Báo cáo khoa học: "Mô hình công nghiệp hoá h-ớng về xuất khẩu đối với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay" - Pdf 20

Mô hình công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu
đối với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ở nớc ta hiện nay

ThS. Bùi thị vân
Bộ môn Kinh tế chính trị
Khoa Mác Lênin, t tởng Hồ Chí Minh
Trờng Đại học GTVT

Tóm tắt: Báo cáo phân tích một cách tổng quan về mô hình công nghiệp hoá hớng về
xuất khẩu v thực trạng tiến trình thực hiện công nghiệp hoá ở nớc ta. Trên cơ sở đó, báo cáo
đa ra một số giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện mô hình công nghiệp hoá hớng về xuất
khẩu.
Summary: The writer analyzes an overview of the export industrialization model and the
actual situation of the industrialization process in Viet Nam. In the report some solutions to
promote the export industrialization model are proposed.
KT-ML
i. đặt vấn đề
Khoảng ba thế kỷ qua, lịch sử của các
nớc phát triển đã chứng minh rằng công
nghiệp hoá là tất yếu, là con đờng ngắn và
nhanh nhất cho sự phát triển kinh tế của một
đất nớc. Thế giới đã có nhiều lý thuyết và mô
hình công nghiệp hoá khác nhau nh: mô hình
công nghiệp hoá kiểu cổ điển, kiểu cơ chế kế
hoặch hoá tập trung, công nghiệp hoá thay
thế nhập khẩu, công nghiệp hoá hớng về
xuất khẩu. Sự phát triển "thần kỳ" về kinh tế
của một số nớc công nghiệp mới ở Châu á
nh Hàn quốc, Singapo, đã cho thấy tính u
việt của mô hình công nghiệp hóa hớng về

có thể và mang tính quyết định.
Mô hình công nghiệp hoá hớng về xuất
khẩu hay còn gọi là mô hình công nghiệp hoá
"hớng ngoại" dựa trên lý thuyết phát triển cơ
cấu ngành không cân đối hay các "cực tăng
trởng". Mô hình này hình thành trong bối
cảnh cuối những năm 60 và đầu những năm
70 của thế kỷ XX khi mô hình công nghiệp
hoá thay thế nhập khẩu biểu hiện không hiệu
quả, đồng thời do có sự thay đổi về quan hệ
quốc tế, xu hớng toàn cầu hoá phát triển, hệ
thống kỹ thuật, công nghệ, vốn đợc chuẩn bị
với quy mô lớn trên phạm vi toàn thế giới.
KT-ML
Mô hình công nghiệp hoá hớng về xuất
khẩu lựa chọn một cơ cấu kinh tế không cân
đối để hình thành các cực tăng trởng dựa
trên những lợi thế so sánh trong quan hệ
ngoại thơng. Khác với mô hình công nghiệp
hoá thay thế nhập khẩu, mô hình này đặt
trọng tâm phát triển vào những lĩnh vực có lợi
thế so sánh trên trờng quốc tế, sản xuất
những sản phẩm thị trờng thế giới cần, xây
dựng cơ cấu kinh tế và công nghiệp không
cân đối. Cơ chế thực hiện mô hình này kết
hợp cả thị trờng và điều tiết nhà nớc. Nhà
nớc đa ra hệ thống chính sách chủ yếu
nhằm khuyến khích tăng cờng xuất khẩu,
bảo đảm cho ngời sản xuất có lợi hơn nếu
bán sản phẩm ra nớc ngoài.

loan, HồngKông.
Nớc ta, trớc năm 1986, xuất phát từ
quan niệm xây dựng một nền kinh tế độc lập,
tự chủ là tự sản xuất để phục vụ nhu cầu tiêu
dùng trong nớc nên định hớng công nghiệp
hoá là "hớng nội". Kết quả của mô hình công
nghiệp hoá kế hoặch hoá tập trung cho thấy
nghịch lý: ý tởng của công nghiệp hoá
nghiêng về xây dựng cơ cấu kinh tế cân đối
nhng trên toàn bộ nền kinh tế lại bị mất cân
đối nghiêm trọng và khủng hoảng đã xảy ra
vào giữa những năm 80.
Từ năm 1986, chúng ta đã có bớc

chuyển căn bản về mô hình công nghiệp hoá:
" chúng ta chủ trơng xây dựng một nền kinh
tế mở, đa phơng hoá và đa dạng hoá quan
hệ kinh tế đối ngoại, hớng mạnh về xuất
khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu những
mặt hàng trong nớc sản xuất có hiệu quả (1).
Về nguyên lý phát triển cũng nh định
hớng mô hình công nghiệp hoá của Việt
Nam là đúng đắn, phù hợp với xu thế phát
triển của thời đại.
Tuy nhiên, thực trạng nền kinh tế Việt
Nam sau gần 20 năm đổi mới cho thấy cho
đến nay cơ cấu kinh tế nớc ta về cơ bản vẫn
là cơ cấu kinh tế thay thế nhập khẩu, sự điều
hành vẫn còn chủ yếu là thực hiện theo chiến
lợc thay thế nhập khẩu. Nhà nớc vẫn tiếp

khoáng sản là 23% (4).
Song những mặt hàng đóng góp phần lớn
vào giá trị xuất khẩu của nhóm hàng CN nhẹ
và tiểu thủ công nghiệp chủ yếu là những mặt
hàng hàm lợng gia công cao nh: Dệt, may,
giầy, dép, lắp ráp linh kiện máy tính
KT-ML
ở nhóm 2, nhóm 3 hầu hết mới chỉ là
xuất khẩu sản phẩm thô là chính, ít liên quan
đến việc cải tiến cơ cấu kỹ thuật.
Điều này đặt ra vấn đề trong thực hiện
mô hình công nghiệp hoá ở nớc ta: Xu hớng
cơ cấu nghiêng về
phía mở rộng thị
trờng nội địa hơn là
tăng xuất khẩu, xu
hớng này còn biểu
hiện cả ở khu vực đầu
t trực tiếp nớc
ngoài( FDI). Vốn FDI
hiện thân dới những công nghệ lạc hậu, sản
phẩm làm ra khó có khả năng cạnh tranh ở thị
Năm 2001 2002 2003 2004 2001-2004
Kim ngạch (Triệu
USD)
15.027 16.706 20.176 26.003 77.409
Tăng trởng (%) 104 111 121 129 115,81
DN 100% Vốn
trong nớc
8.228 8.834 10.015 11.742 38.319

định những ngành hàng u tiên phát triển,
những mặt hàng hớng về xuất khẩu có hiệu
quả, những mặt hàng có tơng lai, những mặt
hàng thay thế nhập khẩu có hiệu quả. Từ đó
Nhà nớc có sự điều chỉnh cơ cấu đầu t cho
thích hợp.
Xác định chiến lợc phát triển dựa trên
xuất khẩu những ngành hàng xuất khẩu có
hàm lợng lao động cao trong thời gian trớc
mắt đồng thời thực hiện chiến lợc đi tắt, đón
đầu, phát triển một số ngành kinh tế dựa vào
tri thức và công nghệ mới nhất. Nhà n
ớc cần
tăng cờng năng lực thực hiện trong việc tìm
kiếm, giữ vững, bảo vệ thị trờng xuất khẩu
cho các doanh nghiệp.
Cẫn có sự điều chỉnh kịp thời để có mức
tỷ giá hối đoái của đồng tiền Việt Nam mang
tính cạnh tranh hơn để khuyến khích xuất
khẩu, hạn chế nhập khẩu.
iii. Kết luận
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, quốc tế
hoá đời sống kinh tế thế giới diễn ra mạnh mẽ,
Việt nam muốn phát triển khi tham gia vào
"luật chơi" của các tổ chức nh AFTA, WTO,
hay trong quan hệ song phơng buộc phải
nhanh chóng nâng cao sức cạnh tranh của
nền kinh tế. Vì vậy, tiến trình công nghiệp hoá
ở nớc ta cần đợc đẩy mạnh theo mô hình
hớng về xuất khẩu. Bằng những giải pháp và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status