Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005
ĐIỀU TRỊ GÃY ĐẦU DƯỚI XƯƠNG QUAY BẰNG NẸP ỐC
Vũ Xuân Thành, Bùi Văn Đức và cs*
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trò gãy đầu dưới xương quay bằng nẹp ốc và đánh giá các yếu tố
ảnh hưởng đến kết quả hồi phục chức năng.
Phương pháp: từ 4/2001 đến 11/2003 chúng tôi mổ kết hợp xương bằng nẹp ốc mặt lòng cho 61
bệnh nhân gãy đầu dưới xương quay mà điều trò bảo tồn thất bại, trong đó có 46 ca di lệch mặt lòng và 15
ca di lệch mặt lưng. Phân loại gãy theo AO.
Kết quả: Các bệnh nhân được theo dõi trung bình 16 tháng (6-30 tháng). Trong 46 ca gãy di lệch
mặt lòng theo hệ thống thang điểm của Gartland và Werley có 24 ca rất tốt (52,2%), 21 tốt (45,6%) và1
khá (2,2%); theo hệ thống thang điểm cải tiến của Green và O’Briend 17 rất tốt (37%), 21 tốt (45,6%) và 8
khá (17,4%). Trong 15 ca gãy di lệch mặt lưng theo hệ thống thang điểm của Gartland và Werley có 7 rất
tốt (46,7%), 6 tốt (40%) và 2 khá (13,3%); theo hệ thống thang điểm cải tiến của Green và O’Briend có 5
rất tốt (33,3%), 7 tốt (46,7%) và 3 khá(20%). Không có biến chứng tổn thương gân.
Kết luận: Điều trò bằng nẹp ốc mặt lòng là lựa chọn thích hợp cho gãy đầu dưới xương quay di lệch
mặt lòng và có thể an toàn và hiệu quả cho điều trò gãy đầu dưới xương quay di lệch mặt lưng. Các yếu tố
ảnh hưởng đến hồi phục chức năng bao gồm: tập vận động chủ động sớm, sự hồi phục góc nghiêng lòng
bình thường của đầu dưới xương quay, loại gãy theo phân loại AO, sự lỏng lẻo khớp quay trụ dưới.
SUMMARY
TREATMENT OF DISTAL RADIAL FRACTURES WITH OPEN REDUCTION AND
INTERNAL FIXATION USING AO T-TYPE PLATES
Vu Xuan Thanh, Bui Van Duc * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 9 * Supplement of No 1 * 2005: 227 – 233
OBJECTIVE: To assess the results of treatment of the distal radial fractures with open reduction and
internal fixation using AO T-type plate, and to figure out factors affecting funtional recovery.
METHODS: There were 61 patients with distal radial fractures, with 46 cases volarly and 15 cases
dorsally displaced fractures of the distal radius. They were surgically treated using the volar approach and
AO T-type plates, with or without Kirschner pinning. The type of fracture was classified according to
AO/ASIF classifications. Indications for volar plating were failures of closed reduction.
cổ tay cũng cao hơn, nên việc điều trò mang lại kết
quả tối đa là bắt buộc. Tất cả những kỹ thuật có giá trò
sẽ được sử dụng để đạt sự liền xương với tư thế giải
phẫu học tốt nhất, đem lại sự phục hồi chức năng tốt
nhất. Nắn mở và kết hợp xương bên trong: ưu điểm là
có thể thấy rõ các mảnh gãy mặt khớp để nắn chỉnh,
có thể ghép xương bổ sung rồi nẹp ốc và hoặc kim
Kirschner để bất động vững chắc ổ gãy. Sau mổ bệnh
nhân có thể tập vận động sớm, đây là yếu tố quan
trọng để phục hồi chức năng tránh được những biến
chứng do bất động lâu dài.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đánh giá kết quả điều trò gãy đầu dưới xương
quay bằng nẹp ốc về: khả năng phục hồi giải phẫu,
phục hồi chức năng, các biến chứng.
Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả chức
năng.
ĐỐI TƯNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Các bệnh nhân > 16 tuổi, < 50 tuổi hoặc chất
lượng xương còn tốt đến khám và điều trò tại khoa Chi
Trên bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình tp Hồ Chí
Minh từ tháng 3/2001 đến 11/2003 bò gãy đầu dưới
xương quay di lệch mặt lòng: loại B
3
, phạm khớp đơn
giản loại C
1
, ngoài khớp loại A2, A3 hoặc di lệch mặt
nhiều(>2mm) thì KHX mỏm trâm trụ phương pháp
néo ép.
Sau mổ bệnh nhân được mang nẹp vải,hoặc nẹp
bột cẳng bàn tay.
228
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005
Chương trình tập vật lý trò liệu
24 giờ sau mổ: cho tập ngay cử động gập duỗi
ngón tay. Nếu bàn tay sưng cho nâng tay cao hơn tim
trong khi tập các ngón.
Khoảng 1 tuần sau khi tay hết sưng có thể bỏ
nẹp vải hoặc nẹp bột cho tập cổ tay: gập duỗi,
nghiêng trụ, nghiêng quay; tập sấp ngửa nhẹ nhàng
cổ tay. Lưu ý: tập chủ động không gây đau đớn.
Khuyến khích bệnh nhân sử dụng bàn tay trong các
công việc nhẹ nhàng hàng ngày như quét nhà, lau
bàn ghế, chải tóc, gài nút áo
- Sau 1 tháng: tập đề kháng nhẹ cổ tay từ từ tăng
dần.
- Sau 3 tháng: có thể cho xách đồ nặng hay
chống tay.
Cách đánh giá kết quả
Di lệch thứ phát và phục hồi giải phẫu
Đánh giá kết quả nắn sau mổ dựa theo bảng
đánh giá của JL Haas và JY de la Caffinière.
Để khảo sát mức độ di lệch lấy kết quả X-quang
sau 12 tuần so với kết quả X-quang sau khi KHX.
Để khảo sát mức độ phục hồi giải phẩu của
Phải: 24 ca (39,3%), Trái: 37 ca (60,7%)
Thuận: 28 ca (46%), Nghòch: 33 ca (54%)
Nhận xét
Không có sự khác biệt có ý nghóa về tỷ lệ bò gãy
tay thuận hay nghòch.
Nguyên nhân
TNGT: 53 ca (86,9%), TNLĐ: 04 ca (6,5%)
TNSH: 03 ca (4,9%), TNTDTT:01 ca (1,6%)
Nhận xét
Thường gặp nhất là tai nạn giao thông, té xe gắn
máy 2 bánh (53/61 ca) chiếm 86,9%
- Khác với các công trình nghiên cứu nước ngoài
khác, nguyên nhân hàng đầu là do ngã hoặc té từ
trên cao do tai nạn lao động, sau đó là tai nạn giao
thông
Điều trò trước đó
BT gia truyền: 8 ca (11,5%); bó bột: 52 ca
(85,2%); đã mổ KHX: 01 ca (1,6%)
Nhận xét
- Có 8 bệnh nhân bó thuốc gia truyền trước đó và
những bệnh nhân này thường có thời gian xử trí sau
tai nạn dài > 3 tuần.
Hầu hết bệnh nhân được nắn bó bột trước đó: 52
229
ca (chiếm 85,2%) thất bại và được mổ kết hợp xương.
_ Điều trò bảo tồn gãy di lệch ra trước:
+ Castaing (1964) chứng minh là bó bột trong
bất cứ tư thế nào cũng không thể bất động hoặc duy
trì sự nắn cho những loại gãy này. Một vài nghiên cứu
trước đây cho thấy điều trò bảo tồn có kết quả không
Biến chứng sau mổ
Nhiễm trùng: 0 ca
Rối loạn cảm giác thần kinh giữa: 5 ca
Do trong lúc mổ kéo căng thần kinh giữa nhiều.
Nhưng lần thăm khám cuối cùng những bệnh nhân
này không còn triệu chứng (đường mổ giữa cơ gấp cổ
tay quay và động mạch quay)
Jupiter và Fernandez 1996: với những bệnh nhân
áp dụng đường mổ này cũng gặp một số ca biến
chứng như vậy.
+ 2 ca bắt ốc vào khớp
Do trong lúc mổ chúng tôi không quan sát dưới
màn tăng sáng. 2 ca này sau đó chúng tôi mổ lại lần 2
để bắt lại ốc
Các tác giả khác không đề cập tới biến chứng
này.
Biến chứng muộn
Rối loạn dinh dưỡng
Rối loạn dinh dưỡng là biến chứng thường gặp
của gãy ĐDXQ, nhất là những trường hợp cổ tay bò
bất động lâu dài.
Với việc sử dụng nẹp ốc kết hợp xương, bệnh
nhân có thể tập VLTL ngay sau mổ và với một
chương trình tập VLTL cụ thể, rõ ràng, chúng tôi
không có ca nào bò rối loạn dinh dưỡng, giống như
các tác giả khác: Jupiter và Fernandez 1996, Orbay và
Fernandez 2002, Gong X và cs 2002.
Biến chứng gân
Chúng tôi không có ca nào đứt hoặc viêm gân
gấp hoặc duỗi cổ tay
liệu của bệnh viện
Rất tốt 14 8
Tốt 21 7
Khá 8 3
Không có sự khác biệt giữa đòa điểm tập vật lý trò
liệu và kết quả chức năng(p > 0,50; test χ2 có hiệu
chỉnh Yates).
Vai trò tập vật lý trò liệu
Có 3 ca kết quả X quang rất tốt nhưng kết quả
chức năng chỉ là khá
Cả 3 ca này sau mổ sợ tập cử động cổ tay nhiều
sẽ gãy xương lại nên không tập VLTL tích cực, kết
quả chức năng cuối cùng chỉ là khá
Nhận xét
Qua 3 ca trên cho thấy vai trò của tập VLTL đối
với gãy ĐDXQ rất quan trọng: dù có hồi phục giải
phẫu tốt mà không tập VLTL tích cực thì kết quả
chức năng cũng không tốt.
Các tác giả nước ngoài thường không đề cập vai
trò của tập VLTL đối với gãy ĐDXQ.
Kết quả Xquang
Gãy di lệch ra trước
Bảng3: Kết quả Xquang Gãy di lệch ra trước
Ngay sau mổ Lần theo dõi cuối
cùng
Chỉ số khác biệt xương trụ – 0,96mm – 0,87mm
Góc nghiêng trụ 21,5
0
21,7
0
0
21,7
0
Góc nghiêng lòng 9
0
7,9
0
7,9
0
Ư
Kết quả phục hồi giải phẫu 46 ca gãy di lệch mặt
lòng không khác các tác giả khác.
Gãy di lệch ra sau
Bảng 5: Kết quả Xquang Gãy di lệch ra sau
Ngay sau mổ Lần theo dõi cuối
cùng
Chỉ số khác biệt xương
trụ
– 0, 6mm – 0, 6mm
Góc nghiêng trụ 21,6
0
22,6
0
Góc nghiêng lòng 3,1
0
(5 ca< 0
0
2,33
0
5 ca< 0
Nẹp chữ T 3,5 của AO ban đầu được chế tạo để
điều trò cho loại gãy di lệch ra trước, chúng tôi sử
dụng loại nẹp này để kết hợp xương mặt lòng cho gãy
đầu dưới xương quay di lệch mặt lưng có kết quả hồi
phục góc nghiêng lòng ĐDXQ không tốt.
40 ca gãy phạm khớp di lệch ra trước
Chúng tôi dựa trên phim X quang quy ước thẳng,
nghiêng để đánh giá sự cấp kênh mặt khớp như
231
Jupiter và Fernandez 1996.
Bảng 7: Sự cấp kênh mặt khớp so với các tác giả khác
Jupiter và Fernandez 1996 Chúng tôi
hồi phục mặt
khớp
35 ca (71,5%) 33 ca (82,5%)
cấp kênh 1mm 10 ca (20,5%) 6 ca (15%)
cấp kênh 2mm 4 ca (8%) 1 ca (2,5%)
CT Scanner đo được sự cấp kênh mặt khớp chính
xác hơn.
Chúng tôi không đủ điều kiện để chụp CT cho tất
cả bệnh nhân
Kết quả chức năng
Gãy di lệch ra trước
Bảng 8: Kết quả chức năng gãy di lệch ra trước theo
Gartland và Werley
Jupiter và
Fernandez 1996
Chúng tôi (40 ca gãy
phạm khớp)
Rất tốt và Tốt 83,7% 97,5%
kết quả rất tốt và tốt thấp hơn
Kết quả chức năng theo tuổi:
Bảng 11: Kết quả chức năng theo tuổi
17 – 30 tuổi 31 – 40 tuổi 41– 50 tuổi
Rất tốt 13 7 2
Tốt 12 6 10
Khá 6 3 2
Ư
Không có sự khác biệt giữa tuổi và kết quả chức
năng(p > 0,05; test
χ
2 có hiệu chỉnh Yates).
Keating và cs, Jupiter và Fernandez cũng kết luận
như vậy.
Kết quả chức năng theo phân loại gãy
theo AO
Bảng 12: Kết quả chức năng theo phân loại gãy theo
AO
A3 B3 C1
Rất tốt 9 13 0
Tốt 4 14 10
Khá 0 7 4
_ Loại A3 có kết quả chức năng tốt hơn loại B3 (p
< 0,05, test χ2 có hiệu chỉnh Yates).
_ Loại B3 có kết quả tốt hơn loại C1(p < 0,02,
test χ2 có hiệu chỉnh Yates).
Ư Phân loại AO có giá trò tiên lượng chức năng,
một mẫu lớn hơn với đủ các phân loại gãy sẽ giúp
khẳng đònh kết luận này. Phù hợp với kết luận của
Keating và cs.
rất tốt và tốt:80%, mà tránh được các biến chứng
đến gân duỗi như là: dính gân, viêm, đứt gân do
cọ mòn nếu đặt nẹp mặt lưng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả chức
năng:
Kết hợp xương bằng nẹp ốc bệnh nhân có
thể tập vật lý trò liệu sớm. Điều này rất quan
trọng vì bệnh nhân gãy đầu dưới xương quay
được điều trò hồi phục giải phẫu tốt mà không
tập vật lý trò liệu sớm và tích cực thì kết quả chức
năng cũng không tốt.
Sự hồi phục góc nghiêng lòng bình thường
của đầu dưới xương quay liên quan có ý nghóa
đến kết quả chức năng.
Phân loại AO có ý nghóa tiên lượng kết quả
chức năng, một mẫu lớn hơn có đủ các phân loại
gãy giúp khẳng đònh kết luận này.
Tổn thương khớp quay trụ dưới nếu không
điều trò sẽ ảnh hưởng đến kết quả chức năng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Quang Long(1980), Gãy đầu dưới xương quay,
Kỹ thuật điều trò gãy xương (Bohler), tập 2, NXB Y
Học, tr. 241 - 244.
2 Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Thò Thu(1983), Vật lý trò
liệu trong gãy đầu dưới xương quay, Tài liệu chấn
thương chỉnh hình số 8, ĐHYD – TP. HCM, tr. 56 -
72.
3 Nguyễn Trọng Tín(1993), Nhận xét bước đầu phương
pháp găm kim qua khe gãy trong điều trò gãy đầu dưới
xương quay theo Kapandji, Luận văn tốt nghiệp Bác só
13 Mueller ME, Nazarian S, Koch P, Schatzker J(1990),
The Comprehensive Classification of Fractures of Long
Bones, New York, Springer-Verlag, pp.54-63.
14 Muller M.E, Alloer M., Scheider R, Willenegger
H(1991), Screws and plates and their application,
Manual of internal fixation, pp. 179 – 199, pp. 210 –
217.
15 Orbay JL, Fernandez DL (2002), Volar fixation for
dorsally displaced fractures of the distal radius: A
preliminary report, Journal of Hand Surgery, 27A,
pp.205-215.
16 Zabinski JS and Weiland JA (1999), Fractures of the
distal radius, Clinical Orthopaerdics, pp.3 – 16.
233