ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG CĂN CỨ ĐỊA TẠI NAM BỘ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC THỜI KÌ 1954 - 1960 - Pdf 33

TRƯỜNG §¹i häc sƯ ph¹m hµ néi 2
KHOA LỊCH SỬ
**************

CHU VĂN KIÊN

ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG
CĂN CỨ ĐỊA TẠI NAM BỘ
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ,
CỨU NƯỚC THỜI KÌ 1954 - 1960
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS. TRẦN THỊ VUI

HÀ NỘI – 2015


LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới cô Trần Thị Vui - người đã tận
tình hướng dẫn, chỉ bảo em để em có thể hoàn thành bài khóa luận này. Trong
thời gian làm bài khóa luận em đã gặp rất nhiều khó khăn, cô đã hết sức tạo
điều kiện, giúp đỡ em.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử, các
thầy cô trong bộ môn Lịch sử Đảng trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2, đã
tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận của mình.
Tuy nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ các thầy cô nhưng đề tài nghiên
cứu khóa luận của em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất
mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn sinh
viên để đề tài này được hoàn thiện hơn.
EM XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN !

KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (TỪ THÁNG 7-1954 ĐẾN
1958) ............................................................................................................... 12
1.3. ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC TỪNG BƯỚC KHÔI PHỤC VÀ
CỦNG CÓ LẠI CÁC KHU CĂN CỨ CŨ (TỪ THÁNG 7-1954 ĐẾN 1958)
......................................................................................................................... 20
Chương 2. ĐẢNG LÃNH ĐẠO MỞ RỘNG CÁC KHU CĂN CỨ TẠO
CHỖ ĐỨNG CHO LỰC LƯỢNG CÁCH MẠNG TIẾN LÊN ĐỒNG
KHỞI (TỪ 1958 ĐẾN 12-1960).................................................................... 33
2.1. MỸ-DIỆM TĂNG CƯỜNG “TỐ CỘNG, DIỆT CỘNG” TRÊN ĐỊA
BÀN MIỀN NAM ........................................................................................... 33
2.2. ĐẢNG LÃNH ĐẠO MỞ RỘNG CÁC KHU CĂN CỨ ......................... 35
2.3. PHONG TRÀO ĐỒNG KHỞI CỦA NHÂN DÂN MIỀN NAM ........... 45


Chương 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM XÂY DỰNG
CĂN CỨ ĐỊA Ở NAM BỘ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ,
CỨU NƯỚC (1954-1960) .............................................................................. 51
3.1. THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ ................................................................. 51
3.1.1. Thành tựu .............................................................................................. 51
3.1.2. Hạn chế .................................................................................................. 53
3.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA CĂN CỨ ĐỊA NAM BỘ NHỮNG NĂM 1954-1960
......................................................................................................................... 54
3.3. VAI TRÒ CỦA CÁC KHU CĂN CỨ ĐỊA TẠI NAM BỘ TRONG
NHỮNG NĂM 1954-1960 ............................................................................. 60
3.4. MỘT SỐ KINH NGHIỆM ....................................................................... 63
KẾT LUẬN .................................................................................................... 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 70


MỞ ĐẦU

giai đoạn khốc liệt nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (19541975). Nghiên cứu thấu đáo công tác xây dựng căn cứ địa, xây dựng Đảng tại
Nam Bộ - chiến trường chính của miền miền Nam trong giai đoạn này giúp
chúng ta sẽ hiểu rõ sức sống mãnh liệt của Đảng, của cách mạng, vùng lên từ
máu lửa để chiến đấu và chiến thắng, xoay chuyển tình thế, chuyển cách
mạng từ thế bị động sang thế tiến công.
Nam Bộ là một vùng đất có vị trí chiến lược quan trọng nhất của chiến
trường miền Nam trong kháng chiến. Kề từ khi Pháp xâm lược đã chú trọng
thiết lập bộ máy cai trị ở đây. Khi Mỹ can thiệp vào nước ta đã sử dụng Sài
Gòn làm “tiền đồn chống Cộng”, vùng đất Nam bộ nói riêng và toàn miền
Nam nói chung được Mỹ đặc biệt quan tâm, chúng xây dựng bộ máy chính
quyền tay sai, viện trợ kinh tế… để thực hiện chính sách “chống cộng, diệt
cộng” của mình.
Đối với ta, vùng đất Nam Bộ có ý nghĩa cực kì quan trọng. Vùng Tây
Nam Bộ có tiềm năng kinh tế to lớn, đáp ứng yêu cầu của mọi cuộc chiến
tranh, đặc biệt là khả năng tự cấp, tự túc trong chiến tranh. Đây lại là vùng
đấy giáp biển Đông và biên giới Camphchia, điều kiện địa lý chiến lược, cơ
sở chính trị vững chắc. Vũng Đông Nam Bộ có hành lang phía Tây Bắc lên
phía Bắc và phía Đông gắn liền với vùng núi cực Nam Trung Bộ, Nam Tây
Nguyên và Nam Campuchia, có vùng rừng rậm, núi cao… thuận lợi cho việc
đóng quân, che dấu lực lượng, xây dựng cơ sở Đảng, trong chiến tranh phòng
thủ vững chắc, tấn công dễ dàng. Nhìn chung, điều kiện tự nhiên, địa lý, kinh
tế - chính trị ở Nam Bộ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và thuận lợi cho ta xây
dựng căn cứ địa tại vùng đất này.
Nghiên cứu công tác Đảng lãnh đạo xây dựng căn cứ địa trong thời kỳ
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở chiến trường Nam bộ góp phần làm sáng
tỏ thêm những vấn đề lịch sử, giáo dục truyền thống yêu nước chống giặc

2




niệm, nguồn gốc, tính chất, đặc điểm nêu bật những đặc trưng của căn cứ địa ở
Việt Nam nói chung và trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nói riêng.
Về tổng kết, có một số công trình quan trọng. Tổng kết chung của cả
nước có sách: "Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam” (1945 - 1975)
(Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội
nhân dân, Hà Nội, 1997), sách "Hậu phương lớn, tiền tuyến lớn trong kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước” (1954 - 1975) (Nhà xuất bản Từ điển bách khoa,
Hà Nội, 2005) Bên cạnh đó, có sách "Tổng kết công tác hậu cần chiến trường Nam
Bộ - Cực Nam Trung Bộ (B2) trong kháng chiến chống Mỹ" (Tổng Cục hậu cần,
1986) có liên quan nhiều đến vấn đề căn cứ.
Ngoài các tổng kết chung, một số căn cứ địa trên địa bàn Nam Bộ cũng
được quan tâm, nghiên cứu trong các công trình tổng kết hoặc viết lịch sử như:
"Chiến khu Rừng Sác", "Lịch sử Chiến khu Đ", Riêng cuốn sách "Chiến khu ở
miền Đông Nam Bộ (1945 - 1954)" của tác giả Hồ Sơn Đài (Nhà xuất bản Thành
phố Hồ Chí Minh, 1996) và luận án tiến sĩ lịch sử "Căn cứ địa ở miền Đông
Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975)" của Trần Thị Nhung
(năm 2001) đã nghiên cứu một cách khái quát và có hệ thống về toàn bộ căn cứ
địa miền Đông Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đem lại
những kiến thức bổ ích và những bài học về phương pháp cho việc nghiên cứu.
Qua đó, có thể thấy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, tác phẩm
đề cập đến một số mặt lý luận và thực tiễn của việc xây dựng căn cứ địa ở các thời
kỳ và các địa phương cụ thể. Qua các nghiên cứu này, các tác giả đã lý giải về
khái niệm căn cứ địa, về chức năng hoạt động, nội dung xây dựng và vai trò của
căn cứ địa đối với sự nghiệp kháng chiến nói chung và kháng chiến chống Mỹ
nói riêng, đưa ra một số đặc trưng của căn cứ địa ở Việt Nam, các kiến thức về
một số căn cứ địa cụ thể.

4



- Liên Tỉnh ủy miền Trung Nam Bộ gồm các tỉnh: Tân An, Mỹ Tho, Sa
Đéc, Bến Tre, Gò Công, Long Xuyên, Châu Đốc, Kiến Phong, Kiến Tường
do đồng chí Nguyễn Minh Đường làm Bí thư.
- Liên Tỉnh ủy miền Đông Nam Bộ gồm các tỉnh Gia Định, Tây Ninh,
Tây An, Thủ Biên, Bà Rịa do đồng chí Phan Đức làm Bí thư sau đó đồng chí
ra Bắc chữa bệnh, đồng chí Mai Chí Thọ lên làm Bí thư.
- Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn do đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Bí thư.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu: Trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, chúng
tôi có sử dụng các nguồn tài liệu như các văn kiện Đảng trong giai đoạn 19541960, lịch sử Đảng bộ các tình Nam Bộ, Hồ Chí Minh toàn tập, các kỷ yếu
hội thảo khoa học xoay quanh vấn đề này, cùng các đầu sách viết về căn cứ
địa tại Nam Bộ cũng như miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
thời kì 1954-1960… nhằm làm sáng tỏ thêm về sự lãnh đạo của Đảng với
công tác xây dựng cứ địa tại Nam Bộ và đóng góp của nhân dân Nam Bộ.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, người viết dựa trên cơ sở phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm chỉ đạo của
Đảng ta về nghiên cứu sử học.
Trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận của mình, người viết đã sử
dụng phương pháp lịch sử phương pháp lôgic, và rất nhiều phương pháp như
phương pháp đối chiếu, so sánh, phân tích tư liệu …
5. Đóng góp của khóa luận
Làm rõ thêm giá trị lý luận và thực tiễn của công tác Đảng lãnh đạo xây
dựng căn cứ địa tại Nam Bộ trong những năm đầu của cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước.

6


phát triển mạnh mẽ. Căn cứ được lập ra thì phải hội tụ các điều kiện:
 Cơ sở chính trị vững chắc
 Vũ trang toàn dân
 Đáp ứng nhu cầu xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, nuôi quân
để chiến đấu.
 Địa thế hiểm trở cho tiến công - phòng ngự
- Lịch sử xây dựng căn cứ địa ở nước ta
Trong lịch sử nước ta, có các căn cứ như Mê Linh của Hai Bà Trưng,
Cửu Chân của Bà Triệu, Dạ Trạch của Triệu Quang Phục, Lam Sơn của Lê
Lợi và Thanh - Nghệ - Tĩnh của phong trào Cần Vương…
Thời kháng Pháp thì có các căn cứ như Gò Công của Trương Định,
Giao Long (Bình Thuận) của Trương Quyền; Đồng Tháp Mười (Sa Đéc, Kiến
Phong, một phần Tân An, một phần Tiền Giang) của Võ Duy Dương… Khi

10


Đảng ra đời thì Bác Hồ chỉ đạo xây dựng các căn cứ địa, đầu tiên là Bắc Sơn Võ Nhai, Cao Bằng, chiến khu Trần Hưng Đạo…
Riêng tại Nam Bộ, từ khi Pháp vào xâm lược nước ta vào giữa thế kỹ
XIX, các sĩ phu yêu nước đã cùng nhân dân đứng lên đánh đuổi Pháp, công
tác xây dựng các khu căn cứ làm nơi đứng chấn cho nghĩa quân cũng được
chú trọng. Như các căn cứ Hòn Chông (Rạch Gía), Cái Nước (U Minh) của
nghĩa quân Nguyên Trung Trực, căn cứ Long Điền (Trà Vinh) của Nguyễn
Minh Đường, căn cứ Lánh Linh (Bảy Núi) của Trần Văn Thành …
Từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, cách mạng Việt Nam đã
bước sang một trang mới, Đảng được trang bị cả lý luận và thực tiễn cách
mạng để lãnh đạo nhân dân dành độc lập dân tộc. Đặc biệt, vấn đề xây dựng
căn cứ địa, hậu phương cực kì được chú trọng. Các an toàn khu được thiết lập
nhầm bảo vệ cơ quan đầu não của ta, điển hình là Việt Bắc. Riêng tại Nam bộ
thời kì kháng chiến chống Pháp mà đặc biệt sau khi khởi nghĩa Nam Kì

dưới sự kiểm soát của chính quyền Sài Gòn, nhưng người dân miền Nam
cũng như Nam Bộ đã được sống và hiểu được tính ưu việt của chế độ dân chủ
nhân dân, nên nhân dân một lòng ủng hộ cách mạng.
Trong lòng xã hội toàn miền Nam lúc này bộc lộ rõ mâu thuẫn giữa
nhân dân với chính quyền do Mỹ dựng lên. Bên cạnh đó còn nổi lên mâu
thuẫn giữa Pháp - Mỹ trong việc giành dật miền Nam, giữa tướng tá, chính
khách thân Pháp với chế độ tay sai mà Mỹ thiết lập.
Để hiện thực hóa âm mưu của mình, Mỹ tiến hành một loạt các thủ
đoạn:
Đầu tiên là việc Mỹ từng bước loại thực dân Pháp và các thế lực thân
Pháp: Ngày 7-7-1954, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền và cung
một lúc Ngô Đình Diệm giữ ba chức vụ chủ chốt là Thủ tướng, Tổng trưởng

12


quốc phòng, kiêm Tổng trưởng nội vụ. Chức Tổng trưởng ngoại giao được
giao cho Ngô Đình Nhu. Tiếp đó, một loạt các tướng tá thân Pháp bị loại ra
khỏi chính quyền, ngược lại những sĩ quan ngả theo Ngô Đình Diệm thì được
“thăng cấp, thăng chức”. Chỉ chưa đầu hai năm sau Hiệp định Giơnevơ, Mỹ
đã sử dụng Ngô Đình Diệm để hoàn toàn gạt Pháp ra khỏi miền Nam Việt
Nam, cả về chính trị lẫn quân sự
Tiếp đến là việc củng cố chế độ Ngô Đình Diệm: Mỹ đã giúp Ngô Đình
Diệm một cách toàn diện để dựng lên ở miền Nam Việt Nam một chính phủ
thân Mỹ và chống cộng. Mỹ cải tổ toàn diện quân đội miền Nam từ hình thức
đến nội dung, xóa hết mọi vết tích của thời Pháp. Từ 1955, việc huấn luyện
theo kiểu Mỹ bắt đầu. Bắt đầu từ đầu năm 1955, Ngô Đình Diệm bắt đầu thực
hiện cuộc cải cách điền địa trên toàn miền Nam, cùng với đó chính quyền
Diệm còn lập các khu dinh điền, chôt sâu vào các khu căn cứ kháng chiến cũ,
các tuyến chiến lược của ta.

biểu tình, bãi thị… và đã được đông đảo nhân dân hưởng ứng.
Từ giữa năm 1955, Ngô Đình Diệm bắt đầu thi hành chính sách “tố
cộng, diệt cộng” trên toàn miền Nam. Song song với các cuộc ruồng bớ, bắt
bớ người kháng chiến cũ đi tập kết, chúng tập kết dân theo xóm ấp hoặc khu
phố để tổ chức những buổi “học tập tố cộng”, bắt ép nhân dân xé ảnh Chủ tịch
Hồ Chí Minh, xé cờ đỏ sao vàng, cờ búa liềm, hô khẩu hiệu chống cộng …
Tuy nhiên, chúng vấp phải sự chống đối quyết liệt của nhân dân Nam bộ cũng
như toàn miền Nam. Cuộc cuộc đấu tranh chống tố cộng diễn ra ở khắp nơi.
Cách làm phổ biến của quần chúng là tẩy chay không tham gia, hoặc đưa trẻ
em đi thay, đến nơi tạo không khí ồn ào, mất trật tự…
Phong trào đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ gắn liền với các
phong trào đòi dân sinh dân chủ của các tầng lớp quần chúng. Ngoài ra còn

14


các phong trào đấu tranh giữ ruộng đất của nông dân, phong trào trên trận địa
báo chí, băn nghệ của các tầng lớp trí thức…
Từ tháng 7 năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm đẩy mạnh chiến
dịch “tố cộng, diệt cộng” trên toàn miền Nam, đánh phá có chiều sâu, hòng
quét sạch cơ sở của Đảng, bắt nhân dân phải theo Mỹ - Diệm. Thực hiện mục
đích đó, Mỹ tiến hành xây dựng chế độ thực dân mới bằng hai biện pháp: một
là, củng cố cơ sở chính trị và kinh tế của chính quyền; hai là, củng cố, xây
dựng quân đội làm chỗ dựa cho chính quyền…
Cùng với việc tăng cường xây dựng quân đội, Mỹ cũng không ngừng
đầu tư xây dựng lực lượng công an, cảnh sát, an ninh, mật vụ ngụy thông qua
phái đoàn Trường Đại học Michigân. Năm 1957, Mỹ cung cấp cho ngành an
ninh, cảnh sát Sài Gòn hàng chục xe zíp, đưa hàng trăm cố vấn công an, mật
vụ sang miền Nam.
Song song với việc xây dựng lực lượng vũ trang, kiện toàn bộ máy chỉ

vùng chiến lược quan trọng, ven đô thị và các trục giao thông lớn.
Đi đôi với việc dồn dân, lập các khu dinh điền và khu trù mật, Diệm Nhu tiến hành chương trình “cải biến nông thôn” tương đối toàn diện, lấy việc
thực hiện chính sách “cải cách điền địa” làm khâu trung tâm để mua chuộc,
tiến tới nắm chặt nông dân. Năm 1957, Mỹ - Diệm còn áp dụng rộng rãi
chương trình này trên toàn miền Nam và coi đó là một trong những biện pháp
quan trọng để thiết lập chế độ thực dân mới.
Bên cạnh việc thực hiện “cải cách điền địa”, tháng 4 năm 1957, Mỹ Diệm đề ra chính sách “Tái định cư và cứu tế dân di cư” trong các “dinh điền”
nhằm mục đích an ninh nhiều hơn là kinh tế tạo nên những “vành đai sống” để
ngăn cách các trung tâm đông dân cư với những vùng căn cứ miền núi của ta.
Ngoài ra, để bù đắp phần nào ngân sách thâm hụt, tháng 3 năm 1957,
chính quyền Nam Việt Nam ban hành chính sách thuế mới đánh vào tất cả các
mặt hàng như: thuế sản xuất, thuế công quán, thuế giản thu… Ở địa phương,

16


chính quyền cơ sở địch cũng tự đặt ra nhiều thứ thuế như: thuế chợ, thuế ánh
sáng, thuế đường xá giao thông…
Những hành động khủng bố tàn bạo cùng các chính sách thâm độc về
kinh tế, chính trị, quân sự của Mỹ - Diệm đã gây ra những tổn thất to lớn về
mọi mặt cho nhân dân miền Nam, trong đó có Nam Bộ. Hàng nghìn người bị
chết trong khủng bố, hàng trăm người bị thảm sát trong các nhà tù, hàng vạn
công nhân thất nghiệp, nhà máy đóng cửa… Đảng bộ Nam Bộ bị tổn thất,
hàng loạt chi bộ, cơ sở đảng bị phá vỡ, đảng viên bị bắt và bị sát hại … Cách
mạng bị dìm trong biển máu, bị đẩy vào bước khó khăn chưa từng thấy, trải
qua một thời kỳ thoái trào tưởng chừng không gượng dẩy nổ.
Tháng 8 năm 1956, đồng chí Lê Duẩn, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ hoàn thành bản Đề cương
cách mạng miền Nam.
Nội dung bản Đề cương nêu rõ nhiệm vụ chung của cả nước là tiến

phong trào cách mạng ở khắp các địa phương từ thành thị đến nông thôn
Đông Nam Bộ, Trung Nam Bộ, Tây Nam Bộ, Tây Nguyên đầu đẩy mạnh đấu
tranh chống địch khủng bố, đàn áp, đánh phá cách mạng của địch, trong đó
đấu tranh chống “tố cộng, diệt cộng” là điển hình.
Mở đầu cuộc đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ là cuộc biểu tình
ngày 1/5/1957 của 27 vạn công nhân, lao động và nhân dân Sài Gòn đòi tăng
lương cho công nhân viên chức, binh lính cảnh sát, chấm dứt nạn đuổi nhà,
chống sa thải, giải quyết nạn thất nghiệp.
Để chống lại âm mưu dồn dân lập khu trù mật, đầu năm 1957, thực
hiện chủ trương của Hội nghị Xứ ủy mở rọng, Xứ ủy Nam bộ chỉ đạo các địa
phương đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị địa phương của quần chúng,
cương quyết bám đất, không vào các khu tập trung của địch, chống lại “cải
cách điền địa” của Diệm, đòi các quyền tự do, cơm áo, dân sinh, dân chủ, tiến
tới hòa bình, thống nhất đất nước.

18


Dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy, nông dân Phước Long (Thủ Đức - Gia
Định) nổi dậy chống tên chủ Thuận cướp đoạt ruộng đất. Cuộc đấu tranh nhận
được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân Nam Bộ.
Ngày 31/3/1957, đại biểu các nghiệp đoàn công nông toàn tỉnh Gia
Định cùng với 300 đại biểu của nông dân 37 xã thuộc tỉnh Gò Công họp đại
hội, đồng tình với cuộc đấu tranh của nhân dân Phước Long. Cuộc đấu tranh
giành được thắng lợi bước đầu và có sức cổ vũ to lớn của nhân dân Nam Bộ
trong các cuộc đấu tranh sau này.
Cùng với “cải cách điền địa”, chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện
chủ trương “giải tỏa đô thành” Sài Gòn, buộc những người sống ở những khu
lao động Sài Gòn phải rời khỏi nơi cư trú.
Kiên quyết không chịu rời nhà, cuối năm 1956 đầu năm 1957, phong

Đảng đã lãnh đạo nhân dân Nam Bộ vượt lên khó khăn, thử thách, chống lại
sự đàn áp của Mỹ - Diệm. Các phong trào hòa bình dân sinh, dân chủ chống
“tố cộng, diệt cộng” đã lôi cuốn hàng triệu lượt người tham gia. Lực lượng vũ
trang cách mạng dưới danh nghĩa các giáo phái ra đời ở các tỉnh miền Đông,
miền Tây và miền Trung Nam Bộ. Những căn cứ kháng chiến được củng cố,
giữ vững, căn cứ kháng chiến mới được thành lập…
1.3. ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC TỪNG BƯỚC KHÔI PHỤC VÀ
CỦNG CÓ LẠI CÁC KHU CĂN CỨ CŨ (TỪ THÁNG 7-1954 ĐẾN
1958)
Vấn đề xây dựng và củng cố lại các khu căn cứ địa sau kháng chiến đã
được Trung ương Đảng chú ý. Tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ sáu
(khóa II) họp từ ngày 15-7 đến 18-7-1954 về chuyển hướng công tác ở miền
Nam đã đề ra các công tác cụ thể đó là: “củng cố vùng tự do cũ” [47, tr.24].

20


Trích đoạn PHONG TRÀO ĐỒNG KHỞI CỦA NHÂN DÂN MIỀN NAM MỘT SỐ KINH NGHIỆM
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status