BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Phạm Đức Thuận
CĂN CỨ TỈNH ỦY SÓC TRĂNG TRONG
KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC
(1954 – 1975)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Phạm Đức Thuận
CĂN CỨ TỈNH ỦY SÓC TRĂNG TRONG
KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC
(1954 – 1975)
Chuyên ngành: Lịch Sử Việt Nam
Mã số: 60 22 02 13
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ VĂN ĐẠT
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 5
1. Lý do chọn đề tài .............................................................................................................5
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ...........................................................................................6
3. Ðối tượng và phạm vi nghiên cứu ...............................................................................8
4. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................................8
5. Đóng góp của đề tài .......................................................................................................8
6. Bố cục của luận văn ........................................................................................................9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH CĂN CỨ TỈNH ỦY SÓC TRĂNG
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC
(1954 – 1975 ) ..... 10
1.1. Cơ sở lý luận ...............................................................................................................10
1.2. Cơ sở thực tiễn ...........................................................................................................11
1.3. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và truyền thống đấu tranh của nhân dân tỉnh
Sóc Trăng ...........................................................................................................................14
1.3.1. Điều kiện tự nhiên – Địa lý ................................................................................... 14
1.3.2. Về Kinh tế - xã hội ................................................................................................ 16
1.3.3. Truyền thống đấu tranh của nhân dân tỉnh Sóc Trăng .......................................... 20
1.4. Chủ trương xây dựng căn cứ của Đảng, Khu ủy và Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng .....22
CHƯƠNG 2 - QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CĂN CỨ TỈNH ỦY
SÓC TRĂNG TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954 –
1975) ............................................................................................................................ 25
2.1. Giai đoạn 1954 – 1967................................................................................................25
2.1.1. Xây dựng căn cứ địa .............................................................................................. 25
2.1.2. Hoạt động bảo vệ căn cứ ....................................................................................... 36
2.2. Giai đoạn 1967 – 1975................................................................................................50
quyết định sự tồn tại và phát triển căn cứ cách mạng ..................................................... 81
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 89
PHỤ LỤC ................................................................................................................... 92
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã để lại cho dân tộc ta nhiều bài học kinh
nghiệm quí giá. Trong đó, bài học về xây dựng hậu phương kháng chiến có ý nghĩa quan
trọng. Như V.I. Lênin từng nói: “Muốn tiến hành chiến tranh một cách nghiêm chỉnh,
phải có một hậu phương được tổ chức vững chắc”[22, tr. 90].
Trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, có một nội dung quan trọng là vấn đề căn cứ
địa và hậu phương, theo đó: “Căn cứ địa là nơi đứng chân xây dựng, là nguồn cung cấp,
tiếp tế, là bàn đạp tiến công của các lực lượng vũ trang cách mạng trong khởi nghĩa vũ
trang. Hậu phương là chỗ dựa, là nguồn chi viện nhân lực, vật lực và cổ vũ về tinh thần
cho tiền tuyến đánh giặc, là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh” [8,
tr. 360].
Tiếp thu học thuyết quân sự của chủ nghĩa Mác-Lênin và kế thừa truyền thống đấu
tranh chống ngoại xâm của cha ông ta trong lịch sử, Đảng ta luôn đặt vấn đề xây dựng hậu
phương lên hàng quan trọng bậc nhất, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt
Nam, nên đã nhân lên gấp bội sức mạnh của một dân tộc nhỏ bé, kinh tế còn nghèo nàn,
lạc hậu nhưng đủ sức đánh bại kẻ thù là một cường quốc. Một trong những chìa khóa tạo
nên sức mạnh của hậu phương chiến tranh Việt Nam là vấn đề xây dựng căn cứ địa. Chủ
tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn khởi nghĩa phải có căn cứ địa, muốn kháng chiến
phải có hậu phương”[8, tr 378].
Từ thực tiễn Việt Nam – một nước đất không rộng, người không đông, nền
thế hệ trẻ ngày nay.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Do tầm quan trọng của vấn đề hậu phương – căn cứ địa trong chiến tranh nên đề
tài này đã được sự quan tâm nghiên cứu rộng rãi của các lãnh tụ, tướng lĩnh, các cơ quan
nghiên cứu khoa học, các nhà khoa học… Những tác phẩm, bài viết, luận án…đề cập đến
vấn đề căn cứ địa ngày càng nhiều hơn, nội dung sâu sắc hơn.
Trong các tác phẩm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (1970), “Mấy vấn đề về
đường lối quân sự của Đảng ta” - Nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội và “Đường lối quân sự
của Đảng là ngọn cờ trăm trận trăm thắng của chiến tranh nhân dân ở nước ta” - Nhà
xuất bản Quân đội nhân dân - Hà Nội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trình bày về căn
cứ địa dưới góc độ lý luận, giải quyết một số vấn đề: Khái niệm căn cứ địa, các hình thức
phát triển từ thấp đến cao của căn cứ địa, cơ sở để xây dựng và vai trò của căn cứ địa trong
chiến tranh giải phóng.
6
Sau năm 1975, do nhu cầu bảo vệ tổ quốc, đề tài căn cứ địa được tiếp tục nghiên
cứu trên cả hai bình diện: lý luận, tổng kết và viết lịch sử.
Về lý luận, xuất hiện nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu trong và ngoài quân
đội, đáng chú ý là các bài của nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng: “Vài suy nghĩ về hậu
phương chiến tranh nhân dân Việt Nam” (Tạp chí lịch sử quân sự số 3/1993) và của nhà
nghiên cứu Sử học Văn Tạo: “Căn cứ địa cách mạng – truyền thống và hiện tại” (Tạp chí
lịch sử quân sự số 4/1995). Các bài viết này tiếp tục làm rõ những vấn đề lý luận về căn
cứ địa như: khái niệm, nguồn gốc, tính chất, đặc điểm… nêu bật những đặc trưng của căn
cứ địa ở Việt Nam nói chung và trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nói riêng.
Về tổng kết, có một số công trình quan trọng, tổng kết chung của cả nước có sách:
“Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945 – 1975) ( Bộ quốc phòng – Viện
lịch sử quân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997), sách “Hậu
phương lớn, tiền tuyến lớn trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975) (Nhà xuất
tiến trình chung của cuộc kháng chiến trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.
Phạm vi thời gian nghiên cứu được tính từ sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết
đến khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ và miền Nam hoàn toàn giải phóng (1954 – 1975).
Không gian đề cập của luận văn là vùng đất căn cứ địa Sóc Trăng qua từng giai đoạn
trên địa bàn huyện Mỹ Xuyên và huyện Mỹ Tú của tỉnh Sóc Trăng ngày nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là lý
luận về cách mạng giải phóng dân tộc và căn cứ địa để làm cơ sở nghiên cứu. Về phương
pháp chuyên ngành, luận văn vận dụng phương pháp lịch sử là chủ yếu, kết hợp với
phương pháp lôgic để dựng lại toàn bộ quá trình hình thành, phát triển và các hoạt động
chức năng của căn cứ địa ở Sóc Trăng với tất cả những diễn biến, sự kiện điển hình một
cách chân thực như nó từng có.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp liên
ngành, tiếp xúc các nhân chứng lịch sử, phương pháp so sánh lịch sử, phương pháp tổng
hợp, trên cơ sở khảo cứu các nguồn tư liệu… để nghiên cứu và trình bày luận văn.
5. Đóng góp của đề tài
Trên cơ sở tiếp thu những kết quả của các công trình nghiên cứu trước, luận văn góp
phần dựng lại toàn bộ quá trình hình thành, phát triển và những hoạt động của căn cứ địa
tỉnh ủy Sóc Trăng trong tiến trình của cuộc kháng chiến chống Mỹ dưới sự lãnh đạo
của Xứ ủy Nam Bộ và Đảng bộ địa phương các cấp. Từ đó, thấy được những giá trị và
kinh nghiệm mà nó để lại, bổ sung thêm vào những mảng còn trống trong nghiên cứu lịch
sử Việt Nam hiện đại, đặc biệt là lịch sử địa phương; góp phần vào nghiên cứu về chiến
8
tranh cách mạng nói chung và về căn cứ địa trong chiến tranh cách mạng nói riêng.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng giảng dạy lịch sử địa phương
ở Sóc Trăng, giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc. Từ đó, khơi dậy ý thức
nghĩa vũ trang thì trước hết phải chú ý đến vấn đề xây dựng căn cứ địa để làm nơi dự trữ
lực lượng cách mạng, hậu cần cách mạng, làm bàn đạp đấu tranh vũ trang và là trung tâm
thúc đẩy phong trào cách mạng.
Trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, có một nội dung quan trọng là vấn đề căn cứ
địa và hậu phương, theo đó: “Căn cứ địa là nơi đứng chân xây dựng, là nguồn cung cấp,
tiếp tế, là bàn đạp tiến công của các lực lượng vũ trang cách mạng trong khởi nghĩa vũ
trang. Hậu phương là chỗ dựa, là nguồn chi viện nhân lực, vật lực và cổ vũ về tinh thần
cho tiền tuyến đánh giặc, là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh” [8,
tr. 360].
Tiếp thu học thuyết quân sự của chủ nghĩa Mác-Lênin và kế thừa truyền thống đấu
tranh chống ngoại xâm của cha ông ta trong lịch sử, Đảng ta luôn đặt vấn đề xây dựng hậu
phương lên vị trí quan trọng bậc nhất, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt
Nam nên đã nhân lên gấp bội sức mạnh của một dân tộc nhỏ bé, kinh tế còn nghèo nàn,
lạc hậu, nhưng đủ sức đánh bại kẻ thù là một cường quốc. Một trong những chìa khóa tạo
nên sức mạnh của hậu phương chiến tranh Việt Nam là vấn đề xây dựng căn cứ địa. Chủ
10
tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn khởi nghĩa phải có căn cứ địa, muốn kháng chiến
phải có hậu phương” [8, tr. 378].
Từ thực tiễn Việt Nam – một nước đất không rộng, người không đông, nền
kinh tế nông nghiệp lạc hậu phải chống lại những tên đế quốc có nền công nghiệp và khoa
học kỹ thuật phát triển, có tiềm lực kinh tế và quân sự to lớn, Hồ Chí Minh xác định:
“thắng lợi phải đi đôi với trường kỳ, kháng chiến càng lâu dài và ác liệt, càng phải huy
động cao nhất sức người, sức của của căn cứ địa, hậu phương. Vì vậy, nhất thiết phải
xây dựng căn cứ, hậu phương vững mạnh, toàn diện về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh
tế, văn hóa…” [8, tr. 378].
Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong tác phẩm “Mấy vấn đề về đường lối quân sự của
Đảng ta” lý giải “căn cứ địa cách mạng là những vùng giải phóng xuất hiện trong vòng
vây của địch, cách mạng dựa vào đó để tích lũy và phát triển lực lượng của mình về mọi
tranh trên quy mô toàn tỉnh. Nhưng để chuẩn bị cho cuộc tổng nổi dậy công kích và khởi
nghĩa vào các căn cứ của địch, nhất là đánh vào thị xã Sóc Trăng cùng với cả nước tiến
công Xuân Mậu Thân 1968 thì Thường vụ tỉnh ủy Sóc Trăng đã quyết định di chuyển từ
căn cứ Gia Hòa về căn cứ Tỉnh ủy cũ ở rừng tràm Mỹ Phước – huyện Châu Thành (nay là
huyện Mỹ Tú) (Căn cứ Tỉnh ủy Bố Thảo trong kháng chiến chống Pháp là một tên gọi cũ
của khu rừng tràm Mỹ Phước) để chỉ đạo cuộc tổng tiến công tết Mậu Thân và lãnh đạo
nhân dân toàn tỉnh kháng chiến.
Như vậy, căn cứ địa ở nước ta nói chung, ở Nam Bộ nói riêng đa dang về hình thức.
Tùy điều kiện tự nhiên, xã hội, địa hình mà từng nơi, Đảng bộ các cấp đã lãnh đạo nhân
dân xây dựng căn cứ địa với dạng thức phù hợp, tạo nên sự phong phú, đa dạng về các loại
hình căn cứ địa ở nước ta
1.3. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và truyền thống đấu tranh của nhân dân
tỉnh Sóc Trăng
1.3.1. Điều kiện tự nhiên – Địa lý
Sóc Trăng là tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nằm trong vùng hạ lưu
sông Hậu, trên trục lộ giao thông thuỷ bộ nối liền thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh miền
Tây Nam bộ.
Về thời tiết Sóc Trăng ở vùng khí hậu nhiệt đới chịu ảnh hưởng gió mùa, hàng năm
theo mùa khô và mùa mưa rõ rệt, nhiệt độ trung bình hàng năm là 26,80C, ít khi bị bão lụt.
Lượng mưa trung bình trong năm là 1.846 mm, tập trung nhất từ tháng 8, 9, 10, thuận lợi
cho cây lúa và các loại hoa màu phát triển.
Về vị trí địa lý thì tỉnh Sóc Trăng, phía Đông Bắc giáp tỉnh Trà Vinh, phía Tây Bắc
giáp tỉnh Cần Thơ, phía Đông Nam giáp biển Đông và phía Tây Nam giáp tỉnh Bạc Liêu.
Diện tích tự nhiên là 3.200,27 km2; dân số 1.175.462 người, trong đó người Kinh 752.443,
người Khơ - me 349.935; người Hoa 72.644, còn lại 440 người là các dân tộc khác.
Địa lý hành chính của Sóc Trăng nhiều lần thay đổi theo sự biến thiên của lịch sử.
Vào năm Mậu Dần 1698, chúa Nguyễn sai Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược xứ
Đàng trong (Nam bộ) và tiến hành xác lập địa giới hành chính vùng đất này, lập thành phủ
Năm 1926 thực dân Pháp chia tỉnh Sóc Trăng thành 4 quận: Châu Thành, Kế Sách,
Long Phú và Phú Lộc. Năm 1932 Thống đốc Nam kỳ quyết định giải tán một số quận trong
các tỉnh Nam kỳ, trong đó có quận Phú Lộc, nhưng đến năm 1941, Thống đốc Nam kỳ
quyết định thành lập lại quận Phú Lộc.
Về phía ta, sau cách mạng tháng 8-1945, quận Phú Lộc được gọi là quận Thạnh Trị.
Trong kháng chiến chống Pháp, tỉnh Sóc Trăng có thêm quận Vĩnh Châu của tỉnh Bạc Liêu
15
giao qua. Sau đó ta nhập huyện Vĩnh Châu vào huyện Thạnh Trị lấy tên là Thạnh Trị. Thời
kỳ chống Pháp, Sóc Trăng có một số xã của tỉnh Rạch Giá và tỉnh Cần Thơ giao qua.
Năm 1955, thực hiện sự chỉ đạo của Liên Tỉnh ủy, tỉnh Sóc Trăng giao huyện Vĩnh
Châu cho tỉnh Bạc Liêu. Cuối năm 1957 tỉnh Sóc Trăng nhận thêm thị xã Bạc Liêu và các
huyện: Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Giá Rai của tỉnh Bạc Liêu và huyện Hồng Dân của tỉnh Rạch
Giá. Năm 1957 tỉnh Sóc Trăng sáp nhập 2 huyện Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu thành một huyện lấy
tên là Vĩnh Lợi - Vĩnh Châu, năm 1962 lại tách 2 huyện ra như cũ. Đầu năm 1958 huyện Kế
Sách sáp nhập về tỉnh Cần Thơ. Như vậy, vào thời gian này tỉnh Sóc Trăng có 2 thị xã (thị
xã Sóc Trăng, thị xã Bạc Liêu) và 7 huyện (Châu Thành, Long Phú, Thạnh Trị, Vĩnh Châu,
Vĩnh Lợi, Hồng Dân, Giá Rai).
Tháng 11 năm 1973, theo quyết định của Khu ủy Tây Nam Bộ, Sóc Trăng giao các
huyện Vĩnh Lợi, Hồng Dân, thị xã Bạc Liêu cho tỉnh Bạc Liêu (riêng huyện Giá Rai giao lại
cho tỉnh Cà Mau từ năm 1961).
Nghị định số 31/NĐ ngày 21-2-1976 của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa
Miền Nam Việt Nam qui định giải thể cấp khu, hợp nhất một số tỉnh. Tỉnh Sóc Trăng hợp
nhất với tỉnh Cần Thơ và thành phố Cần Thơ thành tỉnh Hậu Giang.
Trong kỳ họp lần thứ 10, khóa VIII Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam vào ngày 26 tháng 12 năm 1991, quyết định tách tỉnh Hậu Giang thành 2 tỉnh Sóc
Trăng và Cần Thơ. Tỉnh Sóc Trăng chính thức đi vào hoạt động vào đầu tháng 4 năm 1992,
gồm các huyện: Mỹ Tú, Kế Sách, Thạnh Trị, Mỹ Xuyên, Long Phú, Vĩnh Châu và thị xã
km, nội địa nhiều sông rạch, rất thuận lợi cho việc nuôi trồng các loại tôm, cua, cá... đã giúp
cho việc chế biến xuất khẩu ngày càng phát triển, thu được nhiều ngoại tệ cho tỉnh. Từ sau
tái lập tỉnh, việc nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thuỷ sản phát triển rất nhanh. Năm 1992 diện
tích nuôi trồng 19.800 ha, đến năm 2001 diện tích tăng lên 53.245 ha, trong đó diện tích
nuôi tôm dạt 49.300 ha: Xuất khẩu thủy sản có bước tiến vượt bậc từ 4,5 triệu đô-la năm
1992 lên 203,14 triệu đô-la năm 2001.
Về công nghiệp, dưới thời thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược Sóc Trăng trong
tình trạng chung của khu vực, có nền công nghiệp yếu kém, kéo dài hơn một thế kỷ. Sau
ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 30-4-1975, đất nước thống nhất, Đảng bộ Sóc Trăng
mới có điều kiện lãnh đạo phát triển nền công nghiệp địa phương phục vụ cho sản xuất nông
ngư nghiệp, xuất khẩu và đời sống nhân dân. Nhiều xí nghiệp chế biến tôm đông lạnh, nhà
máy xay xát công suất lớn, xí nghiệp sửa chữa cơ khí, nhà máy đường kết tinh, nhà máy
nước đá, xí nghiệp gạch Tuy-nen, trạm biến điện, nhà máy PP (kéo sợi ni-lon), nhà máy bia,
dịch vụ Bưu điện... đã được xây dựng, ngày càng mở rộng và phát triển. Các nghề truyền
thống như đan dát, dệt chiếu, làm bánh pía (Vũng Thơm), lạp xưởng... được phát triển.
17
Về giao thông vận tải, đã đầu tư nâng cấp, mở thêm nhiều tuyến đường thuỷ, bộ và
một số bến cảng, kho tàng v.v... đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc
phòng và phục vụ đời sống nhân dân. Hiện nay các tuyến đường đi các huyện trong tỉnh đã
tương đối hoàn chỉnh, hệ thống giao thông nông thôn xã, ấp được nối liền, giao lưu, kinh tế
xã hội được mở rộng. Hệ thống điện lưới quốc gia được đưa về tất cả trung tâm các xã trong
huyện. Hết năm 2001 toàn tỉnh có 126.482 hộ có điện sử dụng, đạt tỉ lệ 53,71%.
Việc quy hoạch xây dựng đô thị cũng được quan tâm. Thị xã Sóc Trăng và các thị
trấn, thị tứ ngày càng được mở rộng, nâng cấp khang trang. Trong thời gian mười năm từ
khi tái lập tỉnh, nhiều công trình phục vụ cho sản xuất, đời sống nhân dân như trường học,
bệnh viện, trụ sở làm việc, khu văn hóa, sân vận động, khách sạn,v.v... được xây mới.
Trên lĩnh vực bưu chính viễn thông, Sóc Trăng đã lắp đặt hệ thống tổng đài điện tử tự
động, bảo đảm thông tin nhanh chóng trong nước, quốc tế và các huyện, xã trong tỉnh.
phá, xây dựng và bảo vệ vùng đất này. Vì vậy, trải qua bao bước thăng trầm của lịch sử, ý
thức dân tộc, tinh thần yêu nước, đoàn kết chống giặc ngoại xâm ngày càng được củng cố
bền vững. Ở đây trong quá trình phát triển, cộng đồng ba dân tộc đã có mối quan hệ gắn bó
huyết thống, xây dựng nên tình thân ái, đùm bọc lẫn nhau trong cơn hoạn nạn, giúp đỡ nhau
trong lao động sản xuất, tôn trọng nhau trong sinh hoạt, phong tục tập quán, tự do tín
ngưỡng v.v... tạo nên cuộc sống hài hòa về kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng các dân
tộc. Đặc biệt, trong quan hệ giao tiếp, người dân lao động ở đây còn thể hiện đức tính quí
trọng nhân nghĩa, thẳng thắn, bộc trực, sống hào phóng, giản dị, tình cảm mộc mạc chân
thành, đó là bản tính truyền thống của người dân Nam bộ nói chung, của người dân Sóc
Trăng nói riêng.
Là vùng đất mới khai phá, nền kinh tế nông nghiệp đầy hấp dẫn. Do đó bọn địa chủ
quan lại phong kiến, thực dân Pháp đổ xô vào vùng đất này, chúng dùng mọi thủ đoạn để
cướp đất của nông dân, biến họ thành những tá điền phải mướn lại ruộng đất, nộp tô hoặc
suốt đời làm thuê cho địa chủ, đồng thời chúng tập trung khai thác, vơ vét nông sản, thu
nhiều lợi nhuận. Vì vậy, quá trình tập trung ruộng đất ở Sóc Trăng diễn ra với mức độ rất
nhanh. Đến năm 1936 đã có 70 điền chủ người Âu, chiếm 29.052 ha, bằng 15% đất canh
tác, số điền chủ bản xứ chiếm 177.000 ha, gần bằng 85%, chỉ còn 8.000 ha là của nông dân.
Chính vì thế trong xã hội nổi lên 2 mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa dân tộc ta với thực
dân Pháp xâm lược; giữa giai cấp nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến.
Tỉnh Sóc Trăng có nhiều tôn giáo như: Phật giáo với hai hệ phái, Nam tông (người
Khơ me) Bắc tông (người Kinh, người Hoa) Thiên chúa, Tin lành, Cao đài, phật giáo Hòa
hảo. Toàn tỉnh có 263 cơ sở thờ tự, 206 đình, miếu, 1 Hội Dòng nữ tu Mến Thánh Giá, 1
Cộng đoàn Nữ tu Chúa Quang Phòng, 2951 chức sắc, nhà tu hành, 8266; Chức việc và
19
583.679 Tín đồ, trong đó tín đồ phật giáo chiếm đa số. Đa số tín đồ các tôn giáo là người lao
động, có truyền thống yêu nước, nên khi Đảng có đường lối, chính sách phù hợp thì họ sẵn
sàng đi theo.
1.3.3. Truyền thống đấu tranh của nhân dân tỉnh Sóc Trăng
nghĩa dưới sự chỉ huy của ông Chương dũng cảm xông lên giết giặc. Quân địch bị đánh bất
ngờ nên đã nếm đòn thất bại. phong trào chống Pháp của anh em Đỗ Thừa Luông và Đỗ
Thừa Tự từ vùng U Minh Hạ đến Sóc Trăng cũng được đông đảo nhân dân tham gia.
Không chỉ bằng những cuộc đấu tranh chống giặc, nhân dân Sóc Trăng còn tham gia
những cuộc vận động yêu nước, vận động chính trị để giành độc lập cho dân tộc. Phong trào
yêu nước do các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn An Ninh khởi xướng đã lan
rộng đến Sóc Trăng. Hội kín "Thiên địa hội" xuất hiện ở ngay thị xã Sóc Trăng. Các phong
trào vận động yêu nước đó đã khơi dậy truyền thống bất khuất chống giặc ngoại xâm của tổ
tiên ta để lại.
Phát huy truyền thống của dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp là Đảng bộ tỉnh, nhân dân Sóc Trăng đã
làm nên những chiến thắng vẻ vang qua các chặng đường lịch sử, đặc biệt đã vùng lên
hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Nam kỳ, mà điển hình là cuộc nổi dậy của quân dân làng Hòa
Tú chống lại thực dân Pháp và bọn tay sai.
Tuy cuộc khởi nghĩa Nam kỳ bị địch khủng bố đẫm máu, nhưng nhân dân Sóc Trăng
vẫn giữ vững niềm tin mãnh liệt vào chiến thắng, cùng cả nước làm cuộc khởi nghĩa tháng
Tám năm 1945 thành công, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Bước vào cuộc kháng chiến 9
năm chống thực dân Pháp xâm lược với sức mạnh của lòng yêu nước, chí căm thù giặc sâu
sắc và tinh thần chiến đấu ngoan cường, quân dân Sóc Trăng đã góp phần cùng cả nước
đánh thắng kẻ thù hung bạo, buộc thực dân Pháp phải rút khỏi lãnh thổ Việt Nam.
Năm 1954, hòa bình lập lại chưa được bao lâu, đế quốc Mỹ lại tiếp tục can thiệp và
tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Nhân dân Sóc Trăng một lần nữa cùng cả
nước đứng lên làm cuộc kháng chiến vĩ đại suốt 21 năm. Kẻ thù lần này nguy hiểm, tàn bạo
gấp nhiều lần so với trước, chúng có đầy đủ phương tiện chiến tranh hiện đại và nhiều thủ
đoạn lừa mị nhân dân. Mặc dù vậy dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Đảng bộ Sóc Trăng đã lãnh đạo nhân dân trong tỉnh quyết chiến đấu không sợ hy sinh gian
khổ, người trước ngã, người sau xông tới tiêu diệt quân thù, thực hiện lời dạy của Bác Hồ
kính yêu "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", góp phần vào thắng lợi chung của cả nước,
giải phóng miền Nam và giải phóng quê hương Sóc Trăng ngày 30-4-1975.
Sóc Trăng trong thời kì kháng chiến chống Mỹ.
Thực hiện chủ trương của Trung ương, Xứ ủy về xây dựng căn cứ cách mạng, Tỉnh
ủy Sóc Trăng quyết định dời căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng từ căn cứ Bố Thảo trong thời kỳ
kháng chiến chống Pháp về đặt tại xã Gia Hòa – huyện Mỹ Xuyên, đây là khu vực tương
đối thuận lợi di chuyển vì gần cửa sông Bassac vì vậy lực lượng ta dễ di chuyển, bao quát
22
chiến trường Bạc Liêu, tiếp vận vũ khí, đặc biệt thuận lợi cho lối đánh du kích và phát động
chiến tranh trên quy mô toàn tỉnh.
Để chuẩn bị cho cuộc tổng nổi dậy công kích và khởi nghĩa vào các căn cứ của địch,
nhất là đánh vào thị xã Sóc Trăng cùng với cả nước tiến công Xuân Mậu Thân 1968.
Thường vụ tỉnh Ủy Sóc Trăng đã quyết định di chuyển từ căn cứ Gia Hòa về căn cứ tỉnh ủy
cũ ở rừng tràm Mỹ Phước – huyện Châu Thành để chỉ đạo cuộc tổng tiến công tết Mậu
Thân và lãnh đạo nhân dân toàn tỉnh kháng chiến. Lý do chọn căn cứ rừng tràm Mỹ Phước
làm nơi chỉ đạo Xuân Mậu Thân năm 1968 và làm nơi lãnh đạo kháng chiến lâu dài của
Tỉnh ủy cho đến năm 1975, lý do chọn Mỹ Phước làm căn cứ được Tỉnh ủy xác định:
Thứ nhất: Khu vực này gần với thị xã Sóc Trăng dễ dàng cho việc tiến quân vào và rút ra
nhanh chóng.
Thứ hai: Nơi tiếp giáp với các căn cứ đóng quân của địch như chi khu Phú Lộc, chi khu
Ngã Năm, chi khu Mỹ Tú, khu trù mật.
Thứ ba: Là nơi án ngữ cho rừng U Minh và ngăn chặn việc tiến quân đánh vào căn cứ Khu
ủy ở U Minh của địch.
Bên cạnh đó do căn cứ này có những yếu tố tiện lợi cho việc đóng quân với diện tích
rừng lớn liên thông với các nơi dễ cho việc đánh ra và rút vào rừng sâu an toàn. Nơi đây
vốn có truyền thống cách mạng, dễ liên lạc được với Liên tỉnh ủy Hậu Giang, Tỉnh ủy Cần
Thơ, Khu ủy khu 9. Chính những ưu thế này mà Tỉnh ủy quyết định chọn đây làm căn cứ
chỉ đạo chung cho toàn tỉnh. Dù trải qua nhiều cuộc bao vây càn quét, đánh phá nhiều lần
nhưng căn cứ vẫn giữa vững. Bên cạnh căn cứ rừng tràm Mỹ Phước còn có các căn du kích
của ấp, xã, huyện và căn cứ lưu động ở Ngang Dừa (Hồng Dân – Bạc Liêu). Với các căn cứ