân tộc, về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp, dân tộc và thời
đại là cơ sở lý luận của luận án.
- Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, thông tư, sắc lệnh…của Đảng; thư, điện,
bài phát biểu… của các lãnh đạo Đảng và nhà nước về đại đoàn kết dân tộc, về xây
dựng MTDTTN, hiện đang được lưu giữ tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia, Cục lưu
trữ - Văn phòng Trung ương Đảng… là những tài liệu gốc của luận án.

dạy cho những môn học có liên quan.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm ba
chương và 6 tiết:
Chương 1: Đảng lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc từ năm 1954
đến 1965.
Chương 2: Đảng lãnh đạo củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc từ
năm 1965 đến 1975.
Chương 3: Nhận xét chung và một số kinh nghiệm chủ yếu.

12


Chƣơng 1
ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1965
1.1. Xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc củng cố, phát triển miền Bắc;
đấu tranh chống Mỹ và chính quyền tay sai ở miền Nam (1954 – 1960)
1.1.1. Khái quát quá trình xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc dưới sự
lãnh đạo của Đảng trước năm 1954
Cuối thế kỷ XIX, sau khi cơ bản kết thúc quá trình vũ trang xâm lược, thực
dân Pháp đã thực hiện chính sách thống trị và khai thác thuộc địa trên đất nước ta.
Hậu quả của chính sách thống trị đó làm cho Việt Nam có những chuyển biến sâu
sắc về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Việt Nam từ một xã hội phong kiến thuần
tuý đã biến thành xã hội thuộc địa1. Trong lòng xã hội ̣đó tồn tại nhiều mâu thuẫn
đan xen nhau, song mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt
Nam với thực dân Pháp và tay sai phản động. Để giải quyết mâu thuẫn đó, các
phong trào đấu tranh theo khuynh hướng phong kiến và tư sản diến ra liên tục, sôi
nổi nhưng đều thất bại. Trước bối cảnh khủng hoảng đường lối cứu nước, Nguyễn
Ái Quốc, một thanh niên yêu nước mang trong mình những giá trị văn hóa, tư

chính trị, các cá nhân yêu nước, nhằ m phát huy sức mạnh truyền thốngyêu nước, huy
đô ̣ng mo ̣i nhân tố dân tô ̣c, chĩa mũi nhọn vào kẻ thù chung là đế quốc và phong kiến
,
giành độc lập, tự do cho dân tô.̣c
Chủ trương đại đoàn kếtdân tô ̣c của Đảng đã làm dấy lên lên một cao trào cách
mạng chưa từng có mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh
. Cao trào cách ma ̣ng diễn ra trên
quy mô lớn, thu hút sự tham gia của nhiề u tầ ng lớp nhân dân
, các dân tộc đa số, thiể u số.
Tuy nhiên khi phong trào cách ma ̣ng lên tơỉnh
́ i đ cao, xuấ t hiê ̣n khuynh hướng “ta,̉ ”nhấ n
mạnh đấu tranh giai cấp
, “do đó thiế u mô ̣t tổ chức thâ ̣t quảng đa ̣i quầ n chu, ́ hấ
ngp thu ̣ các
tầ ng lớp trí thức dân tô,̣ctư sản dân tô ,̣c họ là tầng lớp trên hay ở vào tầng lớp giữa
cũng
vâ ̣y, và cho tới cả những người điạ chủ, có đầu óc oán ghét đế quốc Pháp, mong muố n
đô ̣c lâ ̣p quố c gia, để đưa tất cả những tầng lớp và cá nhân đó vào trong hàng ngũ chống
đế quốc Pháp”[40; tr. 228]
Ngày 18/11/1930, Ban Thường vu ̣ Trung ương Đảng ra Chỉ thị thành lập Hội
Phản đế đồng minh 1, nêu cao tư tưởng chiế n lươ ̣c cách ma ̣ng đúng đắ n trong
Cương liñ h chin
́ h tri ̣đầ u tiên , coi viê ̣c đoàn kế t toàn dân thành mô ̣t lực lươ ̣ng rô ̣ng
rãi, lấ y liên minh công, nông làm đô ̣ng lực chính , là nhân tố quyết định cho thắng
lơ ̣i của cách ma ̣ng giải phóng dân tô ̣c . Chỉ thị khẳ ng đinh:
̣ “Giai cấ p vô sản lañ h
đa ̣o cuô ̣c các ma ̣ng tư sản dân quyề n ở Đông Dương mà không tổ chức đươ ̣c toàn
dân la ̣i thành mô ̣t lực lươ ̣ng thâ ̣t rô ̣ng , thâ ̣t kiń thì cuô ̣c cách ma ̣ng cũng khó thành
1


Tuy nhiên, muc tiêu trực tiế p trước mắ t của cách ma ̣ng Đông Dương lúc này là đấ u
tranh chố ng bo ̣n phản đô ̣ng thuô ̣c điạ đòi tự do , dân chủ , cơm áo , hòa bình . Để
thực hiê ̣n mu ̣c tiêu đó, Đảng chủ trương thành lâ ̣p Mă ̣t trâ ̣n nhân dân phản đế Đông
Dương (năm 1938 đổ i thành Mă ̣t trâ ̣n dân chủ Đông Dương ). Mă ̣t trâ ̣n bao gồ m
các giai cấp, các đảng phái, các dân tộc, các đoàn thể chính trị và các tôn giáo , tín
ngưỡng khác nhau đoàn kế t đấ u tranh đòi những quyề n dân chủ, dân sinh.
Mă ̣t trâ ̣n dân chủ thực chấ t là mô ̣t hình thức của mă ̣t trâ ̣n phản đế rô ̣ng raĩ
đấ u tranh cho mu ̣c tiêu trước mắ t là dân sinh, dân chủ, là một “giải pháp” đúng đắn
để chuẩn bị điều kiện cho cuộc vận động giải phóng dân tộc.
Tháng 9/1939, cuộc Chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, phát xít Nhật xâm lược
Đông Dương (1940), Nhật – Pháp câu kết với nhau thống trị nhân dân Đông Dương, đẩy
nhân dân các dân tộc Đông Dương rơi vào tình cảnh “một cổ hai tròng”, mâu thuẫn dân
tộc ngày càng sâu sắc, đòi hỏi cần phải giải quyết. Vì vậy, Hội nghị lần thứ 8 của

15


BCHTƯĐ (5/1941) do Hồ Chí Minh chủ trì khẳng định: “Trong lúc này nếu không giải
quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân
tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà
quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được” [42; tr. 113]. Hội
nghị quyết định thay đổi chiến lược, nêu cao ngọn cờ giải phóng dân tộc. Để hoàn thành
nhiệm vụ giải phóng dân tộc, Đảng chỉ rõ:
“Phải tập trung cho được lực lượng cách mạng toàn cõi Đông Dương, không
phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, địa chủ, tư sản bản xứ, ai có lòng yêu
nước thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất mặt trận, thu góp toàn lực đem tất cả
ra giành quyền độc lập, tự do cho dân tộc, đánh tan giặc Pháp – Nhật xâm
chiếm nước ta. Sự liên minh tất cả lực lượng của các giai cấp, đảng phái, các
nhóm cách mạng cứu nước, các tôn giáo, các dân tộc kháng Nhật, đó là công
việc cốt yếu của Đảng ta” [42; tr. 112-113].

đoàn thể Cứu quốc phát triển rộng lớn trong công nhân, nông dân, thợ thủ công, thanh
niên, học sinh, sinh viên, rồi đến công chức, tiểu thương, tiểu chủ. Không ít những nhà tư
sản, địa chủ yêu nước đã có cảm tình, ủng hộ và tham gia hoạt động Mặt trận Việt Minh.
Nhiều nhà tu hành cũng tham gia Mặt trận và nhiều nhà chùa đã trở thành cơ sở hoạt
động bí mật của Đảng, của Mặt trận. Trong hàng ngũ binh lính địch có những binh sĩ yêu
nước đã bí mật tham gia tổ chức Cứu quốc, hoặc có quan hệ với Mặt trận... Mặt trận Việt
Minh không chỉ phát triển rộng rãi trong cả nước mà còn có nhiều cơ sở trong Việt kiều ở
nước ngoài, như Hội giải phóng Việt Nam ở Vân Nam, tập hợp những Việt kiều yêu
nước, không phân biệt xu hướng chính trị, tín ngưỡng nhằm đánh Nhật, đuổi Pháp, đòi
Việt Nam độc lập. Hội giải phóng Việt Nam được coi là một bộ phận của Mặt trận Việt Minh.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, thông qua Mặt trận Việt Minh, phong trào đấu tranh
của công nhân, nông dân, học sinh tiểu thương phát triển rộng rãi. Trong khi đó, tình hình
thế giới cũng có sự chuyển biến tích cực. Chiến thắng Xtalingrát và chiến thắng Cuốcxcơ
đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.
Trước sự chuyển biến của thời cuộc, tháng 2/1943, Ban Thường vụ trung ương
Đảng họp ở Võng La (Đông Anh, Hà Nội) để bàn về việc mở rộng MTDTTN và xúc
tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang. Hội nghị nhận định: Hiện nay ở Đông Dương thiếu
một phong trào cách mạng quốc gia tư sản và phong trào thanh niên học sinh. Do đó,
cuộc cách mạng ở Đông Dương vẫn hẹp hòi, có tính cách công nông hơn là tính cách
toàn dân tộc. Hội nghị đề ra chủ trương mở rộng hơn nữa Mặt trận Việt Minh, liên minh
với tất cả các đảng phái, các nhóm yêu nước ở trong và ngoài nước chưa gia nhập Mặt

17


trận Việt Minh, đẩy mạnh công tác vận động công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên
phụ nữ, tư sản, địa chủ yêu nước, các dân tộc thiểu số, Hoa kiều, lập ra Hội Văn hoá cứu
quốc ở thành phố nhằm đoàn kết các văn nghệ sĩ, trí thức tham gia cách mạng.
Từ sau Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng năm 1943, Mặt trận Việt Minh
không ngừng lớn mạnh, khối đại đoàn toàn dân được củng cố và tăng cường, tập hợp

bùng nổ.
Với mục đích đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng dân tộc vào sự nghiệp đấu
tranh giành chính quyền, Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương đã
nhấn mạnh đến việc phải đẩy mạnh công tác vận động quần chúng công nhân,
nông dân, binh lính, thanh niên, phụ nữ, tư sản, địa chủ, công chức, đồng bào theo
đạo, các đảng phái... Nghị quyết cũng nhấn mạnh đến việc thi hành 10 chính sách
lớn của Mặt trận Việt Minh, coi đó là những mục tiêu cơ bản và trước mắt của toàn
Đảng, toàn dân.
Đầu năm 1945, cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc,
thắng lợi nghiêng về phe đồng minh. Cao trào kháng Nhật cứu nước phát triển mạnh mẽ,
rộng lớn chưa từng thấy, đã thúc đẩy tình thế cách mạng chín muồi. Lúc này, đa số lực
lượng trung gian đã ngả về phía cách mạng. Rất nhiều người làm việc trong bộ máy
chính quyền tay sai của địch hoang mang, dao động, có những người giữ thái độ trung
lập, hoặc có cảm tình, ủng hộ Mặt trận; một số quan lại, kể cả một vài vị quan cao cấp
cũng bí mật liên hệ với Mặt trận. Khi thời cơ đến, Hồ Chí Minh kêu gọi: “Giờ quyết định
cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải
phóng cho ta” [132; tr. 554]. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận Việt Minh đã phát
động toàn thể nhân dân vùng lên khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước đưa Cách
mạng tháng Tám giành thắng lợi. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là thắng lợi của
đường lối tập hợp lực lượng, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc trong MTDTTN của
Đảng, trong đó Mặt trận Việt Minh là một sáng tạo lớn của Đảng.
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, nước VNDCCH ra đời, bên cạnh
những thuận lợi, nhà nước non trẻ phải đối mặt với vô vàn những khó khăn. Chưa
bao giờ trên đất nước ta lại có nhiều thù trong, giặc ngoài đến vậy. Hơn 20 vạn
quân Tưởng vào miền Bắc; 2,5 vạn quân Anh, Ấn vào miền Nam với danh nghĩa là
quân “Đồng minh” để giải giáp quân đội Nhật, nhưng thực chất là để tiêu diệt
Đảng, phá tan Việt Minh và lật đổ chính quyền cách mạng. Bên cạnh đó, các tổ
chức phản động, tay sai đế quốc, các lực lượng chống Cộng, chống Việt Minh như
Việt Nam Quốc dân Đảng do Vũ Hồng Khanh cầm đầu, Việt Nam Cách mạng


hiệp quốc dân Việt Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng, làm cho “cuộc
đại đoàn kết ngày nay sẽ mang lại tự do chắc chắn cho dân tộc [43; tr. 71].

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status