LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện làm khoá luận tốt nghiệp đại học của mình
em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy, cô giáo và các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn ThS Nguyễn Văn Dũng – giảng viên Khoa
Lịch sử đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện
đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn Viện nghiên cứu lịch sử Đảng,Thư viện
quốc gia Hà Nội, Thư viện quân đội, Thư viện trường Đại học sư phạm Hà
Nội 2.
Đã tạo điều kiện và tận tình giúp đỡ em thực hiện khóa luận tốt nghiệp
đại học của mình.
Hà Nội, tháng 4 năm 2013
SV Đinh Thị Hồng Luyến
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học do tự mình thực hiện với
sự hướng dẫn của thầy giáo – ThS Nguyễn Văn Dũng giảng viên Khoa Lịch
sử Trường ĐHSP Hà Nội 2. Nếu có gì sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 4 năm 2013
SV Đinh Thị Hồng Luyến
MỤC LỤC
Mở đầu ..................................................................................................... 1
Chương 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG KHỐI ĐOÀN KẾT
VIỆT NAM - LÀO - CAMPHUCHIA TRONG THỜI
KỲ 1945 - 1954 .................................................................... 8
1954 ................................................................................................ 28
Chương 2 ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG KHỐI ĐOÀN KẾT
VIỆT NAM – LÀO – CAMPUCHIA TRONG THỜI KỲ
1954 – 1975 ........................................................................... 37
2.1.
Bối cảnh lịch sử ................................................................... 37
2.2.
Đường lối của Đảng về xây dựng khối đoàn kết Việt Nam
– Lào – Campuchia trong thời kỳ 1954 – 1975 .................. 40
2.3.
Sự vận dụng đường lối của Đảng trong việc xây dựng
khối đoàn kết Việt Nam – Lào – Campuchia trong thời kỳ
1954 – 1975 .................................................................................... 48
Chương 3
MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM .... 74
3.1.
Nhận xét ............................................................................... 74
3.2.
đến thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước
của dân tộc ta. Đúng như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976) của
Đảng đánh giá: thắng lợi của chúng ta cũng là thắng lợi của tình đoàn kết
chiến đấu không gì lay chuyển nổi của nhân dân ba nước Việt Nam - Lào Campuchia của mối quan hệ đặc biệt đã có từ lâu trong lịch sử và được thử
thách trong ngọn lửa cách mạng chống kẻ thù chung của ba dân tộc. Và đây
cũng là bài học kinh nghiệm quý báu của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh
đạo của Đảng.
Ngày nay, tình hình thế giới có nhiều thay đổi so với thời kỳ nhân dân
ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp cũng như là cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước. Thế giới hiện nay, vận động trong những mối quan hệ
2
phức tạp, đầy mâu thuẫn và tác động qua lại lẫn nhau. Sự phát triển của cuộc
cách mạng khoa học công nghệ và xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá kinh tế
đang ảnh hưởng mạnh mẽ đối với sự phát triển của cách mạng nước ta. Nhiều
vấn đề trong nước và khu vực đang diễn ra hết sức đa dạng và phức tạp.
Trước tình hình đó, đòi hỏi Đảng ta phải biết vận dụng những bài học kinh
nghiệm trong lịch sử về phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh quốc tế nói
chung đoàn kết ba nước Việt Nam với Lào và Campuchia nói riêng, và công
cuộc đổi mới để đưa cách mạng đi đến thắng lợi.
Do vậy, nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng về xây dựng đoàn kết, liên
minh chiến đấu trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ từ năm
1945 đến năm 1975 là hết sức cần thiết. Nghiên cứu vấn đề đoàn kết, liên
minh Việt Nam với Lào và Campuchia giai đoạn 1945-1975 không chỉ có giá
trị lịch sử mà còn có giá trị hiện thực to lớn, đặc biệt trong công cuộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Thông qua đó,
chúng ta hiểu rõ hơn về nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo của
Đảng trong quá trình tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến thắng kẻ thù. Với lý
do đó, tôi chọn đề tài: “Đảng lãnh đạo xây dựng khối đoàn kết Việt Nam Lào - Campuchia trong thời kỳ 1945 - 1975” làm khóa luận tốt nghiệp đại
Chính trị quốc gia, Hà Nội; Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2003), Lịch sử
kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), tập VI, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội… Những công trình là nguồn tham khảo bổ ích định hướng tư tưởng
cho khóa luận.
- Nhóm luận án, luận văn, tiêu biểu có: Luận án tiến sĩ khoa học lịch sử
của Hoàng Trang (1995), Chiến lược đại đoàn kết của Đảng Cộng sản Việt
Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975).
4
- Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử, Phạm Đức Thắng (1995), Quan hệ
Việt Nam - Campuchia, lịch sử và xu hướng vận động; Luận văn thạc sĩ lịch
sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Văn Bạo (2001), Đảng lãnh đạo kết
hợp đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao giành thắng lợi quyết định trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ năm 1969 đến năm 1973. Luận văn
thạc sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Mậu Dũng (2007), Đảng Cộng
sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng đoàn kết, liên minh chiến đấu Việt Nam với
Lào và Campuchia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1965
đến năm 1975. Đó là những đề tài đã phần nào trình bày một cách có hệ thống
chính sách đại đoàn kết của Đảng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và
chống Mỹ, là những công trình để tôi tham khảo.
- Nhóm các bài nghiên cứu, tiêu biểu như: Tạp chí Lịch sử quân sự, số
1 (1988), Phạm Xanh, Đông Dương “Lọt vào mắt xanh của đế quốc Mỹ từ
bao giờ”; Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 3 (2002), Phạm Đức Dương,
Hồ Chí Minh với các nước láng giềng; Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số
4 (2002), Lê Đình Chỉnh, Vài nét về quan hệ Việt Nam – Lào trong thời kỳ
1954 – 1975; Tạp chí Lịch sử Đảng, số 5 (2007) PGS.TS Nguyên Thanh Tâm,
Liên minh chiến đấu Việt – Lào – Campuchia trong kháng chiến chống thực
dân Pháp (1945-1954); Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 4 (2007),
Nguyễn Viết Bình và Lê Văn Phong, Liên minh chiến đấu Lào – Việt trong 30
liên minh chiến đấu Việt Nam với Lào và Campuchia. Rút kinh nghiệm từ
quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng đoàn kết, liên minh chiến đấu ba nước
Đông Dương trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ từ năm
1945 đến năm 1975.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng trong việc xây dựng
khối đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa ba nước Việt Nam, Lào và
Campuchia trong thời kỳ 1945 - 1975.
6
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
Để phục vụ cho đề tài nghiên cứu, khóa luận sử dụng các nguồn tư liệu
sau đây: Trước hết là các văn kiện, các nghị quyết, chỉ thị,…của Đảng. Khóa
luận còn sử dụng nguồn thông tin từ các cuốn sách và những công trình có
liên quan bao gồm sách chuyên khảo, lý luận, luận văn hay báo chí, tập kỷ
yếu khoa học, các luận văn, luận án…
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài của khóa luận được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận
của chủ nghĩa Mác – Lênin.
Khóa luận sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic và sự kết
hợp giữa hai phương pháp đó. Đồng thời, sử dụng các phương pháp khác như:
phân tích, quy nạp, so sánh… để làm rõ nội dung nghiên cứu.
5. Đóng góp của khóa luận
Thông qua nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng về xây dựng đoàn kết, liên
minh chiến đấu giữa Việt Nam với Lào và Campuchia trong hai cuộc kháng
chiến chống Pháp và chống Mỹ, khóa luận đã góp một phần vào việc tổng kết
một nội dung quan trọng trong thời kỳ đặc biệt của cuộc kháng chiến chống
Pháp và chống Mỹ từ năm 1945 đến 1975 của nhân dân ba nước Đông Dương.
động ở các dân tộc bị áp bức, bóc lột nhằm tạo sức mạnh vô địch chiến thắng
chủ nghĩa tư bản.
Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản chuyển sang chủ nghĩa đế quốc, khi
mà hệ thống thuộc địa của chúng bao chùm khắp thế giới thì vấn đề dân tộc
càng trở nên cực kỳ quan trọng trong cuộc cách mạng vô sản.
Trong điều kiện mới, V.I.Lênin chỉ rõ: vô sản tất cả các nước và các
dân tộc bị áp bức đoàn kết lại. Khẩu hiệu đó là lời hiệu triệu đoàn kết quốc tế
của giai cấp công nhân tất cả các nước, động viên hàng triệu quần chúng bị áp
bức bóc lột trên thế giới đấu tranh chống sự xâm lược, nô dịch của chủ nghĩa
đế quốc.
V.I.Lênin đã chỉ ra cách mạng giải phóng dân tộc phải gắn liền với cách
mạng vô sản. Người còn khẳng định động lực của cách mạng vô sản trong
9
thời kỳ mới là sự liên minh giữa giai cấp vô sản các nước và các dân tộc bị áp
bức trên toàn thế giới. Người đánh giá cao yếu tố dân tộc và vai trò của nó
trong sự thắng lợi của cách mạng vô sản. Đồng thời vẫn khẳng định vấn đề
dân tộc chỉ có thể giải quyết thắng lợi nếu đem gắn với cuộc cách mạng
vô sản.
Nắm vững bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin,
hiểu sâu sắc thực tiễn cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
đã sớm nhận thức được sức mạnh to lớn của dân tộc. Đó là truyền thống tốt
đẹp, những tinh hoa văn hóa của dân tộc Việt Nam, những thành tựu cách
mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó là sức mạnh của lòng yêu nước, ý chí tự
lực tự cường và sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân, sức mạnh của con người,
của chế độ xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, Người cũng khẳng định sức mạnh đó
sẽ được nhân lên nhiều lần khi biết đoàn kết với các nước láng giềng, đoàn
kết quốc tế, để tạo thành sức mạnh tổng hợp chiến thắng mọi kẻ thù.
Nguyễn Ái Quốc đã tiếp xúc với bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận
mạng và quần chúng bị áp bức đoàn kết lại. Người khẳng định: vì hòa bình
thế giới, vì tự do, những người bị bóc lột mọi chủng tộc đoàn kết lại và chống
áp bức. Để tăng cường đoàn kết các dân tộc áp bức ở châu Á, từ kinh nghiệm
thành lập tổ chức “Hội liên hiệp thuộc địa” ở Pháp trước đây, Nguyễn Ái
Quốc tiến hành thành lập “Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông”.
Ngày 9-7-1925, tại Quảng Châu – Trung Quốc, “Hội liên hiệp các dân
tộc bị áp bức Á Đông” được thành lập. Tôn chỉ của hội ghi rõ: “Liên lạc với
các dân tộc bị áp bức cùng làm cách mạng nhằm đánh đổ đế quốc”. Tuyên
ngôn của Hội nhấn mạnh: con đường duy nhất để xóa bỏ áp bức chỉ có thể là
liên hiệp các dân tộc nhỏ yếu bị áp bức và giai cấp vô sản toàn thế giới, áp
dụng những phương pháp cách mạng để lật đổ về căn bản chủ nghĩa đế quốc
cực kỳ hung ác. Đến đây cho thấy việc đoàn kết các dân tộc thuộc địa thành
một mặt trận, là tư tưởng nhất quán của Nguyễn Ái Quốc.
11
Với vị trí của bán đảo Đông Dương, chủ nghĩa đế quốc luôn coi đây là
một địa bàn chiến lược, thống nhất về chính trị, quân sự và đặt trong một
chiến lược chung. Chính vì vậy, khi hoạch định đường lối cách mạng giải
phóng dân tộc, Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt
của tình đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa ba nước Đông Dương.
Trong những năm từ 1921 đến 1926, các bài viết về Đông Dương của
Người đã vạch trần tội ác của kẻ thù và chỉ rõ: nguyên nhân đầu tiên gây ra sự
suy yếu của các dân tộc phương Đông, đó là sự biệt lập… Họ hoàn toàn
không biết đến những việc xảy ra ở các nước láng giềng gần gũi nhất của họ,
do đó họ thiếu sự tin cậy lẫn nhau, sự phối hợp hành động và sự cổ vũ lẫn
nhau. Từ năm 1926 đến 1928, Người mở nhiều lớp huấn luyện cán bộ chính
trị ở Quảng Châu và Uđon (Xiêm), nhiều cán bộ đã được Người phái về Việt
Nam, Lào, Campuchia hoạt động xây dựng cơ sở nhờ đó chủ nghĩa Mác Lênin được truyền bá vào Việt Nam, Lào, Campuchia. Cùng với sự chuẩn bị
về chính trị tư tưởng, tổ chức cho việc thành lập Đảng ở Việt Nam, Nguyễn
Đông Dương đều là những quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc dù lớn hay bé đều
có lòng tự tôn dân tộc một cách chính đáng và dễ bị mặc cảm. Hơn nữa, bọn
thực dân xâm lược bao giờ cũng dùng chính sách chia để trị. Chúng dùng mọi
thủ đoạn để chia rẽ nhân dân ba nước, và chia rẽ các dân tộc. Cho nên hòn đá
tảng trong quan hệ dân tộc trong tư tưởng và hành động của Người là đoàn
kết giúp đỡ, tôn trọng lẫn nhau để tránh kẻ thù xâm lược.
Tại Hội nghị cán bộ Mặt trận Liên minh nhân dân Việt Nam - Lào Campuchia, Hồ Chí Minh nói: “Việt Nam đoàn kết chặt chẽ, cả ba nước đoàn
kết nhất định sẽ đánh bại bọn thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ, giành
độc lập tự do thực sự. Đoàn kết ở đây, là đoàn kết trong lòng, đoàn kết
trong hành động, đoàn kết trong đấu tranh, chứ không đoàn kết miệng”
[26, tr.53-54].
13
Hồ Chí Minh cũng khẳng định: “Việt Nam có kháng chiến thành công
thì Lào, Miên mới thắng lợi và Lào, Miên có thắng lợi thì Việt Nam mới hoàn
toàn thắng lợi” [20, tr.85].
Để đảm bảo thống nhất bền vững trong liên minh Việt Nam - Lào Campuchia, Hồ Chí Minh sớm xây dựng những quan điểm, nguyên tắc liên
minh đúng đắn sáng tạo. Người khẳng định tình đoàn kết trong sáng giữa ba
dân tộc Việt - Lào - Campuchia là trên tinh thần quốc tế vô sản: “Việt Nam,
Lào, Campuchia như anh em một nhà, cả ba dân tộc đoàn kết chặt chẽ thì nhất
định sẽ đánh bại thực dân Pháp. Nhân dân Việt Nam hết lòng giúp đỡ nhân
dân Lào, nhân dân Miên một cách vô điều kiện. Sự thật thì chưa tìm ra chữ gì
để thay thế chữ “giúp”, chứ thực ra không phải là giúp, mà là làm nghĩa vụ
quốc tế” [20, tr.118].
Theo Hồ Chí Minh, khi giúp bạn phải nắm vững nguyên tắc dân tộc tự
quyết, việc gì cũng phải được bạn đồng ý rồi mới làm. Người giải thích, “giúp
bạn là tự giúp mình”, điều cốt lõi giúp bạn để bạn trưởng thành, tự làm lấy
mọi việc. Chủ tịch Hồ Chí Minh với bản lĩnh và trí tuệ uyên bác, luôn vận
dụng sáng tạo chủ nghĩa quốc tế trong sáng, kết hợp nhuần nhuyễn, đúng đắn
Nam – Lào – Campuchia là đoàn kết tương trợ giúp đỡ lẫn nhau nhưng luôn
luôn đề cao tính độc lập, chủ động của mỗi nước, coi đó là nguyên tắc đảm
bảo sự bền vững của liên minh. Đoàn kết quốc tế nói chung, đoàn kết ba nước
Đông Dương nói riêng theo tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa, vận dụng
sáng tạo và phát triển học thuyết Mác – Lênin trong điều kiện mới của cuộc
đấu tranh cho độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn
kết quốc tế, đoàn kết ba nước Đông Dương có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to
lớn, là nguyên tắc cơ bản, quan trọng cho Đảng, Nhà nước ta xác định đường
lối, chính sách đối nội đối ngoại đúng đắn. Đồng thời là phương hướng lớn
của cách mạng Việt Nam được thể hiện sâu sắc trong hai cuộc kháng chiến
chống Pháp và chống Mỹ.
15
1.1.2. Cơ sở thực tiễn
Đoàn kết giữa ba nước Việt Nam – Lào – Campuchia là truyền thống
của ba dân tộc.
Việt Nam, Lào và Campuchia là ba nước nằm trên bán đảo Đông
Dương, là những quốc gia độc lập có chủ quyền nhưng có mối quan hệ mật
thiết với nhau một cách tự nhiên. Mối quan hệ đó là do những điều kiện khách
quan về địa lý, lịch sử, văn hóa của các quốc gia quy định, nó trở thành nhu
cầu tất yếu của ba nước trên bán đảo Đông Dương.
Mỗi quốc gia trên bán đảo Đông Dương đều có điểm khác nhau, song
có điểm chung nhất đều là những quốc gia nằm kề bên nhau trong vùng khí
hậu nhiệt đới, ở vị trí chiến lược quan trọng của vùng Đông Nam Á, cùng
chung dãy Trường Sơn và dòng sông Mê Công trải dài nối liền ba nước. Do
quá trình hình thành lịch sử một cách tự nhiên của bán đảo Đông Dương nên
đã tạo cho ba dân tộc có những nét tương đồng về kinh tế, văn hóa xã hội. Về
kinh tế đều là những quốc gia có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, cả ba dân
tộc đều bị sự thống trị của các triều đại phong kiến kéo dài hàng thế kỷ, nếu
ba nước lúc đó chỉ mang tính chất tự phát, không có một chiến lược và sách
lược cụ thể nào.
Sau thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga (năm 1917), Hồ Chí
Minh là người cộng sản đầu tiên truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Đông
Dương, đã đưa đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930
mà sau này đổi tên là Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 10 - 1930).
Đây là sự kiện lịch sử có ý nghĩa rất quan trọng với phong trào cách
mạng ba nước Đông Dương bởi ngay trong cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã
chỉ rõ: giai cấp vô sản và tất cả quần chúng bị áp bức trong ba xứ đó muốn
đánh đổ bọn chủ nghĩa đế quốc, lấy lại độc lập, đánh đổ vua quan địa chủ để
giải phóng cho mình, thì không thể nào đấu tranh riêng lẻ được. Đảng Cộng
sản Việt Nam ra đời đã đặt cách mạng ba nước trong một chỉnh thể thống nhất
17
gắn bó với nhau vì mục tiêu chung là chống ách thống trị của thực dân Pháp.
Từ đó, cuộc đấu tranh của nhân dân ba nước Đông Dương bước vào một quá
trình mới có tổ chức hơn.
Từ tháng 10-1930, Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo đã mở ra
bước ngoặt mới trong quan hệ hợp tác, đoàn kết giữa các lực lượng yêu nước
và cách mạng ba nước Đông Dương. Sự hợp tác đó có cương lĩnh, mục tiêu
chiến lược và sách lược chung rõ ràng. Ngay từ đầu, Đảng Cộng sản Đông
Dương đã xác định tính thống nhất gắn bó của cách mạng ba nước Đông
Dương và nghĩa vụ quốc tế của cách mạng Việt Nam với cách mạng Lào và
Campuchia. Thực tế, mỗi bước trưởng thành của cách mạng Lào và
Campuchia đều không tách rời cách mạng Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Đông Dương, cách mạng ba nước Đông Dương đã phát triển
mạnh mẽ và giành được những thắng lợi to lớn trong năm 1945.
Ngày 30-10-1945, Hiệp định liên minh quân sự giữa chính phủ Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Ítxala và Hiệp định thành lập liên quân
cố đô của Lào, và ba tỉnh ở Hạ Lào là Paksé, Saravan và Áttôpơ. Ngay ở Trung
và Thượng Lào, lực lượng cách mạng cũng chỉ chiếm được các thành phố.
Quân Pháp vẫn còn ẩn náu tại các vùng nông thôn và rừng núi.
Ở Campuchia, sau khi Nhật đầu hàng, cơ sở Đảng bị tan rã nên không
có ai lãnh đạo nhân dân đứng lên giành chính quyền. Chính phủ Sơn Ngọc
Thành không còn chỗ dựa nên đứng chông chênh, không có một định hướng
chính trị nào cả.
Ở Pháp, ngay sau khi được đồng minh giải thoát khỏi ách chiếm đóng
của phát xít Đức thì những kẻ mới lên cầm quyền ở Pháp đã bộc lộ ngay ý đồ
trở lại đô hộ các nước thuộc địa cũ của chúng.
Ngày 24 - 3 -1945, tại Bra-da-vin, thủ đô của nước Cônggô (một thuộc
địa của Pháp ở Châu Phi), Đờ Gôn (De Gaulle) ra tuyên bố sẽ khôi phục lại
19
chế độ thuộc địa ở Đông Dương và sẽ tổ chức Liên bang Đông Dương gồm
năm xứ: Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Lào và Campuchia do một toàn quyền
Pháp đứng đầu gọi là “Cao uỷ Đông Dương”.
Ngày 2-9-1945 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời. Chính phủ
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kiểm soát toàn bộ đất nước Việt Nam từ Bắc chí
Nam. Nước Việt Nam đã thật sự trở về tay nhân dân Việt Nam và đã được
Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng tuyên bố cho thế giới biết nhưng bọn thực
dân Anh và Pháp không chịu thừa nhận.
Rạng sáng ngày 23-9-1945, được sự giúp đỡ của quân Anh, quân Pháp
đánh chiếm Sài Gòn và sau đó lần lượt đánh chiếm các tỉnh ở Nam Bộ. Nhân
dân Nam Bộ đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp. Đến ngày 19-121946, giặc Pháp lại đánh chiếm thủ đô Hà Nội. Cuộc kháng chiến toàn quốc
bùng nổ.
Sau khi đánh chiếm Sài Gòn, ngày 15-10-1945, quân Pháp theo quân
Anh nhảy dù xuống thủ đô PhnômPênh của Campuchia bắt Thủ tướng Sơn
Ngọc Thành và lập một chính quyền tay sai của chúng. Đất nước Campuchia
nhằm thực hiện cho kỳ được mưu đồ cướp nước một lần nữa. Chúng đặt ba
nước Đông Dương trong một chiến lược chung, coi ba nước là một chiến
trường do một Bộ chỉ huy thống nhất điều khiển nên rất cơ động trong việc
đánh phá các lực lượng cách mạng. Năm 1945, khi đánh chiếm tỉnh Tây Ninh,
chúng dùng một lực lượng từ Campuchia đánh xuống Gò Dầu phối hợp với
các lực lượng từ Sài Gòn tấn công lên, hình thành hai gọng kìm đánh vào các
lực lượng cách mạng. Thực dân Pháp chia cắt đất nước Việt Nam, bày trò
thành lập chính phủ Nam kỳ tự trị, thành lập các chính phủ bù nhìn nhằm thực
hiện âm mưu dùng người Việt đánh người Việt. Chúng gây chia rẽ lương
giáo, kích động các tôn giáo chống lại Việt Minh, chống lại Mặt trận đoàn kết
dân tộc đang chiến đấu vì độc lập tự do của tổ quốc. Đặc biệt thâm độc hơn,
21
chúng còn gây chia rẽ, khoét sâu hận thù dân tộc giữa người Khơme và người
Việt, xúi giục người Khơme ở một số nơi trên đất Việt và trên đất Campuchia
nổi dậy “cáp duồn” (chém Việt Nam) gây ra cảnh đầu rơi máu chảy, nhà cửa
bị đốt phá xóm làng trở nên tan tác.
Trước bối cảnh đó, nhân dân ba nước Đông Dương bắt đầu cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp trong những điều kiện cực kỳ khó khăn gian khổ,
ba nước đang nằm trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc. Liên Xô, các nước
xã hội chủ nghĩa mới ra đời ở Đông Âu, các lực lượng ủng hộ sự nghiệp giải
phóng dân tộc của nhân dân ba nước Việt - Miên - Lào thì ở rất xa, không thể
chi viện được gì. Mặt khác, thực dân Pháp có một đội quân nhà nghề, được
trang bị đầy đủ vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại, lại được các nước
đế quốc thực dân ủng hộ về mọi mặt nhất là đội quân Anh đang làm nhiệm vụ
tước khí giới quân đội Nhật ở miền Nam Đông Dương, còn lực lượng cách
mạng chỉ được trang bị những vũ khí thô sơ và chưa từng lâm trận nên cuộc
chiến đấu hoàn toàn không cân sức. Vì vậy, việc liên minh chiến đấu giữa
nhân dân ba nước Việt - Miên - Lào và tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của