Đề cương ôn tập ngữ văn 7 - Pdf 20

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 7
PHẦN I : VĂN BẢN
o
A. VĂN BẢN NHẨT DỤNG :
Câu 1 : Bài văn “Cổng trường mở ra” của tác giả Lí Lan muốn gởi gắm chúng ta điều gì ?
-Trả lời : Như những dòng nhật kí tâm tình, nhỏ nhẹ và sâu lắng, bài văn giúp ta hiểu thêm
tấm lòng thương yêu, tình cảm sâu nặng của người mẹ đối với con và vai trò to lớn của nhà
trường đối với cuộc sống mỗi con người.
Câu 2 : Bài văn “Mẹ Tôi” của Ét-môn-đô đơ A-mi-xi đọng lại trong em điều gì quan trọng
?
- Trả lời : “Con hãy nhớ rằng, tình yêu thương, kính trọng cha mẹ là tình cảm thiêng liêng
hơn cả. Thật đáng xấu hổ và nhục nhã cho kẻ nào chà đạp lên tình thương yêu đó” ( A-mi-xi ).
Câu 3 : Viết một đoạn văn ngắn tóm tắt truyện “Cuộc chia tay của những con búp bê” của
tác giả Khánh Hoài. Qua câu chuyện này, theo em, tác giả muốn gửi gắm đến mọi người điều
gì ?
- Trả lời : Vì cha mẹ chia tay nên Thành và Thủy cũng phải xa nhau. Trước lúc chia tay,
hai anh em cũng phải chia nhau đồ chơi. Trong cuộc chia đồ chơi ấy Thành và Thủy đã khó
giải quyết việc chia cặp búp bê ( Vệ Sĩ – Em Nhỏ ). Hai bạn đã dắt tay nhau đến lớp học để
chia tay bạn bè và cô giáo lần cuối cùng. Trong buổi chia tay ấy, Thủy đã làm cho cô giáo
xúc động là từ chối quà cô tặng ( cây viết vàng và cuốn sổ ) vì không được tiếp tục đi học.Lúc
ra về, Thành cảm thấy bàng hoàng đau đớn vì cuộc đời bất hạnh của mình với em. Đến nhà,
mọi việc đâu vào đấy và đó cũng là lúc xúc động và đau đớn nhất của cuộc chia tay : Thủy đã
quyết định tặng lại cặp búp bê cho anh ( Thành ) trong nghẹn ngào.
Qua câu chuyện muốn nhắn gởi đến mọi người : Tổ ấm gia đình là vô cùng quí giá
và quan trọng. Mọi người hãy cố gắng bảo vệ và gìn giữ, không nên vì bất cứ lí do gì làm tổn
hại đến tình cảm tự nhiên trong sáng ấy.
B. CA DAO, DÂN CA :
1. Khái niệm : Ca dao, dân ca chỉ các thể loại trữ tình dân gian, kết hợp lời và nhạc, diễn
tả đời sống nội tâm của con người.
2. Những câu hát về tình cảm gia đình :
a. Bài 1 : Công cha như núi ngất trời

Thương thay con cuốc giữa trời,
Dầu kêu ra máu có người nào nghe.
Nội dung : Nỗi oan trái của người lao động không được lẽ công bằng soi tỏ.
b. Bài 3 : Thân em như trái bần trôi
Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu.
Nội dung : Thân phận chìm nổi, lênh đênh vô định không được làm chủ bản thân của
người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
5. Những câu hát châm biếm :
a. Bài 1, SGK, trang 51
Nội dung : Chế giễu những kẻ nghiện ngập, lười biếng bằng hình thức nói ngược để
giễu cợt, châm biếm.
b. Bài 2, SGK, trang 51
Nội dung : Phê phán những kẻ hành nghề mê tín, dốt nát, lừa bịp, lợi dụng lòng tin của
người khác để kiếm tiền. Đồng thời phê phán những kẻ mê tín mù quáng.
 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CA DAO :
- Ca dao trữ tình là một kiểu văn bản biểu cảm ;
- Khác với tác phẩm của các cá nhân, ca dao trữ tình là những bài thơ, câu thơ có tính
chất tập thể và truyền miệng ;
- Một số thủ pháp nghệ thuật thường gặp trong ca dao trữ tình : ẩn dụ, so sánh, tượng
trưng, …
C. THƠ :
I. Thơ Việt Nam : ( Trung đại và hiện đại )
STT TÊN VĂN
BẢN
TÁC
GIẢ
THỂ
THƠ
NỘI DUNG CHÍNH NGHỆ
THUẬT

đạt cô đúc, dồn
nén cảm xúc
vào bên trong ý
tưởng
3 Bánh trôi
nước
Hồ Xuân
Hương
Thất ngôn
tứ tuyệt
Vẻ đẹp, phẩm chất trong
trắng, son sắt của người
phụ nứ Việt Nam ngày
xưa vừa được trân trọng
vừa cảm thương sâu sắc
Ngôn ngữ bình
dị, nhiều lớp
nghĩa
4 Qua Đèo
Ngang
Bà Huyện
Thanh
Quan
Thất ngôn
bát cú
Đường luật
Cảnh Đèo Ngang thoáng
đãng mà heo hút thấp
thoáng có sự sống con
người nhưng còn hoang

với thiên nhiên, tâm hồn
nhạy cảm, lòng yêu nước
sâu nặng và phong thái
ung dung, lạc quan của
Bác Hồ.
Hai bài thơ có
nhiều hình ảnh
thiên nhiên đẹp,
có màu sắc cổ
điển mà bình dị,
tự nhiên.
7 Tiếng gà trưa Xuân
Quỳnh
Ngũ ngôn Tiếng gà trưa đã gọi về
những kỉ niệm đẹp đẽ của
tuổi thơ và tình bà cháu.
Tình cảm gia đình đã làm
sâu sắc thêm tình quê
hương đất nước
Thơ 5 tiếng có
cách diễn đạt
tình cảm tự
nhiên và nhiều
hình ảnh bình
dị, chân thực.
 MỘT SỐ TÁC PHẨM ĐỌC THÊM : ( Tham Khảo )
1. Bài ca Côn Sơn ( Nguyễn Trãi )
2. Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra ( Trần Nhân Tông )
3. Sau phút chia li ( Đoàn Thị Điểm )
II. Thơ nước ngoài : ( Trung Quốc )

Tình yêu quê hương
thắm thiết của một người
sống xa quê lâu ngày,
trong khoảnh khắc vừa
mới đặt chân trở về quê
cũ.
Giọng thơ chân
thực mà sâu sắc,
hóm hỉnh mà
ngậm ngùi.
 MỘT SỐ TÁC PHẨM ĐỌC THÊM : ( Tham Khảo )
1. Bài ca nhà tranh bị gió thu phá ( Mao ốc vị thu phong sở phá ca ) ( Đỗ Phủ )
2. Xa ngắm thác núi Lư ( Vọng Lư sơn bộc bố )( Lí Bạch )
D. TÙY BÚT :
STT TÊN VĂN
BẢN
TÁC
GIẢ
XUẤT
XỨ
NỘI DUNG CHÍNH NGHỆ
THUẬT
1 Một thứ quà
của lúa non :
cốm
Thạch
Lam
Trích từ
tập Hà Nội
băm sáu

Hà Nội và miền Bắc
được cảm nhận, tái hiện
trong nỗi nhớ thương da
diết của một người xa
quê
Bài tùy bút đã
biểu lộ chân
thực và cụ thể
tình quê hương,
đất nước, lòng
yêu cuộc sống
và tâm hồn tinh
tế, nhạy cảm,
ngòi bút tài hoa
của tác giả.
 MỘT SỐ HÌNH THỨC ÔN TẬP KHÁC :
1.Xem vài đặc điểm thơ trung đại ( SGK/63 )
2. Đặc điểm tùy bút ( SGK/161 )
- Tùy bút không có cốt truyện và có thể không có nhân vật ;
4
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 7
- Tùy bút sử dụng nhiều phương thức biểu đạt nhưng biểu cảm là phương thức chủ yếu ;
- Tùy bút có những yếu tố gần với tự sự nhưng chủ yếu thuộc loại trữ tình.
3. So sánh tình huống thể hiện tình yêu quê hương và cách thể hiện tình cảm qua hai bài
thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh và Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê.
Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh.
- Tình cảm quê hương biểu hiện lúc ở xa
quê
- Tình cảm biểu hiện trực tiếp
- Tình cảm biểu hiện nhẹ nhàng, sâu lắng

- VD : Bàn tay nhỏ nhắn của em tôi nắn nót từng nét chữ rất dễ thương.
2.3 Phân biệt từ láy với từ ghép đẳng lập : máu mủ, tóc tai, khuôn khổ, …( từ ghép )
III. ĐẠI TỪ :
5
Từ láy
Từ láy toàn bộ : đo đỏ, đăm
đăm, bần bật, …
Từ láy bộ phận : mếu máo,
liêu xiêu, …
Láy âm : mếu máo, … Láy vần : liêu xiêu, …
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 7
1. Thế nào là đại từ ? ( Đặc điểm của đại từ )
→ Trả lời : - Đại từ dùng để trỏ người, sự vật, hoạt động, tính chất, …được nói đến trong
một ngữ cảnh nhất định của lời nói hoặc dùng để hỏi.
- Đại từ có thể đảm nhiệm các vai trò ngữ pháp như chủ ngữ, vị ngữ trong câu
hay phụ ngữ của danh từ, động từ, tính từ, …
2. Trình bày các loại đại từ :
→ Trả lời :
• Đại từ dùng để trỏ : - Trỏ người, sự vật ( gọi là đại từ xưng hô ) : tôi, tao, chúng tôi, nó,
họ,…
- Trỏ số lượng : bấy, bấy nhiêu, …
- Trỏ hoạt động, tính chất, sự việc : vậy, thế, …
• Đại từ để hỏi : - Hỏi về người, sự vật : ai, gì,
- Hỏi về số lượng : bao nhiêu, mấy, …
- Hỏi về hoạt động, tính chất, sự việc : sao, thế nào …
3. Bài tập : trang 56,57
IV. TỪ HÁN VIỆT :
1. Phân biệt từ ghép Hán Việt với từ ghép thuần Việt :
→ Trả lời :
- Cũng như từ ghép thuần Việt, từ ghép Hán Việt gồm từ ghép đẳng lập và từ ghép chính

- Dùng quan hệ từ mà không có tác dụng liên kết.
3. Bài tập :
3.1 Các bài tập Tr 98, 99
3.2 Các bài tập 1,2,3,4 Tr 107, 108
VI. TỪ ĐỒNG NGHĨA :
1. Thế nào là từ đồng nghĩa ?
→ Trả lời : Từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau. Một từ
nhiều nghĩa có thể thuộc vào nhiều nhóm từ đồng nghĩa khác nhau.
2. Có những loại từ đồng nghĩa nào ?
→ Trả lời : Từ đồng nghĩa có hai loại : những từ đồng nghĩa hoàn toàn ( không phân biệt
nhau về sắc thái nghĩa ) và những từ đồng nghĩa không hoàn toàn ( có sắc thái nghĩa khác
nhau ).
3. Bài tập : trang 115,116, 117
VII. TỪ TRÁI NGHĨA :
1. Thế nào là từ trái nghĩa ?
→ Trả lời : Từ trái nghĩa là những từ có nghĩa trái ngược nhau. Một từ nhiều nghĩa có thể
thuộc nhiều cặp từ trái nghĩa khác nhau.
2. Bài tập : Tr 129.
VIII. TỪ ĐỒNG ÂM :
1. Thế nào là từ đồng âm ?
→ Trả lời : Từ đồng âm là những từ giống nhau về âm thanh những nghĩa khác xa nhau,
không liên quan gì với nhau.
2. Nhờ đâu phân biệt nghĩa của các từ đồng âm ?
→ Trả lời : Trong giao tiếp phải chú ý đầy đủ đến ngữ cảnh để tránh hiểu sai nghĩa của từ
hoặc dùng từ với nghĩa nước đôi do hiện tượng đồng âm.
3. Phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa :
- Từ đồng âm : âm giống nhau, nghĩa khác xa nhau ( không có liên hệ với nhau về nghĩa )
♣ Ví dụ : ( bức ) tranh, (cỏ ) tranh,…
- Từ nhiều nghĩa : các từ có liên hệ với nghĩa gốc.
♣ Ví dụ : cổ ( cò ), cổ ( chai ), …

Dân tộc đó ( 2 lần )
b. Đi cấy ( 2 lần )
Trông ( 9 lần )
3.2. Tìm điệp ngữ và cho biết dạng điệp ngữ gì ? ( BT2, SGK/153 )
- Xa nhau : cách quãng
- Một giấc mơ : điệp ngữ chuyển tiếp ( điệp ngữ vòng )
3. 3 Viết đoạn văn có sử dụng điệp ngữ.
ĐOẠN VĂN THAM KHẢO
Trăng là người bạn muôn đời của thi sỹ. Với Hồ Chí Minh cũng vậy, trăng từ lâu đã trở
thành người bạn tri âm, tri kỉ của Người. Mỗi đêm trăng Người lại gửi gắm tâm sự qua những
vần thơ. Cũng bởi yêu trăng nên trăng trong thơ Bác rất đẹp. Trăng rằm tròn vằng vặc,
trăng mùa xuân lung linh dát bạc tô điểm cho sức sống mùa xuân.
XI. CHƠI CHỮ :
1. Thế nào là chơi chữ ? Cho ví dụ.
→ Trả lời : Chơi chữ là lợi dụng đặc sắc về âm, về nghĩa của từ ngữ để tạo sắc thái dí
dỏm, hài hước, … làm câu văn hấp dẫn và thú vị.
Ví dụ : Bà già đi chợ cầu Đông
Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng ?
Thầy bói xem quẻ nói rằng :
Lợi thì có lợi nhưng răng không còn.
2. Có những lối chơi chữ nào ?
→ Trả lời : Các lối chơi chữ thường gặp là : Dùng từ ngữ đồng âm ; Dùng lối nói trại âm (
gần âm ); Dùng cách điệp âm ; Dùng từ ngữ trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa.
3. Bài tập :
3.1 Xác định từ ngữ dùng để chơi chữ trong đoạn thơ :
Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà,
Rắn đầu biếng học chẳng ai tha.
Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ,
8
Nhấn mạnh sự quyết tâm, bền bỉ đấu tranh của dân tộc ta

2. Các bước làm bài văn phát biểu cảm nghĩvề tác phẩm văn học
a. Chuẩn bị
- Đọc bài văn, bài thơ …một vài lần, rút ra ấn tượng ban đầu. Đọc lần nữa để phát hiện
ra giọng điệu, chủ đề, những tư tưởng tình cảm cao đẹp, ngôn ngữ nghệ thuật …mà tác giả đã
diễn tả rất hay, gây cho mình nhiều ấn tượng.
- Gạch chân hoặc đánh dấu các chi tiết nghệ thuật, các hình ảnh các câu thơ, câu văn
hay nhất mà mình yêu thích nhất.
- Làm dàn bài dựng đoạn
- Nháp bài văn, đi từ mở bài đến kết bài, viết xong phần nào nên đọc lại phần ấy, sửa
chữa rồi viết tiếp phần sau. Nháp bài văn xong, đọc lại, sửa chữa, bổ sung rồi mới chép vào vở
hoặc viết vào tờ giấy thi.
- Văn phát biểu cảm nghĩ thuộc nghị luận văn chương
b. Bố cục một bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học
9
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 7
- Phần mở bài : Có thể giới thiệu một vài nét về tác phẩm ; nêu lên ấn tượng sâu sắc
nhất, khái quát nhất của mình khi đọc, khi xem tác phẩm ấy. Mở bài hay nhất là đạt được hai
yêu cầu sau : tính khái quát và tính định hướng.
- Phần thân bài : lần lượt nêu lên những tình cảm của riêng mình về những khía cạnh
của tác phẩm. Không lan man dài dòng mà nên xoáy sâu vào các trọng tâm trọng điểm. Phải
đi lần lượt, nhớ liên kết đoạn.
- Phần kết bài : Nêu lên cảm nghĩ chung, có thể đánh giá và liên hệ. Tránh dài dòng,
trùng lặp và đơn điệu, vô vị.
c. Thao tác cơ bản :
Phát biểu cảm nghĩ không thể nói chung chung mà phải rất cụ thể, phải chỉ ra được yêu
thích, thú vị …ở chỗ nào, tại sao lại yêu thích thú vị ? Nghĩa là phải phân tích và trích dẫn. Vì
vậy phân tích và trích dẫn là thao tác cơ bản nhất để phát biểu cảm nghĩ.
Có lúc phải khen, chê chính là viết lời bình khen chê phải chính xác. Lúc nào viết được
lời bình hay, sâu sắc thì bài phát biểu cảm nghĩ mới thực sự mang vẻ đẹp trí tuệ.
Có lúc phải biết liên tưởng so sánh. Từ hiện tượng này mà nghĩ, mà nhớ đến hiện tượng

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 7
huyện tồn tại trong đầu óc lũ cướp nước bấy lâu nay. Đặt nước mình ngang hàng với Bắc
quốc. Xưng vua Nam cũng là bác bỏ thái độ ngông nghênh của bọn vua chúa phương Bắc hay
tự xưng là thiên tử coi thường vua các nước chư hầu và gọi họ là vương. Các từ nước Nam,
vua Nam vang lên đầy kiêu hãnh thể hiện thái độ tự hào, tự tôn cùng tư thế hiên ngang làm
chủ đất nước của dân tộc Việt.
Câu thơ thứ 2 :Tiệt nhiên định phận tại thiên thư khẳng định chủ quyền của đất nước ta đã
được ghi rõ trên sách trời. Sách trời đã chia cho vua Nam có riêng bờ cõi. Người xưa quan
niệm rằng các vùng đất đai dưới mặt đất ứng với các vùng sao trên trời. Nước nào có vua
nước đó. Điều đó là do trời định nên thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Câu thơ nhuốm màu
sắc thần linh khiến cho chân lí nêu ở câu trên càng tăng thêm giá trị.
Câu thơ thứ 3 : Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm là câu hỏi đối với binh tướng giặc. Chủ
quyền độc lập của nước Nam không chỉ là chuyện của con người mà còn là chuyện rõ ràng,
minh bạch trên sách trời, không thể chối cãi, ai cũng phải biết, phải tôn trọng. Vậy cớ sao
quân giặc kia lại dám xâm phạm tới ? Câu hỏi thể hiện thái độ vừa bực tức, vừa khinh bỉ của
tác giả. Tác giả khẳng định cho chân lí hiển nhiên đã nêu ở trên bằng nghệ thuật đối lập giữa
cái phi nghĩa của lũ giặc dữ với cái chính nghĩa của nước Nam và sự phân chia minh bạch ở
sách trời.
Câu thơ thứ 4 : Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư, ý thơ vẫn tiếp tục thể hiện thái độ khinh bỉ
quân giặc và thể hiện niềm tin sắt đá vào chiến thắng tất yếu của quân ta.Ở trên tác giả gọi
quân xâm lược là giặc thì đến câu này ông đích danh như có chúng trước mặt : “chúng mày”
Cách xưng hô không khác gì người trên với kẻ dưới hàm ý coi thường, đồng thời nghiêm khắc
cảnh cáo chúng : nhất định phải tan vỡ.Y như là sự việc đã sắp đặt trước, chỉ chờ kết quả. Đó
là chúng mày thua to, thất bại thảm hại. Ngoài ý cảnh cáo giặc câu thơ còn thể hiện niềm tin
mãnh liệt vào sức mạnh quân ta trên dưới đồng lòng và niềm tự hào cao.
Bài thơ thần ra đời trong một hoàn cảnh cụ thể và nhằm vào một mục đích cụ thể. Cuộc đối
đầu giữa quân ta và quân địch trước phòng tuyến sông Như Nguyệt đang ở thế gay go ác liệt,
bài thơ ấy đã vang lên đúng lúc và được lan truyền nhanh chóng. Có thể tưởng tượng rằng lúc
ấy quân ta như được hun đúc trong ánh lửa thiêng, máu sôi lên và khí thế giết giặc ngùn ngụt
ngất trời. Tính chân lí của bài thơ có giá trị vĩnh hằng bởi nó khẳng định chủ quyền độc lập

say sưa với chiến thắng nhưng ta vẫn có thể cảm nhận được niềm phấn khởi, kiêu hãnh toát
lên từ âm hưởng của bài thơ. Trần Quang Khải là nhà thơ đầu tiên đã đưa địa danh sông núi
Đại Việt thân yêu vào thơ ca. Chương Dương và Hàm Tử đã in đậm vào lịch sử chống ngoại
xâm, vào lịch sử văn chương như một dấu son chói lọi. Phải là người trong cuộc, tha thiết yêu
non sông gấm vóc của nước mình, Trần Quang Khải mới viết được những câu thơ hào hùng
như thế.
Hai câu thơ sau :
Thái bình nên gắng sức,
Non nước ấy ngàn thu .
Đây là lời vị thượng tướng động viên dân chúng hãy bắt tay ngay vào công cuộc xây dựng,
phát triển đất nước trong hoà bình và tin tưởng sắt đá vào sự bền vững muôn đời của Tổ quốc.
Vừa từ chiến trường trở về chưa kịp nghỉ ngơi đã lo ngay đến nhiệm vụ trước mắt cũng như
kế sách lâu dài cho quốc gia, dân tộc chứng tỏ ông vừa là một chiến tướng vừa là một vị đại
thần luôn đặt trách nhiệm với dân với nước lên hàng đầu. Ngôn ngữ bài thơ Phò giá về kinh
rất giản dị nhưng ý tưởng chứa đựng bên trong thật lớn lao cho thấy tầm nhìn xa rộng và sáng
suốt của Trần Quang Khải. Bài thơ ra đời cách đây đã 800 năm nhưng đến nay ý nghiã của nó
vẫn còn nguyên vẹn. Bài học rút ra từ bài thơ là nếu chúng ta không chăm lo xây dựng đất
nước hùng mạnh, dân trí mở mang thì làm sao chống lại được ý đồ xâm lược đồng hoá của các
thế lực phản động nước ngoài đang rình rập nhòm ngó đất nước ta ? Cũng giống như bài
Sông núi nước Nam, bài Phò giá về kinh cũng thể hiện lòng yêu nước theo kiểu mộc mạc tự
nhiên nhưng mạnh mẽ, hào hùng. Hai bài thơ đều phản ánh bản lĩnh vững vàng, khí phách
hiên ngang của dân tộc ta. Một bài nêu cao chủ quyền độc lập thiêng liêng, khẳng định nước
Nam là của vua Nam, không kẻ nào được phép xâm phạm, nếu cố tình xâm phạm sẽ chuốc lấy
thất bại. Một bài thể hiện khí thế hào hùng và bày tỏ khát vọng xây dựng, phát triển đất nước
trong hoà bình với niềm tin đất nước sẽ bền vững nghìn thu.
Phò giá về kinh là một kiệt tác trong văn học cổ của nước ta. Ý thơ hàm súc, cô đọng, ngôn
ngữ giản di, gợi cảm, thể hiện niềm tự hào về sức mạnh chính nghĩa to lớn của dân tộc ta
trong các cuộc chiến tranh giữ nước, chống xâm lược Nguyên Mông. Đồng thời nhắc nhở
mỗi người Việt Nam phải biết nâng cao ý thức trách nhiệm công dân trong việc bảo vệ và xây
dựng đất nước thanh bình giàu đẹp và bền vững muôn đời.

sắt son thuỷ chung, chịu thương chịu khó của người phụ nữ Việt Nam trong cuộc đời. Câu thơ
thể hiện niềm tự hào và biểu lộ khá đậm tính cách hồ Xuân Hương. Bài thơ nói về bánh trôi
nước, một món ăn dân tộc bằng một ngôn ngữ bình dị, dân gian.Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt
được Việt hoá hoàn toàn. Thơ hàm súc đa nhĩa giàu bản sắc Xuân Hương.
Bánh trôI nước là 1 bài thơ hay, có giá trị sâu sắc. Bài thơ biểu lộ niềm cảm thông và tự
hào đối với số phận, thân phận và phẩm chất của người phụ nữ việt Nam.
Bài 4
Phát biểu cảm nghĩ của em về bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan
Bà Huyện Thanh quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh sống trong nửa đầu thế kỉ 19, là 1 trong
số nữ sĩ tài danh hiếm có, bà để lại 6 bài thơ Nôm.Thơ bà hay nói đến hoàng hôn, man mác
buồn, giọng điệu du dương, ngôn ngữ trang nhã, hồn thơ đẹp, điêu luyện. Xuất thân trong 1
gia đình quan lại, có nhan sắc, có học, có tài thơ Nôm, giỏi nữ công gia chánh, Bà Huyện
Thanh Quan được vua Minh Mệnh vời vào kinh đô Phú Xuân làm quan nữ “Cung trung giáo
tập”. Trên đường vào Phú Xuân, bước tới Đèo Ngang lúc chiều tà, cảm xúc dâng trào lòng
13
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 7
người bà sáng tác bài Qua đèo Ngang. Bài thơ tả cảnh đèo Ngang lúc xế tà và nói lên nỗi buồn
cô đơn, nỗi nhớ nhà của người lữ khách –nữ sĩ .
Lần đầu nữ sĩ bước tới đèo Ngang, đứng dưới chân đèo đệ nhất hùng quang này, địa giới
tự nhiên giữa hai tỉnh Hà Tĩnh – Quảng Bình, vào thời điểm bóng xế tà, lúc mặt trời đã nằm
ngang sườn núi, ánh mặt trời đã tà, đã nghiêng, đã chênh chếch. Trời sắp tối. Âm tà cũng gợi
buồn thắm thía. Câu 2 tả cảnh sắc : cỏ, cây, hoa, lá, đá. Hai vế tiểu đối, điệp ngữ chen, vần
lưng đá -lá, vần chân tà-hoa, thơ giàu âm điệu, réo rắt như một tiếng lòng, biểu lộ sự ngạc
nhiên và xúc động về cảnh sắc hoang vắng nơi Đèo Ngang 200 năm về trước :
Cỏ cây chen lá, đá chen hoa
Chỉ có hoa rừng, hoa dại, hoa sim, hoa mua. Cỏ, cây, hoa, lá phải chen với đá mới tồn tại
được. Cảnh vật hoang sơ, đến nao lòng.
Nữ sĩ sử dụng phép đối và đảo ngữ trong miêu tả đầy ấn tượng. Âm điệu thơ trầm bổng du
dương, đọc lên nghe rất thú vị
Lom khom dưới núi tiều vài chú

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 7
Bài 5
Cảm nghĩ của em về tình bạn trong bài thơ Bạn đến chơi nhà của nhà thơ Nguyễn
Khuyến
Nguyễn Khuyến ( 1835-1909 ) là nhà thơ Nôm kiệt xuất của dân tộc.Ông để lại nhiều bài
thơ nói về tình bạn.Bạn đến chơi nhà là một trong những bài thơ Nôm đặc sắc của ông nói lên
một tình bạn cao đẹp.
Câu nhập đề rất tự nhiên như một lời nói mộc mạc của nhà thơ sau bao tháng ngày mới gặp
lại bạn.Lời chào vồn vã, biểu lộ niềm vui mừng khôn xiết :
Đã bấy lâu nay bác tới nhà
Chữ bác gợi lên thái độ niềm nở, thân mật và kính trọng của nhà thơ đối với bạn tri âm, một
cách xưng hô thân tình. Đằng sau câu thơ -lời chào hỏi –có thể là những giọt lệ ứa ra ở khoé
mắt đôi bạn già. Đã bấy lâu nay là bao nhiêu năm tháng ? Tính thời gian không được xác định
cụ thể, nhưng chắc chắn là đã khá lâu, vì sức yếu tuổi già nên xiết bao đợi chờ mong nhớ. Bộ
phận trạng ngữ chỉ thời gian được đặt lên đầu câu thơ diễn tả sự xa cách nhớ mong, làm nổi
bật ý thơ : niềm xúc động và niềm vui sướng vô hạn khi gặp lại bạn. Chữ bác được nói đến
trong bài thơ là bạn chí thân, ở xa lâu ngày mới gặp nên tác giả rất mừng và cảm động.
Sáu câu thơ tiếp theo toát lên một nụ cười hóm hỉnh. Một ý thơ bao trùm : đã lâu ngày bạn
mới đến chơi, biết lấy gì đãi bạn đây ? Một tình thế khá éo le : trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.
Chữ thòi là một hư từ rất ít khi xuất hiện trong thơ vì dễ rơi vào sự tầm thường nhạt nhẽo.
Nhưng dưới ngòi bút của Tam Nguyên Yên Đỗ, nó trở nên thanh thoát tự nhiên vô cung
chứng tỏ ông có một bản lĩnh nghệ thuật điêu luyện.
Phần thực và luận, tính hệ thống của ngôn ngữ thơ rất chặt chẽ nhất quán ở một cách nói,
một lối biểu cảm: có tất cả mà cũng chẳng có gì để đãi bạn thân ! Có ao và cá, có vườn và gà,
có cà và cải, có mướp và bầu nhưng Bức tranh vườn Bùi hiện lên sống động, vui tươi. Một
nếp sống dân dã, chất phác, cần cù, bình dị đáng yêu. Một cuộc đời thanh bạch ấm áp và tình
người rất đáng tự hào. Chúng ta như cảm thấy Nguyễn Khuyến như dắt tay bạn ra thăm vườn
cây, ao cá, tận hưởng thú vui dân dã của một ông quan về quê ở ẩn. Phép đối chặt chẽ, phân
minh : cảnh với cảnh, tạo nên một giọng thơ nhẹ nhàng, vui tươi, lời thơ cân xứng.
Các tính từ sâu, cả, rộng, thưa ; các trạng từ chỉ tình trạng khôn, khó ; các trạng từ chỉ sự

Lí Bạch ( 701-762 ) là một trong những nhà thơ lớn đời Đường.Ông để lại trên 1000 bài
thơ. Thiên nhiên tráng lệ, trăng và rượu, tình bằng hữu, tình cố hương, lòng khát khao tự do
được diễn tả qua những vần thơ lãng mạn.Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh là nỗi buồn nhớ cố
hương sâu lắng của LB. Đây là bài thơ dịch :
Đầu giường ánh trăng rọi,
Ngỡ mặt đất phủ sương.
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ cố hương.
Bài thơ được viết theo thể ngũ ngôn tứ tuyệt, vẻn vẹn có 20 chữ nhưng đã tạo nên một bức
tranh thuỷ mặc về cảnh mộng đêm trăng gợi lên vẻ đẹp tâm hồn của thi nhân với bút pháp
lãng mạn thần tình. Đêm về khuya càng trở nên thanh tĩnh. Không gian bốn bề vắng lặng.
Không một tiếng gió thổi, một tiếng côn trùng kêu, cũng chẳng có một tiếng chuông chùa
ngân buông. Nhà thơ chợt tỉnh giấc thấy mình nằm dưới trăng. Cả một không gian ngập tràn
ánh trăng. Ánh sáng rọi vào đầu giường. Thật cảm động, trăng đến khơi gợi một nguồn thơ và
trăng là chất liệu tạo nên vần thơ dào dạt. Ánh trăng sáng quá, tải khắp không gian bao phủ
khắp mặt đất.Câu thơ thư 2 biểu hiện một trạng thái ngỡ ngàng của thi nhân vừa tỉnh giấc vừa
nhìn trăng. Trăng đẹp và thơ mộng. Đêm đã sang canh, êm đềm thanh tĩnh. Chỉ có trăng và
nhà thơ. Thế rồi thi tiên LB ngẩng đầu ngắm trăng. Trăng với thi nhân như đôi bạn tri âm gặp
nhau, nhìn nhau cảm động không nói nên lời. Cả ba câu thơ đều tả ánh trăng trong đêm thanh
tĩnh với tâm trang ngỡ ngàng và bồi hồi của thi nhân. Câu 1 và câu 3 tả trăng bằng trực giác,
câu 2 tả trăng bằng cảm giác. Một không gian vừa thực vừa mộng, huyền ảo lung linh
Đầu giương ánh trăng rọi
Ngỡ mặt đất phủ sương .
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Lí Bạch đang sống ở nơi đất khách quê người. Giữa đêm khuya thanh tĩnh chỉ có trăng và
thi nhân. Ba câu thơ đầu gợi tả một tâm trang : nỗi buồn cô đơn của khách xa quê
Hai câu 3 và 4 được cấu trúc theo phép đối :
16
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 7
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,

Hồ Chí Minh không những là vị lãnh tụ vĩ đại, người cha già của dân tộc Việt Nam mà còn
là một thi sĩ nổi tiếng. Đọc bài Cảnh khuya mà em càng thấy rõ hơn tâm hồn thi sĩ và tấm lòng
của người chiến sĩ trong Bác. Em thấy say mê cảnh đẹp hùng vĩ nên thơ của núi rừng Việt Bắc
–cái nôi của Cách mạng. Em cũng rất khâm phục kính yêu lòng yêu nước vĩ đại của Bác.
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
17
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 7
Đầu tiên là âm thanh tiếng suối trong rừng đêm vắng Việt Bắc, nghe như tiếng hát của con
người từ xa vọng lại làm ấm lòng người. Bức tranh tươi đẹp của rừng Việt Bắc thể hiệm ở
ngay hai câu thơ đầu :
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
Cảnh thiên nhiên núi rừng Việt Bắc bỗng trở nên thơ mộng hơn, tươi đẹp hơn nhờ biện
pháp so sánh tài tình và độc đáo :Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Âm thanh mới trong trẻo, du dương ngân nga làm sao. Âm a ở cuối câu thơ gợi nên cung
bậc của tiếng suối, tiếng suối đều đặn, miên man mang lại cho tâm hồn em một âm hưởng
thiết tha ngọt ngào mà sâu lắng. Nghệ thuật so sánh còn tạo ra một vẻ đẹp mới cho hình ảnh
thơ : Bác biến dòng suối trở thành một con người có tâm hồn, có tình cảm, biến tiếng suối
bằng tiếng hát, một âm thanh trong trẻo, trẻ trung. Tiếng suối như có hồn của người nghệ sĩ.
Bác đứng dưới rừng Việt Bắc thưởng thức tiếng suối, thưởng thức cảnh thiên nhiên của núi
rừng khi đã về khuya. Phải rất say mê, hoà hợp thân thiết với thiên nhiên bác mới nhìn thấy vẻ
đẹp của thiên nhiên như thế. Thiên nhiên tạo ra vẻ đẹp trong tâm hồn Bác. Đọc đến đây dẫu
không phải là một nghệ sĩ, không thân thiết được với thiên nhiên như Bác em cũng thấy lòng
mình rung động mãnh liệt. Em thấy vô cùng sung sướng, xúc đông và em như thấy con suối
hiện ra trước mắt mình thật lung linh huyền ảo.
Sau đó là hình ảnh lung linh của rừng Việt Bắc dưới ánh trăng đẹp. Trăng chiếu trên cây cổ
thụ, lồng vào các cành lá cổ thụ, in xuống mặt đất như dát hoa trên mặt đất )

khiến em xúc động. Em càng kính yêu khâm phục vô bờ bến với tâm hồn, trái tim vĩ đại của
Bác
Đọc Cảnh khuya em vừa say mê với cảnh, vừa khâm phục phẩm chất và tâm hồn của
Bác. Đọc bài thơ em bắt gặp tâm hồn của người thi sĩ và tấm lòng của người chiến sĩ. Tâm
hồn ấy, tấm lòng ấy kết hợp hài hoà trong con người Bác, làm nên cái vĩ đại của Bác. Bác
không bao giờ sao nhãng việc nước, sao nhãng việc quân dù chỉ trong một chút thư giãn với
thiên nhiên hay một thoáng mơ màng sau một ngày làm việc vất vả .
Bài 9
Hãy phát biểu cảm nghĩ của em về bài thơ Rằm tháng Giêng của chủ tịch Hồ Chí Minh
.
Dàn ý
1. Mở Bài :
Giới thiệu tác giả, hoàn cảnh ra đời ,nội dung bài thơ và cảm nghĩ chung của em .
2 Thân bài :
Nêu cảm nghĩ theo từng câu thơ ( vận dụng các biện pháp liên tưởng, tưởng tượng, so
sánh )
- Câu đầu gợi lên một không gian tràn đầy sức sống của mùa xuân.Vầng trăng đêm rằm ở độ
tròn đầy và toả sáng nhất. Câu thơ tả vầng trăng với thời gian, không gian cụ thể
- Câu thứ 2 : Cảm xúc mùa xuân dào dạt trong lòng nhà thơ, và cả trong lòng người đọc. Ba
chữ xuân ( Xuân giang, xuân thuỷ tiếp xuân thiên ) cùng với trăng rằm mùa xuân tạo nên 4 nét
vẽ, 4

thành viên của một bức tranh xuân độc lập nhưng hợp nhất trong sự mênh mông của trời
đất dưới ánh trăng.
- Câu 3 : Trên cái nền trăng là con người và chiếc thuyền trên dòng sông nước toả hơi mịt
mờ như khói. Con thuyền giữa dòng sông như ở giữa một vùng hư ảo. Bác làm việc quân
trong không gian và thời gian ấy. Cái mộng trở nên thực và cái thực cũng vì thế mà bay lên
đẹp hơn. Đàm quân sự là bàn việc đời sống, việc cứu nước cứu dân. Chuyện chính nghĩa nên
đẹp và thi vị.
- Câu 4 : Trăng không chỉ sáng trên trời, trên sông, trên nước mà đã tràn trề trong tâm hồn

lính trẻ sống lại, nhớ lại màu hồng trứng gà trên ổ rơm, nhớ lại đàn gà đông đúc mà bà đã tần
tảo chắt chiu. Ta như được ngắm một bức tranh gà rất sống động, rất đẹp :
Tiếng gà trưa
Ổ rơm hồng những trứng
Này con gà mái mơ
Khắp mình hoa đốm nắng
Này con gà mái vàng
Lông óng như màu nắng .
Có màu hồng của trứng gà trong ổ rơm, có sắc đốm của gà mái hoa mơ, có lông óng như
màu nắng của con gà mái vàng. Cấu trúc song hành xứng đôi, chữ này điệp lại hai lần, ta cảm
thấy tay bà, tay cháu đang chỉ đang đếm những con gà mái đang tìm mồi trong sân nhà.
Nghe tiếng gà trưa cất lên nơi xóm nhỏ, người lính lại bồi hồi nhớ lại bao kỉ niệm về bà.
Quên sao được tiếng mắng của bà vì tội cháu nhìn gà đẻ. Sợ bị lang mặt cháu nhớ mãi hình
ảnh tay bà khum soi trứng, bà tần tảo chắt chiu từng quả trứng hồng cho con gà mái ấp. Là
cháu nhớ tới bao nỗi lo, niềm mong ước của bà với tình thương bao la. Cái hay của thơ Xuân
Quỳnh có lúc là ở những chi tiết nghệ thuật, tuy rất bình dị mà sống động nên thơ. Đó là cái ổ
rơm hồng những trứng, là hình ảnh tay bà khum soi trứng. Đó là tiếng sột soạt của bộ quần áo
mới.
Tục ngữ có câu : già được bát canh, trẻ được manh áo mới. Cháu có bao giờ quên được cái
quần chéo go,cái áo chúc bâu ngày xưa bà mua cho sau mỗi lần bán gà.Tình thương cháu của
bà đã tạo nên hạnh phúc tuổi thơ.
Từ liên tưởng tác giả chuyển sang suy tưởng. Lần thứ 4 câu thơ Tiếng gà trưa lại cất lên.
Tiếng gà gọi về những giấc mơ tuổi thơ của người lính trẻ. Tiếng gà trưa bình dị mà thiêng
liêng, nó nhắc nhở, nó lay gọi bao tình cảm đẹp dâng lên trong lòng người chiến sĩ trên đường
hành quân ra trận thời chống Mỹ cứu nước:
Cháu chiến đấu hôm nay
Vì lòng yêu Tổ quốc
20
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 7
Vì xóm làng thân thuộc

Nội do bàn tay những cô gái làng Vòng làm ra thứ cốm dẻo và thơm ấy. Cốm Vòng ngon nổi
tiếng khắp cả nước. Những người làm ra cốm và gánh cốm đi bán rất duyên dáng, đáng yêu.
Đó là các cô gái làng Vòng xinh xinh áo quần gọn ghẽ với cái đòn gánh hai đầu cong vút như
chiếc thuyền rồng được bà con phố phường ngóng trông khi mùa cốm đến. Cốm đã ngon
người bán cốm lại xinh dòn, cuộc sống thêm sắc màu ý vị.
Cốm là sự kết tinh mọi thứ quý báu nhất tốt đẹp nhất của quê hương, là thức quà riêng biệt
của đất nước, là thức dâng của những cánh đồng lúa bát ngát xanh. Là cái hương vị mộc mạc
giản dị và thanh khiết của đồng quê nội cỏ An Nam.Hương vị của cốm được Thạch Lam cảm
thụ với tất cả sự trân trong và tự hào.Cốm như một nhân chứng, một sứ giả của tình yêu, là thứ
quà sêu tết làm cho tình yêu đôi lứa thêm bền đẹp vướng vít của tơ hồng. Tình duyên bền đẹp
của đôi lứa cũng như hồng cốm tốt đôi vậy. Sắc màu, hương vị của hồng của cốm là một sự
hoà hợp tuyệt vời : màu xanh tươi của cốm như ngọc thạch quý, màu đỏ thắm của hồng như
21
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 7
ngọc lựu già. Một thứ thanh đạm, một thứ ngọt sắc, hai vị nâng đỡ nhau để hạnh phúc được
bền lâu.Cách so sánh của Thạch Lam không chỉ sắc sảo tài hoa mà còn thể hiện một phong
cách ẩm thực rất sành điệu.
Phần cuối bài tuỳ bút Thạch Lam nói về cách ăn cốm, ăn cốm không thể ăn vội mà phải ăn
từng chút ít thong thả và ngẫm nghĩ để tận hưởng cái mùi thơm phức của lúa mới của hoa cỏ
dại ven bờ, cảm thụ được trong màu xanh của cốm cái tươi mát của lá non và trong chất ngọt
của cốm cái dịu dàng thanh đạm của loài thảo mộc. Hương vị của cốm còn có mùi hơi ngát
của lá sen già ướp lấy từng hạt cốm một. Tác giả viết rất gợi cảm, dùng chữ bao bọc nằm ủ để
nói về mối quan hệ tự nhiên giữa lá sen và cốm.
Sự cầu kì về cách diễn đạt biểu cảm của Thạch Lam không hề gây cho người đọc khó chịu
mà đã tô đậm chất thơ. Giọng văn của ông nhẹ nhàng có lúc như tâm sự, có lúc như khẽ nhắc
rất ân tình và thân mật. Ngòi bút nghệ thuật của tác giả rất tài hoa, giàu có trong việc chọn lọc
ngôn từ, nhất là các tính từ, các so sánh ẩn dụ để ca ngợi sự ngon lành thanh quý của cốm.
Một thứ quà của lúa non : cốm là một đoạn tuyệt phẩm hay nó đã đem đến cho chúng ta
bao dư vị, đã để ta thêm yêu mến tự hào về hương vị của quê hương xứ sở.
Bài 12

xuân trong thời điểm từ sau ngày rằm tháng giêng âm lịch.Ở đây đã bộc lộ sự quan sát và cảm
nhận rất tinh tế, nhạy cảm của tác giả trong từng chi tiết ngoại cảnh.Tác giả đã phát hiện và
miêu tả sự thay đổi chuyển biến của màu sắc và không khí bầu trời, mắt đất, cây cỏ trong một
khoảng thời gian ngắn ngủi từ đầu tháng qua rằm tháng giêng Qua đó cũng thấy rõ tác giả là
người không chỉ am hiểu kĩ càng mà còn rất yêu thiên nhiên, trân trọng sự sống và biết tận
hưởng những vẻ đẹp của cuộc sống.
Mùa xuân của tôi thể hiện phong cách của VB, một lối viết tài hoa, câu chữ mượt mà, lời
văn giàu hình ảnh, cảm xúc trong sáng đậm đà, giọng văn nhẹ nhàng mơn man như làn gió
xuân. Với Vũ Bằng tình yêu mùa xuân, yêu thiên nhiên Bắc Việt, yêu mùa xuân Hà Nội rất
nồng hậu đắm say, tình yêu ấy gắn bó với bao kỉ niệm, bao nỗi nhớ vơi đầy trong tâm hồn
khách xa quê. Trong hoàn cảnh đất nước bị quân thù chia cắt tác giả nhớ mùa xuân Hà Nội
cũng là nỗi nhớ quê hương, nhớ gia đình vợ con đã bao ngày tháng cách biệt.Tác giả đã kín
đáo gửi qua Thương nhớ 12 một niềm tin sắt son thuỷ chung về cội nguồn, về ý chí thống nhất
đất nước, về Bắc - Nam liền một dải, sum họp một nhà.
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status