336
Hình 4.1.5.b.Băng thông và các nhu cầu của các ứng dụng khác
4.1.6.Thời gian trễ trên mạng
-Thời gian trễ là khoảng thời gian gói dữ liệu di chuyển từ máy nguồn tới máy
đ
ín
h.Việc xác
đ
ị
nh
thời gian trễ của
đ
ư
ờ
ng
đ
i
giữa nguồn và
đ
ính
trong LAN và
WAN là rất quan trọng.Trong mạng Ethernet LAN ,nắm
đ
ư
ợ
c
thời gian trễ và
các tác
đ
ọ
ệ
n
xuống
đ
ư
ờ
ng
dây
và thời gian
đ
ể
NIC
ở
máy thu nhận biết
đ
ư
ợ
c
các xung
đ
i
ệ
n.Kho
ả
ng
thời gian
này gọi là khoảng thời gian của NIC,khoảng us
đ
mạng.Ví dụ :Nếu 3 Switch giữa 3 máy trạm
đ
ư
ợ
c
cấu hình
đ
úng
thì thời gian trễ
giữa hai máy trạm sẽ ít hơn là nếu giữa chúng
đ
ặ
t
một Router vì router thực
hiện chức năng phức tạp hơn,cần nhiều thơi gian xử lý hơn.Router phải xử lý
dữ liệu
ở
lớp 3 chứ không phải dữ liệu
ở
lớp 2 như Switch
4.1.7.Thời gian truyền của Ethernet 10Base-T
-Tất cả các mạng
đ
ề
u
có một thời bit hay còn gọi là một khe thời gian.Nhiều kỹ
thuật LAN như Ethernet chẳng hạn,
đ
-Thời gian truyền
đ
ư
ợ
c
tính bằng số lượng bit gửi
đ
i
nhân với thời bit tương
ứ
ng
của kỹ thuật mà bạn
đ
ang
sử dụng.Hay nói cách khác,thời gian truyền là
khoảng thời gian truyền hết một gói dữ liệu.Do
đ
ó
gói dữ liệu càng dài thì
khoảng thời gian này càng dài.
-M
ỗ
i một bít trong mạng Ethernet 10Mb/s có thời gian truyền là 100ns.
Đ
ây
chính là thời bit.Một byte bằng 8 bit .Do
đ
ó,m
ộ
ng
cáp
+Thời gian trễ do các thiết bị lớp 1,lớp 2 và lớp 3 dọc trên
đ
ư
ờ
ng
đ
i
4.1.8. Ích lợi của việc sử dụng Repeater
-Khoảng cách mà một mạng LAN có thể bao phủ bị giới hạn và sự suy hao của
tín hiệu.Khi tín hiệu di chuyển trên mạng nó sẽ bị suy hao do trở kháng của cáp
hay của môi trường truyền làm tiêu hao năng lượng tín hiệu . Ethernet Repeater
là một thiết bị hoạt
đ
ộ
ng
ở
lớp vật lý,nó khuếch
đ
ạ
i
và tái tạo lại tín hiệu trong
Ethernet LAN.Khi bạn sử dụng repeater
đ
ể
i
+Repeater cho phép kéo dài khoảng cách từ
đ
ầ
u
cuối -đến -đầu cuối
+Repeater làm tăng kích thước của miền
đ
ụ
ng
đ
ộ
và miền quảng bá
Hình:4.1.8.b.Mở rộng môi trường chia sẻ mạng LAN bằng repeater
4.1.9.Truyền song công
-Ethernet song công cho phép truyền một gói dữ liệu
đ
ồ
ng
thời nhận một gói dữ
liệu khác tại cùng một thời
đ
i
ể
m.Vi
ệ
c
trúc cáp
đ
ax
có nếu như môi trường truyền thỏa mãn
đ
ư
ợ
c
những tiêu chuẩn
Ethernet tối thiểu.
Đ
ể
truyền và nhận
đ
ồ
ng
thời, mỗi node phải kết nối vào một port riêng trên
switch. Kết nối song công có thể sử dụng chuẩn môi trường truyền của
10BASE-T, 100BASE-T hoặc 100BASE-FX
đ
ể
tạo kết nối
đ
ii
ể
m
-
n
đ
ầ
u
kia. Khi hai máy
đ
ư
ợ
c
kết nối như vậy sẽ tạo ra môi trường truyền không
có
đ
ụ
ng
đ
ộ
,
việc truyền và nhận dữ kiệu
đ
ư
ợ
c
thực hiện trên hai mạc
đ
i
ệ
n
của
hai cặp dây riêng biệt trong sơi cáp.
Trong mạng băng thông 10Mb/s trước
15 máy tính, trong đó có 6 server và 9 máy trạm. Mỗi segment sử dụng phơng
pháp truy cập CSMA/CD và duy trì lu lợng trong segment đó. Mỗi segment là
một miền đụng độ riêng.
Việc phân đoạn mạng cho phép phạm vi nghẽn mạch đợc thu nhỏ trong
phạm vi từng segment. Khi dữ liệu đợc truyền đi trong một segment, các thiết bị
341
trong cùng segment đó chia sẻ toàn bộ băng thông của segment đó. Dữ liệu đợc
truyền giữa các segment sẽ đợc truyền lên đờng trục chính của mạng.
4.2.2. Phân đoạn của mạng bridge
Bridge là một thiết bị Lớp 2 thực hiện chuyển gói dựa trên địa chỉ MAC. Khi
bridge nhận frame vào từ một port, bridge sẽ đọc địa chỉ MAC, của máy gửi để
nhận biết đợc thiết bị nàop kết nối với port đó. Từ đó bridge xây dựng đợc bảng
chuyển mạch, trển đó ánh xạ từ địa chỉ MAC ra port tơng ứng. Những gói dữ liệu
nào không cần chuyển ra segment thì bridge sẽ chặn các gói đó lại.
Mặc dù hoạt động của bridge là trong suốt đối với các thiết bị mạng khác
nhng thời gian trễ vân tăng lên khoảng 10% đến 30% khi sử dụng bridge. Thời
gian trễ này là thời gian để bridge xử lý và quyết định chuyển gói. Bridge là một
thiết bị chuyển mạch dạng store and-forward.
Với kiểu chuyển mạch này, bridge phải kiểm tra địa chỉ đích và tính toán