ĐIỀU TRỊ GÃY ĐẦU DƯỚI XƯƠNG ĐÙI - Pdf 20

ĐIỀU TRỊ GÃY ĐẦU DƯỚI XƯƠNG ĐÙI
TẠI BỆNH VIỆN BÀ RỊA

Bs Nguyễn Phương Nam
Khoa Ngoại, BV Bà Rịa

TÓM TẮT:

Gãy đầu dưới xương đùi thường gặp với cơ chế chấn thương mạnh, điều trị khó cho
kết quả mỹ mãn, dễ để lại di chứng, đặc biệt với khớp gối.
Tại bệnh viện Bà Rịa đã theo dõi điều trị cho 56 trường hợp gãy đầu dưới xương
đùi trong 5 năm với kết quả sau:
Theo phân loại Muller:
Typ A:21 cases Tốt: 15 cases Xấu 2 cases
Typ B:11 cases Tốt: 10 cases
Typ C:24 cases Tốt: 10 cases Xấu 4 cases
Biến chứng gặp trong typ A và C: nhiễm trùng, chậm lành xương, đơ khớp.
Qua nghiên cứu thấy rằng gãy đầu dưới xương đùi ảnh hưởng nhiều đến khớp gối,
điều trị không chỉ quan tâm đến kỹ thuật kết hợp xương chính xác mà đặc biệt lưu ý đến
vật lý trị liệu khớp gối, khi có biến chứng nhiễm trùng thì việc điều trị trở nên nan giải.

SUMMARY:

TREATMENT OF FRACTURE OF DISTAL FEMUR
AT THE HOSPITAL OF BA RIA

Fracture of distal femur is often due to violent trauma, its treatment is often
difficult to obtain good results with lots of sequela, especially at the knee joint.
56 patients with fracture of distal femur treated at the hospital of Ba Ria during 5
years were included in the study. Treatment results showed that, following type of
Muller:

• Mô tả và hồi cứu.
• Thời gian nghiên cứu: 5 năm từ 1-2002 đến 3-2007.
• Phân loại gãy theo Muller:

Cách tiến hành:
Chọn bệnh nhân có chỉ định mổ, chuẩn bị các xét nghiệm tiền phẫu và dụng cụ
kết hợp xương.
Thời điểm mổ: mổ cấp cứu cho phần lớn trường hợp, mổ chương trình cho gãy
hở đến muộn sau khi cắt lọc kéo tạ ổn định, bệnh nhân lớn tuổi.
Vô cảm chủ yếu gây tê tủy sống.
Bệnh nhân nằm ngửa, đường mổ mặt ngoài 1/3 dưới đùi có thể kéo dài đến
trước gối.
Tùy loại gãy mà có kỹ thuật kết hợp xương phù hợp. Ở đây sử dụng nẹp
LAMPLAQUE, nẹp BUTTRESS, dinh chốt và vít xương xốp 6.5.
Dẫn lưu ổ gãy trong mọi trường hợp.
Hậu phẫu 7-10 ngày, cho tập khớp gối sớm sau mổ 3 ngày.
Tái khám định kỳ: 1 tuần, 1 tháng, 2 tháng, 4 tháng, 6 tháng, 1 năm.
Theo dõi sự lành xương và kết quả tập vật lý trị liệu, các biến chứng và di chứng.

Tổng kết dữ liệu:
Tuổi: trẻ nhất 15 tuổi, lớn nhất 75 tuổi, trung bình 45 tuổi.
Giới: 33 nam, 23 nữ.
Chân trái 30 ca, chân phải 26 ca.
Nguyên nhân: tai nạn giao thông 30 ca, tai nạn lao động 15 ca, tai nạn sinh hoạt 11 ca
Phối hợp gãy bánh chè 2 ca, gãy mâm chày 3 ca, gãy thân xương đùi 1 ca.

Loại gãy theo phân loại Muller:

Typ A Typ B Typ C
1 6 4 10

Trung bình 7 1 10
Xấu 2 0 4

Thời gian lành xương trung bình: 6 tháng

2. Biến chứng:

Nhiễm trùng: 2 ca trong typ C, 1 ca không chữa được, 1ca dò mãn tính lành xương
sau 12 tháng. 1 ca typ A nhiễm trùng sau lấy dụng cụ thì đỡ sau 6 tháng.
Đơ khớp: 2 ca typ A và typ C
3. Một số hình ảnh minh họa:
BN nam, 19 tuổi, gãy hở IIIb, typ C1 BN nam, 30 tuổi, gãy kín, typ C2, sau 5 năm BN nam, 39 tuổi, gãy kín, typ C2, đinh chốt, lấy dụng cụ sau 12 tháng

BN nam, 29 tuổi, gãy kín , typ B1
BN nam, 19 tuổi, gãy hở IIIa, typ C1

máy vận động thụ động khớp gối sau mổ, sau đó mới cho vận động chủ động.

Thời gian lành xương nói chung tùy thuộc vào nhiều yếu tố, quan trọng nhất là
không để bị nhiễm trùng và không để rối loạn dinh dưỡng chi,lớn tuổi và loãng xương
làm chậm lành xương.

Biến chứng về mạch máu và thần kinh chưa gặp ở đây. Nhiễm trùng dễ gặp, nhất là
trong gãy xương hở, chúng tôi gặp 1 ca gãy hở độ II, bệnh nhân nam 48 tuổi, typ C2 sau
kết hợp xương lamplaque bị nhiễm trùng, điều trị 6 tháng không lành mặc dù đã lấy bỏ
dụng cụ, đau và kinh tế không đủ cho điều trị đã phải xin đoạn chi.

Các di chứng như đơ khớp có gặp nhưng không nặng vì phát hiện sớm và cho tập
tích cực, còn biến dạng gối gặp duỗi gối không hết hoặc vẹo trong cho dáng đi khập
khiễng do kỹ thuật kết hợp xương và do bệnh nhân đi sớm.

Các phương pháp kết hợp xương:
• Vít xương xốp dùng cho typ B đủ nén ép các lồi cầu gãy rất tốt, dùng cố định hai
lồi cầu gãy trong typ A và C
• Lamplaque dùng cho typ A và C, sự chịu lực mạnh sau cố định xương lồi cầu,
dụng cụ chiếm thể tích ít.
• Nẹp Buttress dùng cho typ A và C, sự chịu lực ép yếu hơn sau cố định xương lồi
cầu, dụng cụ chiếm thể tích nhiều.
• Đinh chốt ngược dòng từ gối lên dùng cho typ A và C khi còn đủ chỗ bắt vis chốt,
thường không vững chắc, nhưng dụng cụ rất ít chiếm thể tích. Nên sử dụng đinh có
chốt ngược dòng cho gãy đầu dưới xương đùi typ A và typ C.
• Nẹp DCS dùng cho typ A và C, sự chịu lực ép rất mạnh giống như Lamplaque sau
cố định xương lồi cầu, nhưng kỹ thuật rất phúc tạp, dụng cụ chiếm thể tích vừa.
Hiện nay trên thế giới dùng kỹ thuật kết hợp xương kiểu xâm lấn tối thiểu và nẹp DCS.
Tuy vậy, ở nước ta tùy dụng cụ có được ở cơ sở mà chọn lựa phù hợp.


Comments:
Creation Date: 5/21/2007 8:16:00 AM
Change Number: 34
Last Saved On: 5/25/2007 8:29:00 AM
Last Saved By: hoangthao
Total Editing Time: 1,113 Minutes
Last Printed On: 7/1/2007 6:05:00 PM
As of Last Complete Printing
Number of Pages: 7
Number of Words: 1,408 (approx.)
Number of Characters: 8,026 (approx.)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status