tăng trởng v quản lý tăng trởng
trong doanh nghiệp
ThS. Nguyễn quỳnh sang
Bộ môn Kinh tế xây dựng
Khoa Vận tải Kinh tế - Trờng Đại học GTVT
Tóm tắt: Báo cáo lm rõ tăng trởng trong doanh nghiệp v đa ra một số giải pháp khi
doanh nghiệp tăng trởng quá nhanh v quá thấp.
Summary: This report explains basic questions on the growth of enterprises and provides
some solutions for the too much growth and the too little growth of enterprises.
i. mở đầu
KT-ML
Tăng trởng và quản lý tăng trởng ngày nay là những vấn đề đặc biệt quan trọng trong
hoạch định tài chính, một phần bởi vì, ngày càng có nhiều doanh nghiệp xem tăng trởng giống
nh là tối đa hoá lợi nhuận. Họ viện lý do đơn giản rằng khi gia tăng tốc độ tăng trởng, gia tăng
thị phần thì lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ gia tăng nhanh chóng. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ tài
chính, tăng trởng không phải luôn là điều tốt đẹp một cách tuyệt đối. Nói rộng hơn, tăng trởng
có thể đặt các nguồn lực của một doanh nghiệp trong một trạng thái căng thẳng mà có thể dễ
dàng nhìn thấy đợc. Trong các doanh nghiệp xây dựng giao thông nói chung hiện nay doanh
thu năm sau bao giờ cũng tăng hơn năm trớc nhng đi kèm theo đó là các khoản nợ phải trả
cũng tăng nhất nhanh. Vì vậy, nếu các doanh nghiệp không nhận thức đợc sự ảnh hởng này
và tạo các bớc đi cần thiết để kiểm soát chúng, tăng trởng có thể dẫn đến phá sản. Một
doanh nghiệp có thể bị phá sản nếu tăng trởng quá nhanh hoặc quá chậm.
ii. tăng trởng l gì
Định nghĩa đơn giản nhất về tăng trởng là sự tăng lên của sản lợng hng hoá v dịch vụ
m sự tăng trởng ny đợc duy trì trong một thời gian di (Pramit Chaudhuri, Economic theory
of Growth. 1989). Nh vậy, tăng trởng của một doanh nghiệp là sự tăng lên của doanh số tiêu
thụ sản phẩm và dịch vụ trong một thời kỳ nhất định nào đó. Hay, tăng trởng có thể đợc hiểu
l mức độ phát triển cả về lợng v về chất của doanh nghiệp sau từng giai đoạn nhất định. Do
tới các hệ quả tài chính của vấn đề. Họ không nhận thức đợc rằng tăng trởng nhanh cũng có
những khó khăn riêng của nó; doanh nghiệp cng phát triển nhanh thì cng cần nhiều tiền, ngay
cả khi doanh nghiệp đang kinh doanh rất có lãi. Doanh nghiệp có thể đáp ứng trớc mắt nhu
cầu này bằng việc gia tăng đòn bẩy tài chính (tức gia tăng đòn cân nợ), nhng một khi doanh
nghiệp đã đạt tới giới hạn của nợ vay, các chủ nợ sẽ từ chối cho vay thêm và doanh nghiệp sẽ
rơi vào tình trạng thiếu tiền để thanh toán.
Tất cả các điều trên có thể tránh đợc nếu các doanh nghiệp nhận thức đợc rằng tăng
trởng quá mức tỷ lệ tăng trởng bền vững sẽ gây ra các khó khăn về tài chính. Cần đợc tiên
liệu trớc và đề ra hớng giải quyết thích hợp.
III. thực trạng tăng trởng trong các doanh nghiệp xây dựng giao thông
Thực tế hiện nay tốc độ tăng trởng ở hầu hết các doanh nghiệp xây dựng giao thông năm
sau cao hơn năm trớc cả về lao động, doanh thu, tổng vốn Có thể thây rõ qua báo cáo của
một số Tổng công ty xây dựng giao thông sau:
Đơn vị tính: Triệu đồng
Doanh thu Tốc độ tăng (%) Lao động Tốc độ tăng
(%)
Tên TCT
1999 2000 2001 2000/1999 2001/2000 1999 2000 2001 00/99 01/00
TCT thăng long 712.235 945456 1047879 33 11 6468 7301 9073 13 24
TCTXDCTGT 1 1114221 1341167 1500000 20 12 7706 8015 8663 4 8
TCTXDCTGT 4 876696 1395805 1438650 59 3 6137 6318 6636 3 5
TCTXDCTGT 5 571074 739420 1206942 29 63 7864 9408 14399 20 53
TCTXDCTGT 6 915477 966324 1143616 6 18 5352 5685 6242 6 10
TCTXDCTGT 8 698309 1687189 1316010 142 -22 7523 8027 8566 7 7
TCTXDCT thuỷ 550235 579060 701272 5 21 5071 5145 5493 1 7
Cộng 5438247 7654430 8354369 41 9 46121 49899 59072 8 18
Nhìn vào số liệu bảng trên cho thấy các chỉ tiêu doanh thu, lao động tăng bình quân của
các tổng công ty xây dựng giao thông năm 2001 so với năm 2000 là 9%, còn năm 2000 so với
doanh nghiệp có thể giảm xuống trong tơng lai gần do doanh nghiệp đã đạt mức bão hoà, thì
vấn đề này chỉ xảy ra tạm thời, đo đó có thể giải quyết bằng việc đi vay mợn thêm. Theo đó,
trong tơng lai, khi tốc độ tăng trởng thực tế giảm xuống nhỏ hơn tăng trởng bền vững, doanh
nghiệp sẽ chuyển từ kẻ tiêu tiền sang ngời tạo ra tiền và có thể trả đợc nợ vay. Đối với vấn đề
tăng trởng bền vững dài hạn, cần có một vài sự phối hợp một số giải pháp sau:
1. Huy động vốn cổ đông mới
Nếu một doanh nghiệp có ý định và có khả năng huy động vốn cổ đông mới bằng cách bán
thêm các cổ phiếu phổ thông, thì các vấn đề về tăng trởng bền vững của doanh nghiệp sẽ
không còn tồn tại. Khi vốn cổ đông tăng lên, cộng với số tiền có thể vay thêm, sẽ là các nguồn
tiền nhằm trợ giúp cho sự tăng trởng hơn nữa.
Vấn đề khó khăn đối với giải pháp này là không phải lúc nào cũng có thể thực hiện đợc.
Nhất là đối với nớc ta, thị trờng cổ phiếu rất kém phát triển. Vì vậy, để bán đợc cổ phiếu, các
doanh nghiệp phải làm các công việc vô cùng khó khăn và tốn kém để tìm ra từng nhà đầu t
một, có thiện ý mua các cổ phiếu mới. Đây là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn do không có thị
trờng chứng khoán hoạt động để giao dịch cổ phiếu, các nhà đầu t mới sẽ chỉ là những ngời
thiểu số sở hữu các cổ phiếu không thể mua bán đợc. Do đó, các nhà đầu t này chỉ quan tâm
mua lại các cổ phiếu mới do bà con và bạn bè đang sở hữu.
2. Gia tăng các đòn bẩy
Nếu việc phát hành ra các cổ phiếu mới không phải là giải pháp cho vấn đề tăng trởng
bền vững của doanh nghiệp, thì hai phơng thức tài chính còn lại có thể chấp nhận đợc.
Phơng thức thứ nhất l giảm tỷ lệ lợi nhuận chia cho các cổ đông (giảm hoặc không chia cổ
tức) và phơng thức thứ hai l gia tăng đòn bẩy ti chính (tăng nợ vay). Việc cắt giảm tỷ lệ chia
cổ tức để duy trì tăng trởng bền vững sẽ làm gia tăng tỷ lệ lợi nhuận giữ lại của doanh nghiệp,
trong khi gia tăng đòn bẩy tài chính bằng cách vay nợ thêm cũng sẽ góp phần vào sự gia tăng
trong lợi nhuận giữ lại của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc sử dụng các đòn bẩy tài chính cũng có
giới hạn nếu không doanh nghiệp sẽ luôn bị áp lực của các chủ nợ cho vay về khối lợng nợ
vay. Ngoài ra, một khi đòn bẩy tài chính gia tăng, những rủi ro mà các cổ đông và chủ nợ phải
gánh chịu cũng sẽ gia tăng, từ đó các chi phí phát sinh từ việc vay nợ cũng sẽ tăng theo.
KT-ML
trong nội bộ doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp thực hiện chiến lợc thuê ngoài, nó sẽ giải phóng
một số tài sản gắn liền với các hoạt động này, và nó sẽ làm tăng việc luân chuyển tài sản của
doanh nghiệp. Cả hai tác dụng này sẽ làm giảm bớt các khó khăn trong vấn đề tăng trởng.
6. Giá cả
Tồn tại mối quan hệ tơng hỗ rõ ràng giữa giá bán và lợi nhuận. Khi doanh thu tăng quá
cao làm ảnh hởng tới khả năng tài chính của doanh nghiệp thì cần thiết phải tăng giá bán để
làm giảm sự gia tăng của doanh thu. Nói việc tăng giá làm hệ số lợi nhuận ròng tăng thì cũng
đồng nghĩa với sự gia tăng tỷ lệ tăng trởng bền vững.
7. Sáp nhập có phải là một giải pháp?
Khi mọi giải pháp đều thất bại, thì điều cần thiết là cần phải tìm một doanh nghiệp có két
sắt không đáy. Có hai loại doanh nghiệp có khả năng đáp ứng nhu cầu tiền nếu trên. Thứ nhất
đó là các doanh nghiệp ổn định, hoạt động ít rủi ro, các doanh nghiệp có nguồn tiền mặt dồi dào
và đang muốn tìm kiếm các cơ hội đầu t có tỷ lệ sinh lời cao để tiêu thụ bớt tiền d. Loại doanh
nghiệp thứ hai là các doanh nghiệp có chính sách tài chính bảo thủ. Mua một công ty khác hoặc
sáp nhập vào một công ty khác là một giải pháp cứng rắn nhằm giải quyết các vấn đề khó khăn
trong tăng trởng.
KT-ML
V. Một số giải pháp khi tốc độ tăng trởng thực tế thấp hơn tốc độ tăng
trởng bền vững
Bớc đầu tiên là quyết định xem liệu tình trạng này là tạm thời hay lâu dài. Nếu là tạm thời,
thì đơn giản là đa các nguồn lực tích trữ ra để phục vụ nhu cầu tăng trởng đợc dự kiến trong
tơng lai.
Nếu tình trạng này mà kéo dài, thì cần xem xét việc tăng trởng thấp là vấn đề chung của
cả ngành kinh doanh - kết quả tất yếu khi thị trờng bão hoà - hay chỉ là vấn đề đơn độc của
doanh nghiệp. Nếu là vấn đề riêng của doanh nghiệp, các lý do của tăng trởng thấp và các
nguồn lực dự kiến phục vụ cho tăng trởng mới cần phải đợc tìm kiếm trong nội bộ doanh
nghiệp. Trong trờng hợp này doanh nghiệp cần xem xét kỹ tình hình hoạt động của doanh
nghiệp nhằm tháo gỡ các ràng buộc bên trong gây cản trở sự tăng trởng của doanh nghiệp, có
thể phải cải tổ cơ cấu tổ chức cũng nh gia tăng việc chi tiêu.
hoàn vốn cho các cổ đông chẳng khác nào tự thừa nhận tình trạng quản lý kém cỏi của mình.
3. Mua sự tăng trởng
Các nhà quản lý với tính hãnh tiến về khả năng quản lý của mình, với mong muốn giữ lại
những nhân viên chủ chốt, và làm vơi đi nỗi lo sợ những kẻ đảo chính thôn tính doanh nghiệp,
họ th
ờng dùng nguồn tiền d thừa để đa dạng hoá đầu t ra các doanh nghiệp khác, thờng là
các doanh nghiệp thuộc các ngành kinh doanh đang là trào lu. Do thời gian là một nhân tố
quyết định, cho nên thờng việc mua lại các doanh nghiệp đã có thời gian hoạt động đáng kể sẽ
đợc a chuộng hơn là các doanh nghiệp mới thành lập.
Lộ trình và hành động hợp lý đối với chơng trình mua lại một doanh nghiệp là một nhiệm
vụ nặng nề. Tuy nhiên, ở đây có hai quan điểm cần lu ý. Thứ nhất, rất quan trọng về nhiều
phơng diện, việc quản lý những khó khăn của vấn đề tăng trởng của các doanh nghiệp đã
bão hoà hay đang suy giảm là hình ảnh phản chiếu qua gơng của những doanh nghiệp đang
trên đà phát triển. Đặc biệt những doanh nghiệp có tốc độ tăng trởng thấp thờng tìm các giải
pháp sử dụng có hiệu quả các nguồn tiền d của mình, trong khi các doanh nghiệp đang có tốc
độ tăng trởng nhanh lại đi tìm giải pháp huy động thêm tiền để tài trợ cho tốc độ tăng trởng
nhanh nhng không bền vững của mình. Do đó, hoàn toàn hợp tự nhiên khi các doanh nghiệp
có tốc độ tăng trởng thấp và các doanh nghiệp có tốc độ tăng trởng cao đôi khi giải quyết việc
quản lý những vấn đề khó khăn trong tăng trởng bằng cách kết hôn với nhau. Theo đó, doanh
nghiệp thừa tiền thiết lập nên một tổ chức để có thể tài trợ vốn cho những doanh nghiệp đang
phát triển nhanh. Thứ hai, theo quan điểm của các cổ đông, mua sự tăng trởng là kém hơn rõ
rệt so với hoàn tiền lại cho các cổ đông. Liệu có hơn không khi kỳ vọng sự tăng trởng bằng
việc mua lại doanh nghiệp khác. Bởi vì sau khi bỏ ra một số tiền cần thiết để sở hữu một doanh
nghiệp khác, doanh nghiệp mua phải đối diện với việc đầu t có suất sinh lợi không đáng kể
thậm chí còn tệ hơn cả trớc kia.
Tóm lại, hiểu thực chất tăng trởng và quản lý tăng trởng trong các doanh nghiệp nói
chung và các doanh nghiệp xây dựng giao thông nói riêng là hết sức quan trọng. Với những nội
dung đã nêu trên tác giả hy vọng góp phần nhỏ giúp các doanh nghiệp đa ra đợc giải pháp
thích hợp để quản lý tăng trởng của doanh nghiệp mình.