i
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp chuyên ngành Nuôi trồng Thủy
sản, tôi đã được tiếp xúc và vận dụng lý thuyết vào thực tiễn sản xuất giống cá nhân
tạo. Tôi đã được trực tiếp thực hiện các thao tác kỹ thuật, nắm vững các qui trình
trong việc sản xuất giống không chỉ ở cá chim vây vàng mà ngay cả các loài cá
chẽm, cá hồng bạc…
Ở các đợt thực tập chuyên ngành trước, tôi chỉ biết qua sách và làm qua loa
các thao tác, các qui trình nuôi do số lượng sinh viên quá đông. Nhưng qua đợt thực
tập này, tôi đã một mình tự tay nuôi ra những chú cá khỏe mạnh và đáng yêu với sự
cố vấn của những người có kinh nghiệm. Tôi thực sự cảm thấy hứng thú và càng
thêm yêu nghề hơn.
Để hoàn thành được luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp
đỡ của quý thầy cô, các anh và các bạn ở trại sản xuất giống. Trước tiên, tôi xin
chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, Ban Chủ nhiệm
Khoa Nuôi trồng Thủy sản đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá
trình học và thực hiện đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ tận tình của thầy cô trong
khoa Nuôi trồng Thủy sản, đặc biệt là TS. Nguyễn Địch Thanh, Th.S Vũ Trọng Đại
và KS. Nguyễn Đức Thịnh đã định hướng và giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình
thực hiện đề tài.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi trong
thời gian thực tập cũng như trong suốt khóa học vừa qua.
Nha Trang, tháng 6 năm 2012
Sinh viên thực tập Trần Văn Tú
ii
iii
2.3.2. Thức ăn và kỹ thuật cho ăn 15
2.3.3. Kỹ thuật chuẩn bị thức ăn tươi sống 16
2.3.3.1. Nuôi tảo 16
2.3.3.2. Nuôi luân trùng 16
2.3.3.3. Ấp nở artemia 16
2.3.3.4. Thức ăn công nghiệp 16
2.3.4. Phương pháp xác định các yếu tố môi trường và các công thức tính toán. 17
2.3.5. Phương pháp xử lí số liệu. 18
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 19
3.1. Tìm hiểu hệ thống công trình và kỹ thuật chuẩn bị sản xuất 19
3.1.1. Hệ thống công trình ương 19
3.1.3. Kỹ thuật chuẩn bị bể ương 21
3.2. Kỹ thuật chuẩn bị thức ăn tươi sống 22
3.2.1. Kỹ thuật nuôi tảo. 22
3.2.2. Kỹ thuật nuôi luân trùng 24
3.2.3. Kỹ thuật ấp artemia 27
3.3. Kỹ thuật chăm sóc và quản lý bể ương 28
3.3.1. Thả giống và mật độ thả giống 28
3.3.2. Thức ăn và kỹ thuật cho ăn 29
3.3.2.1. Kỹ thuật cấp tảo cho bể ương 30
3.3.2.2. Kỹ thuật cấp luân trùng cho bể ương 31
3.3.2.3. Kỹ thuật cấp Artemia vào bể ương 32
3.3.2.4. Kỹ thuật làm giàu artemia và luân trùng 33
3.3.2.5. Thức ăn tổng hợp 34
3.3.3. Chế độ thay nước và siphon 35
3.3.3.1. Chế độ thay nước 35
3.3.3.2. Siphon 35
3.3.4. Theo dõi các yếu tố môi trường của bể nuôi 36
ppm : Phần triệu
ppt : Phần nghìn
% : Phần trăm
ct : Cá thể
vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Đơn vị, dụng cụ, độ chính xác của dụng cụ đo các yếu tố môi trường. 17
Bảng 3.1: Các chỉ tiêu môi trường trong khoảng thích hợp 22
Bảng 3.2: Thời gian và hàm lượng thức ăn cho luân trùng. 25
Bảng 3.3: Thành phần dinh dưỡng của artemia 27
Bảng 3.4: Thành phần lipit trong artemia 27
Bảng 3.5: Số lượng và mật độ ương ấu trùng 29
Bảng 3.6: Khẩu phần thức ăn cho ấu trùng cá chim vây vàng 30
Bảng 3.7: Một số chỉ tiêu chất lượng thức ăn NRD 34
Bảng 3.8: Biến động của các yếu tố môi trường trong quá trình ương 37
Bảng 3.9: Tăng trưởng về chiều dài của cá trong hai đợt ương 39
Bảng 3.10: Tỉ lệ sống của cá chim vây vàng. 41
vii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Cá chim vây vàng (Trachinotus blochii) 10
Hình 1.2: Phân bố của cá chim vây vàng trên thế giới 11
Hình 2.1: Sơ đồ nội dung nghiên cứu 14
Hình 2.2: Sơ đồ cung cấp thức ăn cho cá 15
Hình 3.1: Hệ thống bể ương 20
lẻ, tự phát mà không theo quy hoạch khiến nguồn nước ô nhiễm và lây lan dịch bệnh.
Hiện nay, một số loài cá có giá trị kinh tế đã và đang được nuôi ở Việt Nam
như: cá mú (Epinephelus spp), cá giò (Rachycentron canadum), cá chẽm (Lates
sp.), cá cam (Seriola spp), cá hồng (Lutijanus erythropterus) và cá chim vây vàng
(Trachinotus blochii).
Cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede, 1801) là loài cá có phân
bố tương đối rộng ở vùng biển nhiệt đới như Tây Thái Bình Dương, Nhật Bản, Đài
Loan, Indonesia, miền Nam Trung Quốc. Ở Việt Nam, cá phân bố chủ yếu ở vịnh
Bắc Bộ, miền Trung và Nam Bộ. Sau từ 6-12 tháng nuôi, cá đạt kích cỡ thương
phẩm từ 0,6 -1 kg/con, giá bán ngay tại lồng hoặc ao đầm là từ 130.000-150.000
VNĐ/kg, thị trường xuất khẩu chính là Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Hồng
Kông, Mỹ, Singapore.
Mặc dù là đối tượng mới nhưng với chủ trương đa dạng hóa đối tượng nuôi
nên cá chim vây vàng đã được nuôi ở Việt Nam trong những năm vừa qua. Tuy
nhiên, hiện nay nguồn giống cá chim vây vàng ở nước ta phần lớn đều phải nhập từ
Trung Quốc và Đài Loan nên giá thành cao, nguồn cung không ổn định mà sức
khỏe cá giống không được tốt và tỉ lệ sống thấp do thời gian vận chuyển lâu. Trong
khi đó, nguồn giống cá Chim vây vàng được sản xuất trong nước chưa ổn định, tỷ lệ
sống thấp, vì vậy cần phải tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện qui trình sản xuất giống để
2
nâng cao tỷ lệ ra giống, đảm bảo nguồn giống ổn định có chất lượng, đáp ứng được
nhu cầu của người nuôi.
Xuất phát từ thực tế trên, được sự cho phép của Khoa Nuôi trồng Thủy sản,
Trường Đại học Nha Trang, tôi thực hiện đề tài “Tìm hiểu kỹ thuật ương giống cá
chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede, 1801) giai đoạn từ 0 đến 60 ngày
tuổi tại Lương Sơn - Nha Trang” với các nội dung sau:
1. Tìm hiểu hệ thống bể ương và vệ sinh bể.
2. Thả giống và mật độ ương.
3. Các biện pháp kỹ thuật quản lý và chăn sóc.
Trong quá trình thực hiện đề tài, chắc chắn không tránh được thiếu sót, rất
1998, sản lượng cá hồi đại tây dương đã đạt tới 340.000 tấn (Hjelt, 2000). Sự thành
công của nền công nghiệp nuôi cá hồi ở Na Uy đã góp phần thúc đẩy nghề nuôi cá
biển trên thế giới ngày một lớn mạnh hơn.
Theo thống kê của FAO, giai đoạn từ năm 1988 - 1997 sản lượng cá nước
mặn và lợ trên toàn thế giới tăng trên 10% hàng năm. Năm 1997, sản lượng cá biển
nuôi trong khu vực này đạt 2 triệu tấn, trị giá 8 tỷ USD, trong đó sản lượng cá hồi
đại dương chiếm ưu thế với 640.000 tấn tương ứng 2,56 tỷ USD (Hambrey, 2000).
4
● Khu vực Địa Trung Hải
Cá Vược châu Âu (Dicentrachus labrax) và cá Tráp vàng (Sparus aurata) là
hai đối tượng chính được nuôi trong khu vực này với 97% sản lượng, bên cạnh đó
cá Hồi, cá Tầm, cá Ngừ vây xanh, cá Chình và cá rô phi cũng được nuôi ở một số
quốc gia khác nhưng chỉ chiếm sản lượng nhỏ (3%). Đến cuối thế kỷ XX, sản lượng
cá vược nuôi ở đây đạt 100 nghìn tấn do chủ động về con giống nhân tạo, quy mô
nuôi lớn và sử dụng thức ăn công nghiệp có chất lượng cao.
Dẫn đầu về nuôi cá biển ở khu vực này là Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Italia, Tây
Ban Nha. Các quốc gia Hồi giáo như: Ai Cập, Tuynidi, Ma Rốc, Xiri…mãi tới năm
1994 - 1995 mới bắt đầu tiến hành nuôi cá biển, nhưng chỉ sau 2 năm đã đạt sản
lượng vài nghìn tấn cá vược/mỗi năm.
● Khu vực Nam Mỹ
Nghề nuôi trồng thủy sản tại Nam Mỹ nổi tiếng từ lâu với các quốc gia khai
thác hải sản hàng đầu thế giới như: Pêru, Chilê, Argentina… Trong những năm gần
đây, nghề nuôi thủy sản phát triển rất nhanh với các nước mới như Ecuado – nước
đứng thứ 2 thế giới về nuôi tôm xuất khẩu. Đặc biệt là Chilê, chỉ sau một thời gian
ngắn đã trở thành quốc gia nuôi cá biển xuất khẩu hàng đầu Tây Bán Cầu và đứng
thứ 2 thế giới.
Vì mục tiêu là xuất khẩu nên các sản phẩm cá hồi nuôi của Chilê khá đa dạng
và đạt tiêu chuẩn chất lượng cao. Mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Chilê là cá Hồi
ướp đông nguyên con, chiếm 70 % khối lượng, cá hồi tươi chỉ chiếm 25 %, 5 % là
những năm gần đây nhiều trại nuôi tôm ở Thái Lan và Philippine đã chuyển sang
nuôi cá chẽm do nuôi tôm không hiệu quả (Rimmer, 2008).
Cá Bớp (Rachycentron canadum) là một loài quan trọng và đang được nhiều
quan tâm chú ý trong nghề nuôi cá biển khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Trong giai đoạn 2004 – 2005, sản lượng nuôi cá Bớp tăng từ 20,461 tấn lên 22,745
6
tấn. với giá trị sản lượng tương ứng tăng từ 36.2 triệu USD lên 41.2 triệu USD với
giá cả thị trường ổn định khoảng 1.80 USD/kg cá thương phẩm.
Trong thập kỷ qua, tổng sản lượng nuôi cá biển toàn khu vực đạt tốc độ tăng
trưởng hàng năm xấp xỉ 10% và gần nhất là 11% từ năm 2004 đến năm 2005 cho
thấy nghề nuôi biển vẫn tiếp tục trên đà tăng trưởng. Tính về giá trị sản lượng, sự
gia tăng giá trị 9% trong 2 năm 2004 – 2005 cho thấy nhu cầu thị trường vẫn còn
khá cao, đặc biệt có chiều hướng tăng nếu so với mức gia tăng giá trị hàng năm
(trung bình 4% mỗi năm) trong suốt giai đoạn 1996- 2005 [15].
1.1.2. Tình hình sản xuất giống và nuôi cá biển ở Việt Nam
Nghề nuôi cá bằng lồng trên biển ở Việt Nam bắt đầu hình thành và phát
triển vào những năm 90 của thế kỷ trước. Những đối tượng chủ yếu là: tôm hùm, cá
mú, cá chẽm, cá cam, cá giò, cá măng biển, cá hồng, cá chình, cá chẽm mõm nhọn,
cá ngựa, trai ngọc và các loài cá cảnh. Những khu vực nuôi chủ yếu là vùng biển
Quảng Ninh, Hải Phòng, dọc theo bờ biển miền Trung từ Thừa Thiên Huế đến Bình
Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu và một số tỉnh ven biển miền Tây Nam Bộ.
Năm 1994, viện Hải Dương Học đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh học
sinh sản và sản xuất giống thành công 2 loài cá ngựa: cá ngựa đen (Hippocampus
kuda) và cá ngựa ba chấm (H. trimaculatus). Sau 8 tháng ương nuôi có thể đạt chiều
dài 132 – 156 mm, tương ứng với khối lượng 12 - 15 g/con (Trương Sỹ Kỳ, 2000).
Năm 1994 - 1995, Viện nghiên cứu Hải sản - Hải Phòng đã nghiên cứu sản
xuất thành công giống cá mú mỡ (Epinphelus tauvina), cá mú đen (E. malabaricus)
tại vịnh Hạ Long. Kết quả sau 3 tháng ương nuôi đạt chiều dài 13 cm tương ứng với
khối lượng 50 g. Năm 2001 Viện nghiên cứu NTTS I đã nghiên cứu cho sinh sản
thành công loài cá Giò (Rachycentron canadum).
lượng gần 38 triệu con giống cỡ 2- 3cm để phục vụ nuôi thương phẩm trong nước
và xuất khẩu. Đến năm 2001, một số loài cá chim khác như: T. falcatus, T. ovatus
đã được sản xuất giống thành công trong tổng số 45 loài cá biển được sản xuất
giống tại quốc gia này (Yeh và CTV, 1998; Liao và CTV, 2001).
8
Thouard (1989) thí nghiệm nuôi cá chim loài T. goodie ở Pháp bằng thức ăn
công nghiệp với hàm lượng protein 50%, sau 5 tháng cá đạt cỡ 300g với tỉ lệ sống
83- 90%; Lazo và CTV (1998) đã nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein từ
35- 45% lên sinh trưởng của cá chim T. carolinus cho thấy hàm lượng protein thích
hợp cho sinh trưởng và phát triển của cá là 45%; Trong khi đó kết quả nghiên cứu
của Tatuman và CTV (2004) cho thấy hàm lượng protein ở mức 45% là phù hợp
cho ương nuôi cá chim vây vàng loài T.ovatus. McMaster (2003) thí nghiệm nuôi cá
chim vây vàng ở độ mặn 19‰, sử dụng thức ăn của công ty Aquafeed với hàm
lượng protein là 43%, lipit là 10% cho kết quả sau 4 tháng nuôi từ cỡ giống 10g cá
đạt cỡ 110g (Lại Văn Hùng và CTV, 2011).
Lan và CTV (2007), đã thử nghiệm ương giống cá chim vây vàng cỡ 4,9-
6,7g trong lồng với mật độ 222con/m
3
, cho ăn bằng thức ăn công nghiệp (47%
protein, 15% lipit) và sau 30 ngày ương cá đạt cỡ 14,4- 26,5g, tỷ lệ sống 90%, năng
suất 2,8- 5,3kg/m
3
, FCR từ 0,89- 1,86; Sau đó đàn giống này được sử dụng để nuôi
thương phẩm ngoài biển (thể tích lồng: 100m
3
, mật độ: 96con/m
3
), sử dụng thức ăn
công nghiệp (protein: 43% và lipit: 12%). Kết quả sau 146 ngày nuôi, cá đạt cỡ 577-
640g với tỉ lệ sống 99,2- 99,5%, năng suất 54,6- 61,3kg/m
2
và chiều dài trung bình đạt
29,24 ± 0,142 cm và khối lượng đạt 593,37 ± 2,6 g ở mật độ 2,5 con/m
2
. Kết quả
nghiên cứu cho thấy, cá chim vây vàng là loài phàm ăn, sống thành bầy đàn trong
ao, sinh trưởng nhanh, ít bị bệnh và tỷ lệ sống cao.
Năm 2009, cá chim vây vàng lần đầu tiên được thử nghiệm sản xuất giống
nhân tạo tại Khánh Hòa, kết quả sau hai năm nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ thành thục
của cá bố mẹ đạt trung bình 81,54%, tỷ lệ thụ tinh trung bình 78,53%, tỷ lệ nở
61,66-89,12%, số ấu trùng thu được qua 17 lần ấp là 12.628.000 con, đem ương với
mật độ 18-60 con/l, sau 30-37 ngày thu được 644.800 con cá hương cỡ 17.2-26.0
mm, tỷ lệ sống trung bình đạt 14.43%. Cá hương cỡ 17.2-26.0 mm sau 20-36 ngày
ương ở mật độ 1.000-1.500 con/m
3
thu được 404.500 con cá giống cỡ 4-5 cm [6].
Tóm lại cá chim vây vàng là loài mới được nghiên cứu ở Việt Nam có nhiều
ưu điểm như: rất háu ăn, tốc độ tăng trưởng nhanh, cá sống trong điều kiện rộng
muối (3 - 33 ppt), giá trị thương phẩm cao, thị trường xuất khẩu rộng… Do đó, cá
chim vây vàng được đánh giá là đối tượng có tiềm năng lớn trong phát triển nghề
nuôi cá thương phẩm ở các vùng nước lợ, mặn ở nước ta.
10
1.3. Một số đặc điểm sinh học của cá chim vây vàng
1.3.1. Hệ thống phân loại
Nghành: Vertebrata
Lớp: Osteichthyes
Bộ: Perciformes
Họ: Carangidae
Giống: Trachinotus
Hình 1.2: Phân bố của cá chim vây vàng trên thế giới
(Phần chấm đỏ là khu vực cá phân bố)
Cá chim vây vàng là loài cá nước ấm, có tập tính di cư, sống ở tầng giữa và
tầng mặt. Hàng năm khi mùa đông kết thúc, cá giống thường tập trung thành đàn
sống ở vũng vịnh, cửa sông. Cá trưởng thành sinh trưởng tốt nhất ở điều kiện nhiệt độ
22 – 28
o
C.
Cá chim vây vàng là loài cá rộng muối, chúng có thể sống trong điều kiện độ
mặn dao động trong khoảng từ 3 tới 33 ppt. Ở độ mặn dưới 20 ppt cá sinh trưởng
nhanh, trong điều kiện độ mặn cao tốc độ sinh trưởng của cá chậm lại. Nhu cầu hàm
lượng oxy hòa tan của cá lớn hơn 2,5 mg/L. Theo Potonetal (1989), cá trưởng thành
sống ở vùng cát hoặc gần vùng rạn san hô, độ sâu ít nhất 7 m. Ngoài ra, cá giống
thường thấy sống ở vùng đáy cát hoặc gần vùng đáy đất cát pha sét (Forlan, 2004).
12
1.3.4. Đặc điểm dinh dưỡng.
Cá chim vây vàng là loài cá ăn tạp, thiên về động vật, cá có thể kiếm thức ăn
ở trong cát, cá trưởng thành có thể bắt những động vật có vỏ cứng như: ngao, cua,
ốc. Giai đoạn cá giống thức ăn chính của cá là động vật phù du và động vật đáy, chủ
yếu là luân trùng, nauplius của Artemia. Thức ăn chính của cá con và cá trưởng
thành là các loại tôm, cá nhỏ và động vật thân mềm.
Trong điều kiện nuôi thương phẩm, cá giống cỡ 2 cm có thể ăn được cá tạp,
tôm tép băm nhỏ hoặc thức ăn tổng hợp. Cá trưởng thành ăn tôm nhỏ và thức ăn
công nghiệp hoặc ăn hoàn toàn thức ăn công nghiệp.
Theo Nur và CTV (2008), thức ăn cho các giai đoạn phát triển của cá được
sử dụng như sau: giai đoạn nuôi vỗ, cá bố mẹ được cho ăn cá tạp, hỗn hợp thức ăn
viên, có bổ sung vitamin E và vitamin tổng hợp. Khẩu phần cho ăn 3 - 5 % khối
lượng thân. Giai đoan ấu trùng, cá được cho ăn chủ yếu bằng thức ăn tươi sống
(luân trùng, nauplius -Artemia) và thức ăn tổng hợp. Cá được cho ăn bằng luân
nhân tạo cá có thể thành thục sớm hơn, cá bố mẹ có khối lượng từ 2 - 6 kg, tuổi 3
+
có thể được tuyển chọn để nuôi vỗ cho sản xuất giống nhân tạo [19].
Sức sinh sản tuyệt đối của cá chim vây vàng đạt 40 - 60 vạn trứng/cá cái.
Theo Nur và CTV (2008), cá chim vây vàng sử dụng cho sinh sản nhân tạo với tỷ lệ
đực : cái là 1 : 1, sử dụng kết hợp hormone HCG (liều lượng 250 IU/kg cá cái thành
thục) và Fibrogen (liều lượng 50 IU/kg cá cái thành thục), liều lượng tiêm cho cá
đực bằng ½ cá cái và tiêm 2 lần, khoảng cách giữa các lần là 24h, cá thường đẻ
trứng sau khi tiêm lần 2 từ 12 - 24h, cá đẻ khoảng 60 - 70 % tổng số trứng có trong
buồng trứng, đường kính trứng thụ tinh khi trương nước là 0,8 - 0,85 mm [20].
1.3.7. Quá trình phát triển của ấu trùng cá chim vây vàng.
Chiều dài trung bình của ấu trùng cá chim vây vàng 1 ngày tuổi là 2,77
mm. Noãn hoàng có chiều dài trung bình 0,55 - 1 mm. Có 1 giọt dầu (có chiều dài
0,2 - 0,325 mm) nằm phía trước noãn hoàng làm cho cá mới nở nổi đầu theo chiều
thẳng đứng hay khoảng 45
o
so với mặt phẳng nằm ngang. Ba ngày sau khi nở noãn
hoàng hầu như được cá sử dụng hết và giọt dầu còn không đáng kể. Chỉ những cá
hương khỏe mạnh (giai đoạn 20 - 30 ngày tuổi) mới bơi lội chủ động. Ở giai đoạn
30 - 60 ngày tuổi chiều dài trung bình của cá 2 - 5 cm. Giai đoạn này cá đã gần hoàn
thiện các cơ quan vây lưng, gai và tia vây [20].
14
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu.
- Đối tượng: cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede, 1801)
- Thời gian: 12/02-12/06/2012.
- Địa điểm: trại sản xuất giống, thôn Cát Lợi, xã Vĩnh Lương, thành phố Nha Trang.
Tìm hiểu
công trình
và kỹ
thuật
chuẩn bị
sản xuất
Kỹ thuật
chuẩn bị
thức ăn
tươi sống
Kỹ
thuật
nuôi
và
làm
giàu
luân
trùng
Thức
ăn và
kỹ
thuật
cho
ăn
Thả
giống
và
tảo
Kỹ
thuật ấp
và làm
giàu
artemia
15
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Hệ thống công trình và công tác chuẩn bị bể
Hệ thống công trình và trang thiết bị phục vụ sản xuất gồm có: Hệ thống bể
ương ấu trùng, hệ thống bể nuôi thức ăn sống, hệ thống bể chứa và xử lý nước và
các trang thiết bị khác.
Công tác chuẩn bị sản xuất: quét dọn vệ sinh xung quanh trại, đường đi, trần
nhà và tiến hành diệt khuẩn trong và ngoài trại bằng chlorine. Vệ sinh bể chứa và xử
lý nước bằng xà phòng và rửa sạch bằng nước ngọt sau đó bơm nước biển vào.
Xử lý nước: sử dụng chlorine với nồng độ 20- 30ppm, sục khí mạnh 24/24,
kiểm tra dư lượng chlorine bằng test chlorine sau đó đưa qua bể lọc cơ học. Chuẩn
bị bể ương và bể nuôi thức ăn sống: dùng nước ngọt và xà phòng để lau chùi và tẩy
rửa các bể. Sau khi các hoạt động trên đã thực hiện xong thì có thể cấp nước từ bể
lọc cơ học vào bể ương thông qua túi siêu lọc.
2.3.2. Thức ăn và kỹ thuật cho ăn
Thức ăn và thời gian cung cấp từng loại thức ăn cho các giai đoạn phát triển
của cá chim vây vàng là khác nhau, phụ thuộc vào kích cỡ miệng của cá. Theo Lại
Văn Hùng và CTV (2011), giản đồ cho ăn của ấu trùng cá chim vây vàng trong quá
trình ương nuôi như sau:
o
C, pH: 7,5 – 8,5. Túi nuôi
được treo chắc chắn trên giàn nuôi, cấp nước theo màu tảo. Sử dụng đèn huỳnh
quang để tăng cường chiếu sáng vào ban đêm hoặc những ngày mưa thiếu ánh sáng.
2.3.3.2. Nuôi luân trùng
Luân trùng Brachionus plicatilis được nuôi trong bể xi măng với thể tích 4-6
m
3
, mật độ nuôi: 100-200 ct/mL. Điều kiện môi trường: độ mặn: 20-33‰, nhiệt độ:
28-30
o
C, pH: 7,5 – 8,5.
Cho luân trùng ăn bằng tảo tươi hoặc bằng selco plus, men bánh mì. Sau 2-3
ngày nuôi có thể thu hoạch 1/3-1/2 bể rồi nuôi tiếp hoặc thu hoạch toàn bộ. Mật độ
luân trùng khi thu hoạch là 300-400 ct/mL.
2.3.3.3. Ấp nở artemia
Trứng artemia franciscana được mua từ thị trường và ấp trong xô có thể tích
100L ở độ mặn 25‰, nhiệt độ 25-30
o
C, sục khí mạnh, ánh sáng 24/24h. Sau 12-
14h, trứng bắt đầu bung dù và từ 17-20h trứng nở thành nauplius. Tùy vào nhiệt độ
và ánh sáng trứng có thể nở sớm hay muộn. Khi thu artemia, ta tắt sục khí từ 15-20
phút để vỏ trứng nổi lên, trứng hỏng chìm xuống đáy, dùng vợt vớt vỏ trứng ra,
dùng ống siphon hút trứng hỏng ra sau đó mới tiến hành làm giàu trước khi cho ấu
trùng cá ăn.
2.3.3.4. Thức ăn công nghiệp
Khi cá đạt 19 ngày tuổi, tiến hành cho cá ăn thức ăn công nghiệp với kích
thước viên thức ăn phù hợp với cỡ miệng của cá. Từ viên thức ăn có Ø: 300- 400µm
rồi chuyển sang Ø: 400- 600µm, 500- 800µm, 800- 1200µm.
17
1
L2: chiều dài cá kiểm tra tại thời điểm t
2
- Xác định tỉ lệ sống:
TLS = (X/N) x 100%
Trong đó: TLS: tỉ lệ sống (%)
X: số lượng ấu trùng ở thời điểm kiểm tra (con)
N: số lượng ấu trùng ban đầu (con)
- Cách xác định số lượng ấu trùng có trong bể:
N= (A/1) x V
Trong đó: A: Số lượng ấu trùng đếm được từ 1 lit mẫu
V: Thể tích của bể ương
1: Thể tích mẫu
N: Số lượng ấu trùng có trong bể
18
2.3.5. Phương pháp xử lí số liệu.
- Giá trị trung bình: Trong đó: X: giá trị trung bình mẫu; Xi: giá trị của mẫu thứ i.
n: số lượng mẫu.
- Độ lệch chuẩn:
- Hệ số phân đàn (C
V
):