nghiên cứu ảnh hưởng của độ muối, mật độ và thức ăn đến tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và màu sắc cá khoang cổ nemo (amphiprion ocellaris cuvier, 1830) thương mại - Pdf 20


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
THÁI QUỐC ĐẠI NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MUỐI, MẬT ĐỘ VÀ
THỨC ĂN ĐẾN TỶ LỆ SỐNG, TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG
VÀ MÀU SẮC CÁ KHOANG CỔ NEMO (Amphiprion
ocellaris Cuvier, 1830) THƯƠNG MẠI.

Chuyên ngành : Nuôi trồng thủy sản
Mã số : 60 62 70

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS. HÀ LÊ THỊ LỘC

iiLỜI CAM ĐOAN

Các số liệu và kết quả của luận án tốt nghiệp cao học là một phần trong nội
dung nghiên cứu của đề tài Khoa học Công nghệ Trọng điểm cấp Nhà nước Mã số KC.
06.05/06-10, giai đoạn 2007-2010 do Viện Hải dương học chủ trì. Được sự đồng ý của
chủ nhiệm đề tài, học viên đã cùng tham gia thực hiện đề tài và cùng sử dụng số liệu
của đề tài trên.
Tôi xin cam đoan các số liệu, các kết quả trình bày trong luận văn hoàn toàn
trung thực và học viên đã trực tiếp tham gia thực hiện nghiên cứu. Chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào trước đây.

Người cam đoan Thái Quốc Đại

1.1.2.4. Kích thước 5
1.1.3. Một số đặc điểm sinh thái 5
1.1.3.1. Đặc điểm môi trường sống 5
1.1.3.2. Đặc điểm cộng sinh giữa cá khoang cổ với hải quì 5
1.1.4. Đặc điểm sinh trưởng và tuổi cá 7
1.1.4.1. Sinh trưởng 7
1.1.4.2. Tuổi cá 7
1.1.5. Đặc điểm về dinh dưỡng 7
1.2. ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ SINH THÁI 8
1.2.1. Nhiệt độ: 8
1.2.2. Độ muối: 9
1.2.3. Mật độ 11
1.3. VAI TRÒ ASTAXANTHIN ĐỐI VỚI MÀU SẮC CỦA CÁ 12
1.4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ KHOANG CỔ
TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 13

iv

1.4.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 13
1.4.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 14
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 15
2.2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 15
2.2.1. Dụng cụ thí nghiệm 16
2.2.2. Nguồn nước thí nghiệm 16
2.2.3. Nguồn cá thí nghiệm 17
2.2.4. Nguồn thức ăn copepoda 17
2.2.5. Nguồn thức ăn Artemia 17
2.2.6. Nguồn thức ăn tổng hợp 17
2.2.7. Nguồn Astaxanthin 18

3.2.3 Ảnh hưởng của các mật độ nuôi khác nhau đến tỷ lệ sống của cá khoang cổ
nemo 34
3.3. THỬ NGHIỆM ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN ĐẾN TĂNG TRƯỞNG, TỶ
LỆ SỐNG VÀ MÀU SẮC CỦA CÁ KHOANG CỔ NEMO 35
3.3.1. Các yếu tố môi trường trong hệ thống bể thí nghiệm 35
3.3.2. Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng đến tăng trưởng của cá khoang cổ nemo.
36
3.3.3. Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng đến tỷ lệ sống của cá khoang cổ nemo
38
3.3.4. Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng đến màu sắc cá khoang cổ nemo. 39
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 44
4.1 KẾT LUẬN 44
4.2. ĐỀ XUẤT 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

viDANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Art: Artemia


vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Một số yếu tố môi trường trong hệ thống bể nuôi 24
Bảng 3.2: Sinh trưởng về chiều dài và khối lượng của cá khoang cổ nemo ở các độ
muối khác nhau 26
Bảng 3.3: Tốc độ tăng trưởng đặc trưng về chiều dài của cá khoang cổ nemo khi
nuôi ở các độ muối khác nhau 28
Bảng 3.4: Một số yếu tố môi trường trong bể nuôi thí nghiệm về ảnh hưởng của mật
độ đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ nemo 30
Bảng 3.5: Sinh trưởng về chiều dài và khối lượng của cá khoang cổ nemo kích
thước thương mại ở các mật độ khác nhau. 31
Bảng 3.6: Tốc độ sinh trưởng đặc trưng về chiều dài và tỷ lệ sống của cá nemo
thương mại ở các mật độ nuôi khác nhau. 32
Bảng 3.7: Một số yếu tố môi trường trong hệ thống bể nuôi 35
Bảng 3.8: Sinh trưởng về chiều dài và khối lượng của cá khoang cổ nemo kích
thước thương mại khi nuôi với các loại thức ăn khác nhau 36
Bảng 3.9: Tốc độ sinh trưởng đặc trưng về chiều dài và tỷ lệ sống của cá khoang cổ
nemo thương mại khi nuôi với các loại thức ăn khác nhau. 36
Bảng 3.10: Sự biến đổi màu sắc của cá theo thời gian thí nghiệm qua các loại thức

Hình 3.5: Khối lượng cá ở nghiệm thức mật độ khác nhau 33
Hình 3.6: Tỷ lệ sống cá ở các nghiệm thức mật độ khác nhau 34
Hình 3.7: Khối lượng cá khi nuôi với các loại thức ăn khác nhau 37
Hình 3.8: Chiều dài cá khi nuôi với các loại thức ăn khác nhau 38
Hình 3.9: Tỷ lệ sống của cá khi thí nghiệm các loại thức ăn khác nhau 38
Hình 3.10: Màu sắc của cá nuôi tại nghiệm thức cho ăn bằng Artemia và Copepoda
40
Hình 3.11: Màu sắc của cá nuôi tại nghiệm thức cho ăn bằng tổng hợp +
Astaxanthin và Artemia 41
Hình 3.12: Màu sắc của cá nuôi tại nghiệm thức cho ăn bằng tổng hợp và Artemia41
Hình 3.13: Màu sắc của cá thí nghiệm khi cho ăn bằng 4 loại thức ăn: Tổng hợp,
tổng hợp + Astaxanthin, Artemia và Copepoda 42

1

MỞ ĐẦU
Hằng năm trên thế giới tiêu thụ khoảng 35 triệu con cá cảnh biển, doanh thu đạt
hơn 200 triệu USD. Các nước xuất khẩu nhiều cá cảnh biển là Singapore, Indonesia,
Philipines. Riêng ở Việt Nam trong những năm gần đây cũng bắt đầu nghề kinh doanh
cá cảnh biển, ước tính hằng năm thu về khoảng 4 triệu USD [59]. Chính điều đó trong
những năm gần đây, làm cho thị trường cá cảnh biển ngày càng được mở rộng cả trong
và ngoài nước. Nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng đã đã làm cho cá rạn san hô bị khai
thác một cách bừa bãi, có nguy cơ dẫn đến cạn kiệt nguồn lợi. Cá khoang cổ cũng là
một trong những đối tượng đang bị khai thác mạnh có thể dẫn đến tình trạng suy thoái
quần đàn tự nhiên.
Cá khoang cổ hay còn gọi cá hải quì thuộc họ cá thia biển Pomacentridae bộ cá
vược (Perciformes). Cá khoang cổ được chú ý từ những năm cuối thế kỷ XIX nhưng

nghệ Nuôi trồng, Viện Hải dương học. Luận án tốt nghiệp cao học là một phần trong
nội dung nghiên cứu của đề tài Khoa học Công nghệ Trọng điểm cấp Nhà nước Mã số
KC. 06.05/06-10, giai đoạn 2007-2010. Học viên đã cùng tham gia thực hiện đề tài và
cùng sử dụng số liệu của đề tài trên.
Mục tiêu của luận án: Xác định các yếu tố độ muối, mật độ nuôi và thành
phần thức ăn ảnh hưởng đến tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và màu sắc của cá khoang
cổ nemo kích thước thương mại.
Nội dung nghiên cứu: gồm 3 phần
 Thử nghiệm các độ muối khác nhau ảnh hưởng đến tỷ lệ sống, tốc độ tăng
trưởng của cá khoang cổ nemo thương mại.
 Thử nghiệm các mật độ nuôi khác nhau ảnh hưởng đến tỷ lệ sống, tốc độ tăng
trưởng của cá khoang cổ nemo thương mại.
 Thử nghiệm thành phần thức ăn ảnh hưởng đến đến tỷ lệ sống, tốc độ tăng
trưởng và màu sắc của cá khoang cổ nemo thương mại.
Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của luận án:
Xây dựng cơ sở khoa học để nghiên cứu kỹ thuật nuôi thương mại, góp phần
từng bước hoàn thiện qui trình nuôi thương mại cá khoang cổ nemo (Amphiprion
ocellaris), tiến tới chủ động trong sản xuất cá kích cỡ thương mại phục vụ cho thị
trường cá cảnh biển trong nước và xuất khẩu.
3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ KHOANG CỔ
1.1.1 Hệ thống phân loại cá khoang cổ nemo
Theo hệ thống phân loại Froese et al (2000) [32], cá khoang cổ nemo được xác
định vị trí phân loại như sau:
Hình 1.2: Cá khoang cổ nemo (Amphiprion ocellris)

5
1.1.2.3. Hình thái
Cá khoang cổ nemo có số tia vây gồm: D. X -XI,13 -17; A 11- 13; P.16- 18 . Vảy
đường bên dao động từ 34 - 48. Vây lưng có 11 gai. Tia vây đuôi khoảng từ 56 đến 66
(thường từ 56 đến 62). Hàng vảy ngang từ gốc của vây lưng đến đường bên là 4-5 vảy.
Từ đường bên đến gốc vây hậu môn là 22-25. Răng dày, sắc bén, số lượng khoảng 28-
32 răng ở mỗi hàm [14].
1.1.2.4. Kích thước
Chiều dài tối đa của cá khoang cổ nemo là 11,0 cm (4,3 inches). Trong tự nhiên cá
có thể sống khoảng từ 6 đến 10 năm. Cơ thể có hình bầu dục dài, con cái thường có
kích thước lớn hơn con đực [14].
1.1.3. Một số đặc điểm sinh thái
1.1.3.1. Đặc điểm môi trường sống
Ngoài tự nhiên, hầu hết các loài cá khoang cổ đều sống quanh vùng rạn san hô
biển nhiệt đới, có dòng chảy lưu thông thường xuyên, nơi có độ sâu từ 1m đến 50 m
nước [46]. Đa số sống ở mực nước từ 5m - 15m. Nhiệt độ của vùng phân bố trong
khoảng 26 – 28
o
C, độ muối dao động từ 32 – 35 ‰, pH từ 8,0 – 8,5, chất đáy của
vùng phân bố thường là cát, đá, san hô hay cát sỏi, những nơi có hải quì phân bố [3].
Riêng loài cá khoang cổ nemo sinh sống ở vùng nước nông ven bờ, độ sâu mực nước
chỉ từ 0,5m đến 2m. Do nhiệt độ vùng nước nông dao động khá lớn nên cá có khả năng
chịu đựng được biên độ dao động nhiệt độ rộng hơn so với những loài cá khoang cổ
khác [8].
Dựa vào tính chất giới hạn về không gian nơi ở và nhịp điệu hoạt động theo chu
kỳ ngày đêm nên cá khoang cổ nemo được xếp vào nhóm cá định cư nổi gần đáy và

khoang cổ khi sống chung với hải quì là độc tố trong các xúc tu hải quì có thể diệt
khuẩn và diệt các ký sinh trùng ngoài da cá [34]. Mariscal (1970) đã thấy rằng những
cá khoang cổ nuôi nhốt không có hải quì thường dễ bị nhiễm bệnh hơn [41]. Ngược
lại, Bowman và Mariscal (1966) lại tìm thấy bọn Isopoda ký sinh trên loài cá khoang
cổ Amphiprion akallopisos khi đang cộng sinh với hải quì ở Seychelles (Mỹ).
Mariscal (1996), (1970), cho rằng các xúc tu của hải quì thường xuyên kích thích
lên cơ quan cảm giác của cá khoang cổ và điều này ảnh hưởng tốt đến sức khoẻ chúng.
Ông thấy rằng khi trong bể nuôi không có hải quì, cá đã cố gắng tạo những cảm giác
tương tự như ẩn mình trong các bọt sục khí, trốn trong các bụi rong biển hoặc các vật
thể tương tự [40],[41].
Verwey (1930), nhận thấy rằng đời sống cá khoang cổ bị lệ thuộc vào hải quì
nhiều hơn là hải quì lệ thuộc vào cá khoang cổ [52], Allen (1972) đã làm thí nghiệm
chuyển tất cả cá khoang cổ ra khỏi loài hải qùi Stichodactyla gigantea, (một loài hải

7
quì luôn luôn sống cộng sinh với cá khoang cổ). Qua ba tháng theo dõi thấy rằng hải
quì vẫn phát triển tốt mà không có sự hiện diện của cá khoang cổ [14].
1.1.4. Đặc điểm sinh trưởng và tuổi cá
1.1.4.1. Sinh trưởng
Cá khoang cổ nhìn chung sinh trưởng tương đối chậm. Sự sinh trưởng của cá
khác nhau tùy từng loài, nhưng ngay những cá thể cùng loài cũng có sự khác biệt. Giai
đoạn cá còn non và tiền trưởng thành, cá có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất [27]. Tại
Eniwetok, Allen (1972) đã làm thí nghiệm thấy rằng trong một đàn cá nuôi, những cá
lớn sẽ tăng trưởng nhanh hơn những cá nhỏ trong cùng một đàn do chúng cạnh tranh
thức ăn mạnh mẽ hơn. Kích thước của vật cộng sinh hải quì cũng ảnh hưởng đến tăng
trưởng của cá khoang cổ, cá sống cùng hải quì có kích thước lớn sẽ tăng trưởng nhanh
hơn cá sống trong hải quì có kích thước nhỏ [14].
Tại Việt Nam, trên cơ sở tính toán chiều dài nội suy, Hà Lê Thị Lộc, (2005) đã
xác định được mức sinh trưởng chiều dài trung bình của các nhóm tuổi loài cá khoang
cổ đỏ. Ngoài tự nhiên, cá khoang cổ đỏ ở giai đoạn còn non (nhỏ hơn một vòng tuổi)

phần thức ăn chủ yếu trong dạ dày là nhóm Copepoda (chiếm 34,61%), sau đó là trứng
cá các loại (11,2%). Ngoài ra, có nhiều chủng loại thức ăn khác nhau được tìm thấy
trong dạ dày cá như bọn hai mảnh vỏ Bivalvia, Gastropoda, Nematoda, Isopoda,
Amphipoda, Cladocera, Mycidacea, trứng và phôi cá, thậm chí có cả trứng của cá
khoang cổ đỏ. Trong điều kiện nuôi nhốt và cho sinh sản nhân tạo, chế độ dinh dưỡng
của cá khoang cổ đỏ gồm những thành phần thức ăn có nguồn gốc từ các loài động vật
giáp xác và thân mềm như: Brachionus plicatilis, Artemia, Copepoda, thức ăn tổng
hợp, thịt tôm, thịt hàu, điệp, mực…[2].
Đối với loài cá khoang cổ nemo (Amphiprion ocellaris), trong điều kiện nuôi
nhốt chúng có khả năng ăn các loại thức ăn tươi sống tương tự loài cá khoang cổ đỏ
như luân trùng Brachionus plicatilis, Nauplius của Artemia và Artemia sinh khối, các
loại thịt cá, thịt tôm, thịt động vật thân mềm được nghiền nhỏ, vừa với kích thước
miệng cá. Khi cá đạt kích cỡ thương phẩm (4-6cm), chúng có thể ăn các loại thức ăn
công nghiệp dạng viên [8].

1.2. ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ SINH THÁI
1.2.1. Nhiệt độ:
Nhiệt độ được coi là yếu tố sinh thái quan trọng có ảnh hưởng lớn đến đời
sống thủy sinh vật. Cá là động vật biến nhiệt nên ảnh hưởng của nhiệt độ càng lớn
[12]. Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình hấp thụ thức ăn và trao đổi chất, do đó ảnh
hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cá. Theo Bùi Lai và cộng tác viên (1985)
thì tồn tại một giới hạn nhiệt độ thấp nhất mà trên mức đó mới có sự sinh trưởng và

9
một giới hạn cao nhất mà trên mức đó cá bị chết. Trong khoảng giữa hai giới hạn đó
có một giá trị nhiệt độ thích ứng với sự sinh trưởng tốt nhất của cá [1].
Theo Kamler (1995), nhiệt độ không thích hợp là một trong những nguyên nhân
chính gây chết cá bột [38]. Một vài nhà nghiên cứu ở Thái Lan cho rằng sự thay đổi
nhiệt độ thậm chí chỉ 1°C cũng có thể gây sốc dẫn đến tử vong của cá Vược ở giai
đoạn con non [18]. Các nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của yếu tố nhiệt độ lên

ngưỡng độ muối phù hợp để nuôi dưỡng cá khoang cổ đen đuôi vàng là từ 20‰ đến
45‰ (tỷ lệ sống đạt trên 50%) và độ muối thích hợp nhất cho cá nuôi là từ 25‰ đến
40‰ [3].
Độ muối có ảnh hưởng đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ đỏ
Amphiprion frenatus kích cỡ thương mại. Cá được nuôi ở độ muối 30 - 35‰ là thích
hợp nhất và cho tỷ lệ sống 100%, sinh trưởng về chiều dài, khối lượng trung bình và
tốc độ sinh trưởng đặc trưng theo ngày cao nhất. Cá nuôi ở độ muối từ 15 ‰ đến dưới
30‰ và ở độ muối 40‰ cho tỷ lệ sống 100% nhưng chiều dài, khối lượng trung bình
và tốc độ tăng trưởng đặc trưng theo ngày của cá thấp hơn so với khi nuôi cá ở nghiệm
thức 30‰ và 35‰. Cá thí nghiệm ở độ muối 5‰,10‰ chiều dài cá tăng rất ít, khối
lượng cá giảm và tỷ lệ sống thấp dưới 50% [9].
Denson et al (2003) đã thí nghiệm nuôi cá Rachycentron canadum tiền trưởng
thành (119,7 mm TL, trọng lượng 8,5g) ở 3 mức độ muối khác nhau là: 5‰, 15‰ và
30‰ trong thời gian 10 tuần. Thời gian thu mẫu 2 tuần/lần để xác định sinh trưởng và
tỷ lệ sống. Kết quả thí nghiệm đã khẳng định rằng nồng độ muối ảnh hưởng đến quá
trình sinh trưởng của cá. Trung bình chiều dài tổng (TL) và trọng lượng của cá nuôi ở
độ muối 30‰ là 201,7 ± 2,6mm TL và 47,6 ± 1,9g. Cá nuôi ở độ muối 15‰ (182,2 ±
1,7mm TL; 34,1±1,6g) và 5‰ (168,3 ± 5,8mm TL; 28,3 ± 2,3g). Sự khác biệt về sinh
trưởng sau 10 tuần nuôi giữa các nghiệm thức là có ý nghĩa. Đối với tỷ lệ sống thì
không có sự khác biệt lớn qua các nghiệm thức 5‰, 15‰ và 30‰ (84%, 94% và
94%). Tuy nhiên qua quan sát cá nuôi ở độ muối 5‰ phát hiện sức khoẻ cá bị giảm
như: tổn thương da, mòn vây và màu sắc thay đổi [26].
Cotton Charles et al (1999) nghiên cứu ảnh hưởng của độ muối đến tốc độ tăng
trưởng của cá vược đen Centropristis striata sống ở biển giai đoạn tiền trưởng thành
có khối lượng ban đầu 9,2g được bố trí theo các nghiệm thức có độ muối lần lượt là
10‰, 20‰ và 30‰. Thí nghiệm được thực hiện trong hệ thống tuần hoàn khép kín
trong khoảng thời gian 12 tuần. Kết quả thí nghiệm cho thấy rằng sự tăng trưởng về
chiều dài và trọng lượng của cá ở hai nghiệm thức độ muối 20‰ và 30‰ khác biệt
không có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng của cá ở cả hai nghiệm thức
trên đều lớn hơn có ý nghĩa so với nghiệm thức có độ muối 10‰ [24].

Kết quả nghiên cứu của Frank và cộng sự (1996), khi nghiên cứu hệ thống bể
nuôi ấu thể của một số loài cá, trong đó có loài nemo (Amphiprion ocellaris). Ông cho
biết mật độ nuôi có tính chất quyết định trong quá trình nuôi. Trung bình 288 cá thể
được nuôi trong 30 gallon (113 lít) hay mật độ trung bình khoảng 2,56 cá thể /lít [31].

12
1.3. VAI TRÒ ASTAXANTHIN ĐỐI VỚI MÀU SẮC CỦA CÁ
Astaxanthin là 1 loại carotenoid, có công thức hóa học gồm 3,3’ dihydroxy-4,4-
diketo-β Carotene, là nguồn sắc tố thiên nhiên. Trong tự nhiên, Astaxanthin được tìm
thấy trong cơ thể các sinh vật như trong vi tảo nước ngọt Haematococcus pluvialis,
trong nấm men Phaffia rhodozyma, trong tôm, cua và một số loài cá như cá hồng, cá
hồi….Astaxanthin trong cá hồng, cá hồi chủ yếu tập trung ở phần cơ thịt, da và gan
[55],[56],[57],[58], tạo cho cơ, da và trứng thủy sản có màu vàng, cam hay đỏ.
Astaxanthin không phải là hormone nên không gây hại đến khả năng sinh sản
của cá. Cá sẽ chuyển hóa Astaxanthin trong thức ăn thành tuaxanthin và tích lũy dưới
da cá. Hiện nay, trong công nghệ nuôi cá cảnh, để nhuộm màu cho cơ, da hay làm cho
cá chuyển màu vàng cam, màu đỏ, trong thức ăn cá cảnh thường được bổ sung
Astaxanthin hay Canthaxanthin để cá có màu sắc đẹp hơn và dễ tiêu thụ hơn.
(Bernhard, 1990).
Ngoài ra, chất tạo màu Astaxanthin còn giúp tăng hoạt động sinh trưởng, phát
triển tuyến sinh dục, tăng khả năng chịu sốc, nâng cao giá trị thương phẩm của vật
nuôi. Do vậy, Astaxanthin chính là nhân tố vi lượng khá quan trọng đối với động vật
thủy sinh. Trong một nghiên cứu về cá hồi Atlantic salmon, khi nuôi cá với các nồng
độ Astaxanthin khác nhau ( từ 0 đến 200mg kg
-
1), Torrissen et al (1995) đã kết luận
rằng không có sự sai khác về màu sắc trong thịt cá fillet khi tăng hàm lượng
Astaxanthin trên 60mg kg
-1
[51]

1.4.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Cá khoang cổ được chú ý từ những năm cuối thế kỷ XIX nhưng mãi đến thế kỷ
XX mới được các nhà khoa học nghiên cứu về sinh học và sinh thái của một số loài cá
khoang cổ như Amphiprion bicinctus, Amphiprion chrysopterus, Amphiprion clarkii,
Amphiprion melanopus, Amphiprion ocellaris Từ những năm 80 một số nước đã cho
sinh sản và tiến hành ương nuôi cá khoang cổ con bằng nhiều phương pháp khác nhau
nhằm cung cấp con giống cho các hệ thống nuôi phục vụ du lịch, giải trí và phục hồi
nguồn lợi tự nhiên.
Tại Đức, Neugebauer (1969) đã cho sinh sản và ương nuôi cá con loài Amphiprion
akallopisos và loài Amphiprion ephippium. Ánh sáng tự nhiên và nhân tạo đã kích
thích sự tăng trưởng của rong Caulerpa trong hệ thống nuôi dùng làm thức ăn cho cá
con Amphiprion sp Cá con Amphiprion akallopisos được nuôi bằng nguyên sinh động
vật có tiêm mao Euplotes và tảo xanh lục (Fautin & Allen, 1992). Một số nhà khoa học
người Đức khác cũng đã cho sinh sản 6 loài cá khoang cổ và đã ương nuôi đàn cá con
đạt kích thước lớn nhưng chưa cho sinh sản được đàn cá nuôi này [47].
Nhà khoa học người Pháp, Alayse (1983) đã nuôi giai đoạn cá con A. ocellaris
bằng luân trùng (Brachionus plicatilis) và ấu trùng của Artermia. Chất dinh dưỡng của
luân trùng được nâng lên bằng cách bổ sung thức ăn khô vào bể nuôi. Phương pháp
này đã cải thiện được tỷ lệ sống của ấu trùng từ 5% lên 40% sau 30 ngày nuôi [13].
Tại Nga, đã cho sinh sản và ương nuôi 5 loài cá khoang cổ: Amphiprion
ephippium, A. melanopus, A. ocellaris , A. polymmus, A. frenatus. Luân trùng
(Brachonus plicatilis) đã được dùng làm thức ăn cho giai đoạn đầu tiên của cá con.
Các loài tảo để nuôi Luân trùng gồm: Nanochloropsis sp, Dunaliella tertiolecta,
Phaeodactylum tricornitum, Rhodomonas salina. Theo kết quả nghiên cứu, sự làm
giàu dinh dưỡng của Luân Trùng bằng nhiều loài tảo đã nâng cao tỷ lệ sống của cá con
so với chỉ sử dụng một loài tảo Nanochloropsis sp. Tỷ lệ sống tăng từ 12,5% - 52,%
(Astakhov et al, 2002) [17].
Từ năm 2000 đến nay, Thái Lan cũng đã tiến hành sinh sản và ương nuôi 6 loài
Cá Khoang cổ: Amphiprion frenatus, A. clarkii, A. polymmus, A. perideraion, A.


cảnh trong nước và xuất khẩu chúng nhằm giảm bớt áp lực khai thác ngoài tự nhiên,
tăng thu nhập ngoại tệ cho đất nước. Một phần sản phẩm của đề tài cũng đã được thả
phục hồi tại khu vực bảo tồn nguồn lợi tự nhiên đảo Hòn Mun, tỉnh Khánh Hòa.

15

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: đàn cá khoang cổ nemo (Amphiprion ocellaris Cuvier,
1830) có nguồn gốc từ sinh sản nhân tạo.
- Thời gian nghiên cứu: Luận án được tiến hành từ tháng 01/2010 đến 08/2010.
- Địa điểm nghiên cứu: Tại trại thực nghiệm của Phòng Công nghệ Nuôi trồng,
Viện Hải dương học (Nha Trang).
2.2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Sơ đồ nghiên cứu tổng quát của luận án như sau:
Xác định tốc
độ tăng trưởng
và tỷ lệ sống
của cá
Thu thập và xử lý số liệu
Kết luận

16
2.2.1. Dụng cụ thí nghiệm: gồm kính hiển vi quang học, kính hiển vi soi nổi, bộ
giải phẩu cá, buồng đếm tảo, nhiệt kế, khúc xạ kế, máy đo pH, bộ Test-kit của các yếu
tố: nitrite, ammonia, máy quang phổ, các dụng cụ phục vụ phân tích hoá sinh.
Thí nghiệm được bố trí trong các bể kính thể tích 20lít và các bể kính đều có sục
khí 24/24.

Hình 2.2 : Bố trí hệ thống bể thí nghiệm
2.2.2. Nguồn nước thí nghiệm
Nước biển sau khi qua bể lắng 24 giờ, lọc cơ học được đưa vào bể chứa để xử lý
Chlorin A nồng độ 25 – 30 ppm. Sục khí, phơi nắng 3 ngày liên tục, sau đó trung hoà
lượng Chlorin thừa bằng Natri thiosulphat (Na
2
SO
3
.H
2
O), lọc qua lưới lọc tảo và đưa
vào bể nuôi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status