i
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian thực tập tại ngân hàng TMCP Đông Á chi nhánh Nha
Trang, được sự tận tình giúp đỡ chỉ bảo của các anh chị trong phòng dịch vụ khách
hàng, đặc biệt là tổ kế toán và qua 4 năm học tập tại trường Đại học Nha Trang,
được sự tận tâm dạy bảo của quý thầy cô khoa kế toán tài chính của trường em đã
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp ngành tài chính
Nhân đây em xin chân thành cảm ơn:
Các quý thầy cô khoa kế toán tài chính của trường ĐH Nha Trang đã
trang bị cho em những kiến thức cơ sở và chuyên ngành quý giá để giúp em có thể
hoàn thành được báo cáo thực tập.
Ban giám đốc ngân hàng TMCP Đông Á chi nhánh Nha Trang, các anh
chị phòng dịch vụ, phòng kế toán đã cung cấp số liệu, thông tin cần thiết, tạo điều
kiện cho em học hỏi kinh nghiệm thực tế trong suốt thời gian qua.
Th.s Đặng Thị Tâm Ngọc giảng viên ngành kế toán, khoa kế toán tài
chính đã giúp đỡ hướng dẫn em tận tình về nội dung cũng như hình thức của khóa luận.
Với kiến thức và khả năng còn hạn chế cũng như chưa tích lũy nhiều kinh
nghiệm thực tế, bài khóa luận này chắc chắn không thể tránh khỏi sai sót. Vì vậy em
rất mong được sự góp ý và sửa chữa của quý thầy cô và các anh chị trong ngân hàng
để em hoàn thiện hơn kiến thức của mình
Em xin chân thành cảm ơn!
Nha trang, tháng 6 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Trương Thị Giang
ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
2.1. Khái quát về ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á chi nhánh Nha
Trang 16
2.1.1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển 16
2.1.2.Chức năng, nhiệm vụ của ngân hàng TMCP Đông Á chi nhánh Nha
Trang 18
2.1.3. Cơ cấu tổ chức quản lý của ngân hàng TMCP Đông Á chi nhánh
Nha Trang 20
2.1.4. Nghiệp vụ huy động vốn 28
2.2. Đánh giá khái quát hoạt động kinh doanh của ngân hàng TMCP Đông
Á chi nhánh Nha Trang 28
2.2.1 Tình hình chung về huy động vốn 30
2.2.1.1 Cơ cấu nguồn vốn huy động phân theo thành phần kinh tế 31
2.2.1.2 Cơ cấu nguồn vốn huy động phân theo loại hình huy động 34
2.2.2 Tình hình chung về hoạt động tín dụng 36
2.3 Thực trạng hoạt động huy động tiền gửi tại ngân hàng TMCP Đông Á
chi nhánh Nha Trang 39
2.3.1 Các sản phẩm huy động vốn tiền gửi của ngân hàng 39
2.3.2. Lãi suất hiện hành của Đông Á Bank 45
2.3.3 So sánh lãi suất tiền gửi của ngân hàng Đông Á và một số ngân
hàng khác 49
2.3.4 Biểu phí và Cách tính lãi suất của ngân hàng đông Á 51
2.3.5 Thực trạng huy động tiền gửi tại ngân hàng 52
2.4 Đánh giá công tác huy động tiền gửi 61
iv
2.4.1 Những kết quả đạt được 61
2.4.2 Một số hạn chế NH còn gặp phải trong công tác huy động vốn 63
2.4.5 Những khó khăn và thuận lợi của ngân hàng TMCP Đông Á chi
nhánh Nha Trang trong công tác huy động nguồn tiền gửi của ngân hàng 64
CHƯƠNG III : MỘT SỐ GIẢI PHAP NHẰM NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG
HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐÔNG Á CHI
Bảng 3: Cơ cấu nguồn vốn huy động phân theo loại hình huy động 34
Bảng 4: Tình hình chung về hoạt động tín dụng tại ngân hàng TMCP Đông Á
chi nhánh Nha Trang các năm 2009 – 2011 37
Bảng 5: Tình hình huy động vốn tại ngân hàng TMCP Đông Á chi nhánh Nha
Trang theo hình thức qua các năm 2009 – 2011 52
Bảng 6: Biến động tiền gửi theo loại tiền huy động tại ngân hàng TMCP Đông
Á chi nhánh Nha Trang các năm 2009 – 2011 54
Bảng 7: Biến động tiền gửi theo thời gian gửi tại ngân hàng TMCP Đông Á
chi nhánh Nha Trang các năm 2009 – 2011 56
Bảng 8: Biến động tiền gửi tiết kiệm theo kỳ hạn tại ngân hàng TMCP Đông Á
chi nhánh Nha Trang các năm 2009 – 2011 59 vii
DANH MỤC HÌNH
Biểu đồ 1: Cơ cấu nguồn vốn huy động vốn của DongA Bank nha trang phân
theo tổ chức trong nền kinh tế 32
Biểu đồ 2: Cơ cấu nguồn vốn huy động phân theo loại hình huy động 35
Biểu đồ 3: So sánh lãi suất tiết kiệm VND giữa các ngân hàng trong nước 49
Biểu đồ 4: So sánh lãi suất tiết kiệm USD giữa các ngân hàng trong nước 50
Biểu đồ 5: Tình hình huy động vốn tại ngân hàng TMCP Đông Á chi nhánh
Nha Trang theo hình thức qua các năm 2009 – 2011. 52
Biểu đồ 6: Biến động tiền gửi theo loại tiền huy động tại ngân hàng TMCP
Đông Á chi nhánh Nha Trang các năm 2009 – 2011 55
Biểu đồ 7: Biến động tiền gửi theo thời gian gửi tại ngân hàng TMCP Đông Á
chi nhánh Nha Trang các năm 2009 – 2011 56
Biểu đồ 8: Biến động tiền gửi tiết kiệm theo kỳ hạn tại ngân hàng TMCP
Đông Á chi nhánh Nha Trang các năm 2009 – 2011 59
dùng đến công cụ trần lãi suất nhằm mục tiêu giảm lãi suất cho vay giúp các doanh
nghiệp tiếp cận nguồn vốn thúc đẩy phát triển sản xuất. Điều này ảnh hưởng rất lớn
đối với hoạt động huy động vốn của các ngân hàng.(nguồn: http://dangcongsan.vn )
Việt Nam với phần đông dân số là những người dân lao động công chức nhà
nước, công nhân, nông dân, tiểu thương, những người có thu nhập ổn định vào đồng
lương. Và rất nhiều các doanh nghiệp… Đây là những khách hàng tiềm năng để các
ngân hàng thương mại huy động vốn đặc biệt là huy động vốn tiền gửi từ trong dân.
Ngân hàng TMCP Đông Á là một ngân hàng còn non trẻ đặc biệt chi nhánh
tại Nha Trang mới được hình thành gần 6 năm, mặt khác trên thị trường hiện nay
ngày càng có nhiều ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính được thành lập trong
khi đó thị trường ít do đó các ngân hàng phải cạnh tranh gay gắt với nhau để giành
lấy chỗ đứng và thị trường cho mình. Đây là những khó khăn lớn đối với ngân hàng
Đông Á nói chung và Đông Á chi nhánh Nha Trang nói riêng đặc biệt là hoạt động
huy động vốn.
trong bối cảnh chung của nền kinh tế: lạm phát, các biến động trên thị trường
thế giới và VN Từ tình hình kinh tế và chính sách tiền tệ của chính phủ trong thời
gian qua đã gây không ít khó khăn trong hoạt động huy động vốn của các ngân
hàng thương mại nói chung và NH TMCP Đông Á nói riêng. Từ đó đòi hỏi DongA
Bank phải có những giải pháp huy động vốn đúng đắn thích hợp mới đáp ứng được
nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Vì vậy đây là lý do em chon đề tài “Các giải pháp
nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tiền gửi tại ngân hàng TMCP Đông Á
chi nhánh Nha Trang” làm chuyên đề tốt nghiệp cho mình.
2. Mục tiêu và ý nghĩa nghiên cứu của chuyên đề
Mục tiêu tìm hiểu hoạt động huy động vốn tiền gửi và các nghiệp vụ của
NHTM, đánh giá phân tích hoạt động huy động vốn tiền gửi trên cơ sở đó đưa ra
các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tiền gửi của ngân hàng TMCP
Đông Á chi nhánh Nha Trang.
Ý nghĩa không ngừng hoàn thiện và khái quát cơ sở lý luận và các nghiệp vụ
huy động vốn tiền gửi tại các NHTM.
3
thiếu được. Hiện nay có rất nhiều khái niệm về ngân hàng thương mại như:
Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp
dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
Đạo luật ngân hàng của pháp (1941): Ngân hàng thương mại là những xí
nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng
dưới các hình thức ký thác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp
vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính.
Ở Việt Nam, Theo Điều 10, luật số 02/1997/QH10 Luật các tổ chức tín dụng
Việt Nam khẳng định:
“ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động
ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”
trong đó: hoạt động ngân hàng là các hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ
ngân hàng ( huy động vốn dưới mọi hình thức, cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài
hạn, chiết khấu từng chứng từ có giá, bao thanh toán, cho thuê tài chính, thấu chi,
cho vay trả góp, cho vay tiêu dùng, và cung cấp mọi dịch vụ ngân hàng khác)
Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài
chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ
thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác
5
trong xã hội sẽ được huy động, tập trung lại, đồng thời sử dụng vốn đó để cấp tín
dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân để phát triển kinh tế xã hội.
1.1.2. Chức năng và nhiệm vụ của ngân hàng thương mại
1.1.2.1.Chức năng trung gian tín dụng
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của
ngân hàng thương mại. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng
vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng
này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là
người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi
suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia, người gửi tiền và
người đi vay.
1.1.3.1. Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế
Vốn được tạo ra từ quá trình tích lũy, tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh
nghiệp và nhà nước trong nền kinh tế, vậy muốn có nhiều vốn phải tăng thu nhập
quốc dân và giảm nhịp độ tiêu dùng. Để tăng thu nhập quốc dân tức là để mở rộng
quy mô chiều rộng lẫn chiều sâu của sản xuất và lưu thông hàng hoá, đẩy mạnh sự
phát triển của các ngành trong nền kinh tế cần thiết phải có vốn, ngược lại khi nền
kinh tế càng phát triển sẽ tạo ra càng nhiều nguồn vốn. Ngân hàng thương mại là
chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh. Ngân hàng thương mại
đứng ra huy động các nguồn vốn nhàn rỗi va tạm thời nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá
nhân, mọi thành phần kinh tế như vốn tạm thời được giải phóng ra từ quá trình sản
xuất, vốn từ nguồn tiết kiệm của các cá nhân trong xã hội và thông qua nghiệp vụ
tín dụng, Ngân hàng thương mại đã cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế, đáp
ứng các nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình tái sản xuất. Nhờ có hoạt động
của hệ thống Ngân hàng thương mại và đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh
nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc công nghệ, tăng năng suất
lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế.
7
1.1.3.2 Ngân hàng là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp chịu
sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế khách quan như quy luật cạnh tranh,
quy luật giá trị, quy luật cung cầu sản xuất phải trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thị
trường, thỏa mãn nhu cầu thị trường trên mọi phương diện: không những thỏa mãn
nhu cầu về phương diện giá cả, khối lượng, chất lượng, chủng loại hàng hóa mà còn
đòi hỏi thỏa mãn cả trên phương diện thời gian, địa điểm. Hoạt động của các doanh
nghiệp phải đạt hiệu quả kinh tế nhất định theo quy định chung của thị trường thì
mới đảm bảo đứng vững trong cạnh tranh. Để có thể đáp ứng tốt nhất các yêu cầu
của thị trường, doanh nghiệp không những cần nâng cao chất lượng lao động, củng
cố và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, chế độ hạch toán kế toán mà còn phải
không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, tìm tòi sử dụng
nguyên vật liệu mới, mở rộng quy mô sản xuất một cách thích hợp Những hoạt
đẩy ngoại thương không ngừng được mở rộng. Thông qua các hoạt động thanh toán,
buôn bán ngoại hối, quan hệ tín dụng với các Ngân hàng thương mại nước ngoài, hệ
thống Ngân hàng thương mại đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước
phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế.
NHTM ra đời và phát triển trên cơ sở nền sản xuất và lưu thông hàng hóa
phát triển và nền kinh tế ngày càng cần đến hoạt động của Ngân hàng thương mại
với chức năng, vai trò của mình. Thông qua việc thực hiện các chức năng, vai trò
của mình nhất là chức năng trung gian tín dụng, NHTM đã trở thành một bộ phận
của việc thúc đây nền kinh tế phát triển.
1.1.4. Các hoạt động huy động vốn
Huy động vốn là một trong những hoạt động quan trọng hàng đầu của
NHTM. Nó tạo ra nguồn chủ lực trong kinh doanh của bất kỳ Ngân hàng thương
mại nào. Ngân hàng thương mại thường huy động vốn trong xã hội qua các phương
thức nhận tiền gửi, phát hành các chứng từ có giá và nguồn vốn vay.
Huy động tiền gửi: Là hoạt động huy động tiền vốn phổ biến của NHTM.
Hiện nay kinh tế phát triển rất nhanh nó đã đẩy hoạt động tích lũy và tiết kiệm trong
9
dân ngày càng tăng dẫn đến các nguồn vốn tiền gửi ngày càng phong phú và đa
dạng. Song về mặt kỹ thuật Ngân hàng, các khoản tiền gửi có thể được chia thành
tiền gửi không kỳ hạn; tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm.
Phát hành các chứng từ có giá: Là việc NHTM phát hành các chứng chỉ tiền
gửi như kỳ phiếu, trái phiếu Ngân hàng để huy động nhằm thực hiện các dự án đầu
tư đã hoạch định. Trong hình thức huy động này, Ngân hàng chủ động đứng ra thu
gom vốn trong xã hội nhằm bổ sung nguồn vốn hoạt động của ngân hàng.
Nguồn vốn đi vay các ngân hàng khác:
l
à nguồn vốn được hình thành bởi các
mối quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau, hoặc giữa các tổ chức tín dụng với
Ngân hàng Trung ương. Phương thức huy động vốn này thường chỉ mang tính tạm
thời hơn nữa có thể làm cho các Ngân hàng thương mại phải chịu chi phí lớn. Vì
Khách hàng lớn: Ngân hàng buộc phải xem xét đến tiền gửi thanh toán của
từng khách hàng, từ đó có thể rút ra. Nghiên cứu chu kỳ của nó để tạo điều kiện
thuận lợi cho hoạt động của chính mình.
Khách hàng nhỏ: với khách hàng này thì số lượng và quy mô tham gia vào
tiền gửi thanh toán ít do vậy mà không thể nghiên cứu theo từng cá thể được mà
người ta sẽ tập hợp thành một nhóm khách hàng, từ đó tính toán các chỉ tiêu đã nói
trên quyết định tỷ lệ sử dụng.
Mục đích, mục tiêu chung của ngân hàng đối với tất cả các nghiệp vụ là luôn
luôn phải sinh lợi và an toàn (dự trữ) ngay cả tiền gửi thanh toán cũng vậy. Ngân
hàng phải làm sao giải quyết mọi quan hệ giữa đầu tư và dự trữ ở mức thích hợp
nhất giữa sinh lợi và an toàn, bên cạnh đó còn yếu tố chủ quan là khả năng linh
hoạt, cân đối tác nghiệp của ban lãnh đạo.
Trong tất cả các nguồn tiền thì đây là nguồn khó sử dụng nhưng rẻ, ngân
hàng nào huy động nhiều thì rất tốt cho hoạt động của mình. Ai cũng muốn thu hút
nguồn tiền này về cho chính ngân hàng của mình. Vì vậy trong nghiệp vụ huy động
vốn tiền gửi thanh toán đóng góp một phần rất quan trọng. 11
1.2.1.2. Tiền gửi có kỳ hạn
Đây là loại tiền gửi có sự thỏa thuận trước giữa khách hàng và ngân hàng về
thời gian rút tiền. Đại bộ phận nguồn tiền gửi này có nguồn gốc từ tích lũy và xét về
bản chất chúng được ký thác với mục đích hưởng lãi. Các Ngân hàng thương mại
nhận hai loại tiền gửi có kỳ hạn: là tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi báo rút. Về cơ bản,
các khoản tiền gửi có kỳ hạn không được sử dụng để tiến hành thanh toán như các
khoản chi trả bằng vốn trên tài khoản vãng lai. Thông thường, tiền gửi có kỳ hạn là
các khoản tiền gửi có thời hạn dài và có lãi suất cao. Tiền gửi có kỳ hạn thông
thường định kỳ là 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 1 năm hoặc hơn nữa. Loại tiền gửi này
có những đặc điểm như sau:
Các khoản tiền gửi sẽ có thời gian gửi tối thiểu theo thỏa thuận giữa ngân
Nếu căn cứ vào mục đích của người gửi chia thành:
+ An toàn, tích lũy
+ Hưởng lãi
Nếu căn cứ vào thời hạn chia thành:
+ Tiền gửi không kỳ hạn
+ Tiền gửi có kỳ hạn
b. Phân loại tiền gửi tiết kiệm:
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn:
Là hình thức tiền gửi tiết kiệm với mục đích nhằm nhờ NH cất trữ, bảo quản
hộ tài sản, tích lũy tài sản nên khách hàng thường phải trả lệ phí cho NH, nhưng do
cạnh tranh và các NH sử dụng nguồn vốn này để hoạt động nên khách hàng không
phải trả phí mà NH trả lãi cho KH với lãi suất khuyến khích (thấp). Khách hàng có
thể rút tiền ra bất cứ khi nào.
Do vậy, loại nguồn này chỉ được sử dụng một phần, phần lớn còn lại được sử
dụng để đảm bảo thanh toán cho khách hàng
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn:
Tiết kiệm có kỳ hạn là hình thức tiết kiệm với mục đích chủ yếu là hưởng lãi
căn cứ vào thời hạn chọn khi gửi tiền. Với tiết kiệm có kỳ hạn, khách hàng gửi tiền
một lần và rút vốn gửi ban đầu, tiền lãi trả vào đúng thời điểm đáo hạn của sổ tiết kiệm.
13
Mục đích của tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là khách hàng muốn đầu tư để
hưởng lãi chứ không phải để cất trữ hay thanh toán. Chính vì vậy lãi suất của nguồn
này tương đối cao, nhưng lại khá ổn định. Các hình thức thường thấy là phiếu tiết
kiệm, chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm, tiết kiệm nhà ở…
Tiền gửi tiết kiệm khác:
Đối với cá nhân: tiền gửi trên tài khoản thanh toán của cá nhân nhằm mục
đích thuận tiện trong chi trả thanh toán như séc cá nhân, thẻ thanh toán, rút tiền mặt,
đổi ngân phiếu…Đặc điểm của loại tiền gửi này là khách hàng thường là những
người có thu nhập cao.
Đối với tổ chức: tiền gửi thanh toán nhằm mục đích phục vụ các giao dịch
Vay ngoài nước cugnx là tìm kiếm nguồn vốn hoạt động vấn đề ở chổ tiền
nước ngoài theo thông lệ quốc tế ngày nay vẫn là USD. Nhưng làm sao chúng ta có
thể huy động được nhiều hơn thì thuộc về bản thân của Ngân hàng cũng như các
yếu tố bên ngoài tác động.
Vay ngân hàng trung ương: ngân hàng nhà nước Việt nam( Ngân hàng
Trung ương) thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ và hoạt động Ngân
hàng, là Ngân hàng của các Ngân hàng, Ngân hàng của các tổ chức tín dụng. Vì vậy
hoạt động của Ngân hàng Trung ương nhằm ổn định giá trị của đồng tiền, góp phần
bảo đảm an toàn cho hoạt động Ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng thúc
đẩy phát triển kinh tế xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Với vai trò là ngân hàng mẹ của tất cả các ngân hàng nên việc hỗ trợ,giúp đỡ
từ phía Ngân hàng Trung ương tạo điều kiện giúp các Ngân hàng thương mại một
phần nào đó yên tâm trong quá trình hoạt động của mình. Vì vậy khi cảm thấy cần
nguồn vốn để hoạt động ngoại trừ tiền vay của các tổ chức cá nhân trong nền kinh tế
thì Ngân hàng thương mại còn có thể đi vay của Ngân hàng Trung ương mà người
ta gọi đây là hoạt động tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước đối với Ngân hàng.
Mục đích của việc đi vay là nhằm bù đắp thiếu hụt trong thanh toán, bổ sung nguồn
vốn cho vay ngắn hạn đảm bảo đúng yêu cầu quy định về dự trữ tối thiểu cuối ngày.
15
Đây chính là hình thức cho vay có đảm bảo, tức là hình thức ngân hàng
thương mại đem các chứng từ có giá đến Ngân hàng Trung ương để làm đảm bảo
xin vay vốn. Căn cứ trên tổng mệnh giá các chứng từ có giá làm đảm bảo, Ngân
hàng Trung ương sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất định tùy theo sự quản lý của Nhà nước.
Vốn vay NHTW là quan hệ trực tiếp giữa các ngân hàng thương mại với
Ngân hàng Trung ương nằm trong sự điều tiết của chính sách tiền tệ. Khi Ngân
hàng Trung ương sử dụng công cụ thị trường mở, mua bán các trái phiếu, kỳ phiếu
ngắn hạn, hệ thống Ngân hàng thương mại phải chịu sự kiểm soát gắt gao của NHTW.
Dù vay ít hay nhiều, vay thường xuyên hoặc chỉ thỉnh thoảng vài lần trong
một năm, dịch vụ vay từ cửa ngỏ tài cấp vốn của Ngân hàng Trung ường vẫn là một
khoản mục cố định trong tài sản nợ. Thời gian vay ngắn hạn hay dài hạn, hiệu quả
mình hướng đi phù hợp với những mục tiêu cụ thế trong từng giai đoạn.
Đến nay sau hơn 18 năm, Dong A Bank đã gặt hái dược những thành công
nhất định thông qua những thay đổi đáng kể sau:
+ Tính đến 31/12/2010 vốn điều lệ đã tăng lên 22.5 % tăng từ múc 20 tỷ
đồng lên đến một con số đáng kinh ngạc 4500 tỷ đồng
+ Tổng tài sản đến cuối năm 2010 là 55873 tỷ đồng.
+ Từ 3 phòng nghiệp vụ chính là tín dụng, ngân quỹ và kinh doanh đã lên
đến 32 phòng ban thuộc hội sở và các trung tâm cùng với 4 công ty thành viên và
224 chi nhánh, phòng giao dịch, trung tâm giao dịch 24 giời trên toàn quốc.
+ Nhân sự tăng 7.546 % , từ 56 người lên đến 4254 người
+ Sở hữu 5 triệu khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Đặc biệt mạng lưới
của ngân hàng đã có mặt ở các vùng sâu vùng xa – nơi mà trước đây chỉ có các
ngân hàng quốc doanh xuất hiện.
17
Bên cạnh đó, Dong A Bank đã mở rộng hệ thống của mạng lưới
ATM/POS với hơn 1200 máy ATM và 1500 điểm chấp nhận thẻ ATM trên toàn
quốc. Việc mở rộng hệ Thống là thể hiện cụ thể nhất mong muốn đưa sản phẩm –
dịch vụ đến gần hơn với mọi người dân, phục vụ và đáp ừng nhu cầu khách hàng
một cách nhanh chóng, hiệu quả.
Sự ra đời ngân hàng TMCP Đông Á chi nhánh Nha Trang:
Việc mở rộng mạng lưới hoạt động phủ khắp cả nước đang là xu hướng hoạt
động của ngân hàng. Do đó ngân hàng TMCP Đông Á chi nhánh Nha Trang được
ra đời vào ngày 07/06/2006 đặt trụ sở đầu tiên tại 649 Lý Thánh Tôn – Nha Trang.
Sau đó đến đầu năm 2010 chuyển về số 55 đường 2/4 Nha Trang –Khánh Hòa.
Điểm đặc biệt chi nhánh được xây theo mô hình tòa nhà hội sở chính, góp
phần nâng cao hình ảnh thương hiệu DongA Bank uy tín và hiện đại trong lòng
khách hàng.
Ý nghĩa logo DongA Bank:
Biểu tượng của logo cách điệu 3 chữ A lồng vào nhau, thể hiện sự mong
muốn của DongA Bank vì hoạt động của ngân hàng trong thời gian dài sẽ được
pháp nhân, cá nhân trong nước và ngoài nước bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ,
vàng theo quy định Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng TMCP Đông Á.
- Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn bằng đồng Viêt Nam và ngoại tệ, vàng
đối với các tổ chức kinh tế và cá nhân trên địa bàn theo sự uỷ nhiệm của giám đốc
Ngân hàng TMCP Đông Á chi nhánh Nha Trang.
- Được phép vay, cho vay đối với các định chế tài chính trong nước, thực
hiện và quản lý các nghiệp vụ bảo lãnh, thanh toán quốc tế, nghiệp vụ mua bán,
chiết khấu các chứng từ có giá theo đúng quy định của Ngân hàng nhà nước
- Thực hiện quản lý mua bán ngoại tệ, chi trả kiều hối, chuyển tiền nhanh,
thẻ thanh toán quốc tế và nội địa. Khi có nhu cầu, Ngân hàng thực hiện mua bán
vàng- đồng thời thực hiện công tác hoạch toán kế toán theo đúng chế độ của Nhà
nước, Ngân hàng Nhà nước và của Ngân hàng TMCP Đông Á.