i
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
LỜI CẢM ƠN iii
DANH MỤC BẢNG iiiv
DANH MỤC HÌNH v
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số đặc điểm của cá Khoang Cổ Nemo 4
1.1.1 Đặc điểm hình thái 4
1.1.2 Đặc điểm phân bố 5
1.1.3 Một số đặc điểm sinh thái 5
a. Đặc điểm môi trƣờng sống 5
b. Đặc điểm hội sinh với Hải Quỳ 5
1.1.4 Đặc điểm sinh trƣởng 8
1.1.5 Đặc điểm dinh dƣỡng 8
1.1.6 Đặc điểm sinh học sinh sản 9
1.1.7 Ảnh hƣởng của các yếu tố sinh thái đến sinh trƣởng và tỷ lệ sống của cá Khoang
Cổ Nemo………………………………………………………………………………… 12
1.2 Tình hình nghiên cứu cá Khoang Cổ trên thế giới 13
1.3 Tình hình nghiên cứu cá Khoang Cổ ở Việt Nam 14
CHƢƠNG 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Đối tƣợng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 16
2.1.1 Đối tƣợng nghiên cứu 16
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 16
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 16
2.2 Nội dung nghiên cứu 16
2.3 Phƣơng pháp nghiên cứu 17
2.3.1 Nguồn nƣớc 17
2.3.2 Xác định các thông số môi trƣờng 18
iii
LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành đề tài này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến T.S Hà Lê Thị
Lộc và Th.S Phạm Quốc Hùng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, tận tình hƣớng dẫn
tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Xin cảm ơn ban chủ nhiệm khoa Nuôi Trồng Thủy Sản và bộ môn Sinh học
nghề cá – Đại học Nha Trang đã giúp tôi hoàn thành đề cƣơng cũng nhƣ hƣớng dẫn
các thủ tục thực hiện đề tài.
Xin cảm ơn phòng Công nghệ Nuôi trồng và thƣ viện Viện Hải dƣơng học -
Nha Trang đã tạo điều kiện cho tôi làm việc, cung cấp cơ sở vật chất, thiết bị nghiên
cứu cũng nhƣ tài liệu, số liệu liên quan để tôi hoàn thành nội dung đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến cô Nguyễn Thị Kim Bích và các
anh chị kĩ sƣ ở Trại thực nghiệm thuộc phòng Công nghệ Nuôi trồng – Viện Hải
dƣơng học đã nhiệt tình giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực tập.
Cảm ơn gia đình và các bạn tôi về sự quan tâm động viên, giúp đỡ trên nhiều
lĩnh vực.
Do thời gian thực tập có giới hạn và kiến thức của bản thân còn hạn chế nên
trong đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong thầy cô và các bạn góp ý
cho đề tài đƣợc hoàn thiện hơn. Nha Trang, tháng 07 năm 2010
Sinh viên: Mai Thị Yến
Hình 3.1 Sinh trƣởng về chiều dài của cá ở các mật độ khác nhau 30
Hình 3.2 Sinh trƣởng về khối lƣợng của cá ở các mật độ khác nhau 30
Hình 3.3 Tỷ lệ sống của cá sau 60 ngày thí nghiệm ở các nghiệm thức mật độ. 31
Hình 3.4 Sinh trƣởng về chiều dài cá ở các nghiệm thức thức ăn. 34
Hình 3.5 Sinh trƣởng về khối lƣợng cá ở các nghiệm thức thức ăn. 35
Hình 3.6 Tỷ lệ sống của cá sau 60 ngày thí nghiệm ở các nghiệm thức thức ăn 35
1
MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam, nghề nuôi cá cảnh đã đƣợc hình thành từ lâu đời song tập trung
nhiều vào những đối tƣợng cá nƣớc ngọt. Mặc dù những loài này màu sắc không
sặc sỡ bằng cá biển nhƣng là những loài dễ nuôi và ít bệnh. Tuy nhiên những năm
gần đây, cá cảnh biển đang thu hút nhiều ngƣời nuôi bởi chúng nhiều màu sắc đẹp,
hình dạng phong phú, dễ nuôi hơn nhờ những thiết bị, phụ kiện đi kèm. Bên cạnh
giá trị về thẩm mỹ, cá cảnh biển còn có giá trị rất lớn về kinh tế. Trên thị trƣờng
quốc tế, có những loài cá quý hiếm đƣợc định giá 500 USD/con, cá biệt có những
loài cá Rồng biển có giá lên đến 5000 USD/con. Hiện nay, cá cảnh biển đang là một
nguồn kinh tế quan trọng có giá trị cao về mặt xuất khẩu. Theo báo cáo của Liên
Hợp Quốc năm 2003, sản lƣợng cá cảnh biển hàng năm cung cấp cho thị trƣờng
Châu Âu và Mỹ là hơn 20 triệu con, thuộc 1471 loài, ƣớc tính doanh thu cá biển
(1) Thử nghiệm ảnh hƣởng của các mật độ nuôi khác nhau lên sinh trƣởng và
tỷ lệ sống của cá Khoang cổ Nemo (A. ocellaris) giai đoạn 60 – 120 ngày tuổi.
(2) Thử nghiệm ảnh hƣởng của các loại thức ăn khác nhau lên sinh trƣởng và
tỷ lệ sống của cá Khoang cổ Nemo (A. ocellaris) giai đoạn 60 – 120 ngày tuổi.
Ý nghĩa của đề tài
Nghiên cứu ảnh hƣởng của mật độ và thức ăn lên sinh trƣởng và tỷ lệ sống của
cá Khoang Cổ Nemo (A. ocellaris) thành công là tài liệu tham khảo cho những
nghiên cứu tiếp theo nhằm xây dựng hoàn thiện quy trình sản xuất giống và nuôi
thƣơng mại loài cá Khoang Cổ Nemo nói riêng và các loài cá Khoang Cổ nói
chung, bổ sung một đối tƣợng nuôi mới cho ngành nuôi trồng thủy sản, góp phần
bảo vệ nguồn lợi, đa dạng hóa sản phẩm nuôi trồng phục vụ cho nhu cầu giải trí
trong nƣớc và xuất khẩu. 3
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Hệ thống phân loại Froese và Pauly (2000), cá Khoang cổ Nemo đƣợc xác định
vị trí phân loại nhƣ sau:
Ngành Động vật có dây sống: Vertebrata
Liên lớp có hàm: Gnathostomata
Lớp cá xƣơng: Osteichthyes
Nhóm cá Vây Tia: Actinoptery
Bộ cá Vƣợc: Perciformes
Phân bộ cá Vƣợc: Percoidei
Họ cá Thia: Pomacentridae
Giống cá Khoang cổ: Amphiprion
Loài cá Khoang cổ Nemo: Amphiprion ocellaris Cuvier, 1830
Tia vây đuôi khoảng từ 56 đến 66 (thƣờng từ 56 đến 62) tia vây. Vây ngực có
khoảng 12 đến 16 tia vây. Số lƣợng vẩy đƣờng bên dao động 35 đến 40, có từ 4 – 5
hàng vảy trên đƣờng bên, 22 – 25 hàng vảy dƣới đƣờng bên. Răng cá hình tròn, số
lƣợng khoảng từ 28 đến 32 răng mỗi hàm.
1.1.2 Đặc điểm phân bố
Cá Khoang Cổ Nemo cũng nhƣ các loài cá Khoang Cổ khác là một loài cá biển
nhiệt đới. Chúng phân bố chủ yếu ở phía Tây Bắc nƣớc Úc, khu vực Đông Nam Á
và phía Bắc quần đảo Ryukyu của Nhật Bản.
Ở Việt Nam, cá Khoang cổ Nemo chỉ mới đƣợc phát hiện trong thời gian gần
đây ở vùng đảo Trƣờng Sa (năm 2009) với số lƣợng rất ít. Đặc biệt, chúng có khả
năng sống hội sinh với Hải Quỳ.
1.1.3 Một số đặc điểm sinh thái
a. Đặc điểm môi trƣờng sống
Hầu hết các loài cá Khoang Cổ sống ở vùng ven bờ. Myers (1991; dẫn theo Hà
Lê Thị Lộc, 2005) ghi nhận rằng loài Amphiprion sp sống ở độ sâu 1 – 55 m, trong
đó cá Khoang Cổ Nemo phân bố nhiều ở độ sâu từ 1 – 15 m. Nhiệt độ của vùng
phân bố trong khoảng 26 – 28
o
C ; khoảng độ mặn dao động từ 32 – 35 ‰. Đây là
những loài cá rạn san hô nên thích nghi đời sống hẹp nhiệt, hẹp muối. Chất đáy ở
vùng phân bố là san hô, đá, cát, hoặc cát sỏi.
b. Đặc điểm hội sinh với Hải Quỳ
Đặc điểm của Hải Quỳ
Hải Quỳ là một động vật biển thuộc lớp san hô Anthozoa, nằm trong ngành
ruột khoang Coelenterata. Hình dạng của Hải Quỳ giống nhƣ một đóa hoa với hàng
trăm cánh. Thực chất các cánh là các xúc tu của Hải Quỳ. Đó là những chiếc vòi vô
cùng lợi hại bởi trên bề mặt có các tế bào nhỏ li ti chứa độc tố Parasitoxin (Mebs,
1994) có thể gây tê liệt cho những loài cá khác. Mebs (1994) nghiên cứu thấy rằng
độc tố của Hải Quỳ có thể gây giảm lƣợng hồng cầu trên cơ thể ngƣời; chúng tác
7 Hình 1.2 Cá Khoang Cổ Nemo sống hội sinh với Hải Quỳ H. magnifica
Trong tự nhiên, đời sống của cá Khoang Cổ Nemo bị lệ thuộc hoàn toàn vào
Hải Quỳ (Fautin và Allen, 1992). Những thí nghiệm ngoài tự nhiên đã đƣợc tiến
hành khi khi tách rời cá Khoang Cổ ra khỏi Hải Quỳ, chúng nhanh chóng bị các
địch hại nhƣ cá Mú hay cá Hồng ăn thịt ngay (Allen, 1972). Nhƣng trong điều kiện
nuôi nhốt thì cá Khoang Cổ Nemo vẫn có thể sống tốt mà không cần có sự hiện diện
của Hải Quỳ.
Nhờ vào các xúc tu của Hải Quỳ mà cá Khoang Cổ đƣợc bảo vệ an toàn, tránh
đƣợc sự tấn công của các loài ăn thịt khác. Mặt khác, cá Khoang Cổ cũng bảo vệ
Hải Quỳ tránh khỏi sự tấn công của một số loài cá san hô thích ăn bọn động vật ruột
khoang. Độc tố chứa trong các tế bào nhỏ li ti trên bề mặt xúc tu Hải Quỳ có thể
tách bọn kí sinh ngoài da giúp cá sống khỏe mạnh. Mariscal (1970) đã thấy rằng
những cá Khoang Cổ nuôi nhốt không có Hải Quỳ thƣờng dễ bị nhiễm bệnh hơn.
Ngƣợc lại, các xúc tu của Hải Quỳ luôn đƣợc “tỉa tót” sạch sẽ, khỏe mạnh nhờ vào
cá Khoang Cổ (Davenport, 1958).
Mariscal (1970; dẫn theo Hà Lê Thị Lộc, 2005) cho rằng các xúc tu của Hải
Quỳ kích thích lên cơ quan cảm giác của cá Khoang Cổ tạo điều kiện tốt đối với sức
khỏe của cá. Do đó, trong điều kiện nuôi nhốt không có sự hiện diện của Hải Quỳ,
8
cá đã cố gắng tạo cho mình những cảm giác tƣơng tự nhƣ tắm mình trong các bọt
sục khí, trong các lọ hoa, gạch men đƣợc đặt trong bể.
1.1.4 Đặc điểm sinh trƣởng
Cá Khoang Cổ có tốc độ sinh trƣởng tƣơng đối chậm. Theo Fautin và Allen
(1992), tuổi thọ của chúng ngoài tự nhiên đƣợc xác định từ 6 – 10 tuổi nhƣng trong
nuôi nhốt chúng có thể sống trên 18 năm. Cá thành thục lần đầu tiên sau 6 tháng
Mycidacea thậm chí cả trứng cá Khoang Cổ.
Mariscal (1970) đã phân tích dạ dày loài cá Amphiprion akallopisos và tìm thấy
tảo Zooxanthellae (sống cộng sinh trên các xúc tu Hải Quỳ) với số lƣợng đáng kể. Có
lẽ, cá Khoang Cổ đã sử dụng một phần chất dinh dƣỡng trên những xúc tu Hải Quỳ.
Tóm lại, cá Khoang Cổ là loài cá ăn tạp. Thức ăn chủ yếu có nguồn gốc sinh
vật nổi, phổ thức ăn tƣơng đối rộng và chuỗi thức ăn ngắn. Đặc biệt, trong điều kiện
nuôi nhốt và thuần hóa, cá Khoang Cổ Nemo có khả năng ăn thịt tôm, mực, cá, con
ruốt, trùn chỉ (nƣớc ngọt) và thức ăn tổng hợp.
1.1.6 Đặc điểm sinh học sinh sản
a. Giới tính
Những nghiên cứu của Allen (1972) và Wootton (1995) cho thấy cá Khoang
Cổ thuộc nhóm cá lƣỡng tính với tính đực có trƣớc. Điều này có nghĩa là tất cả cá
Khoang Cổ nhỏ đều là con đực, đến một kích thƣớc nào đó và gặp điều kiện thích
hợp thì một số con sẽ chuyển sang cá cái. Khi con cái bị chết hoặc biến mất vì một
lý do nào đó, con đực thành thục sinh dục (con lớn nhất trong đàn) sẽ chuyển đổi
giới tính để thành con cái. Con đực lớn thứ hai chƣa thành thục sinh dục sẽ nhanh
chóng phát triển thành con đực thành thục sinh dục và kết cặp với con cái đó.
Những con đực còn lại trong “quần đàn” bị ức chế bởi sự kết cặp đực cái đã thành
thục ở trên, sự tăng trƣởng bị kìm hãm và chúng thƣờng không thành thục sinh dục
(Ochi, 1985; dẫn theo Hà Lê Thị Lộc, 2005). Theo Ross (1990), cơ chế thay đổi
giới tính của cá Khoang Cổ mang tính chất có tổ chức xã hội và tùy thuộc vào khả
10
năng kết cặp của cá. Ngoài ra, nó còn tùy thuộc vào sự phân bố nguồn lợi cá về
không gian và thời gian.
Theo Hattori (1991), sự chuyển đổi giới tính của cá Khoang Cổ theo ba chiều
hƣớng sau:
(1) Con đực chƣa trƣởng thành con cái chƣa trƣởng thành con cái
trƣởng thành.
(2) Con đực chƣa trƣởng thành con đực trƣởng thành con cái trƣởng
Khoang Cổ thể hiện nhịp sinh học, bị chi phối bởi chu kỳ trăng và thủy triều trong
tháng. Cá thƣờng đẻ trong khoảng thời gian 6 ngày trƣớc hoặc sau kỳ trăng tròn.
Ánh sáng trăng có thể là một tín hiệu đến kỳ sinh sản của cá. Trứng cá nở vào ban
đêm khi thủy triều lên nhƣ một cơ chế thích nghi nhằm lẩn tránh địch hại. Vì ấu
trùng mới nở có tính hƣớng quang nên ánh sáng trăng hƣớng chúng bơi lên bề mặt
nƣớc. Từ đó, chúng có thể đƣợc phát tán đi xa bởi sóng và dòng chảy khi triều lên.
Tuy nhiên, Hà Lê Thị Lộc (2005) lại nhận thấy trong điều kiện bể nuôi, cá Khoang
Cổ Đỏ không bị ảnh hƣởng bởi chu kỳ trăng tròn. Với điều kiện chăm sóc tốt, một
cặp cá bố mẹ có thể tham gia sinh sản liên tục, mỗi đợt cách nhau 11 – 14 ngày.
Đối với cá Khoang Cổ, khi một con đực bắt cặp với một con cái, mối quan hệ rất
chặt chẽ. Fricke (1983) đã ghi nhận lại rằng mặc dù có nhiều cá thể đơn lẻ sống trong
cùng khu vực nhƣng chúng vẫn luôn “chung thủy” với nhau. Vài ngày trƣớc kỳ sinh
sản, chúng có những biểu hiện tăng cƣờng về các hoạt động nhƣ xua đuổi, vây dựng
đứng và chuẩn bị tổ. Con đực luôn phô diễn, xòe rộng các vây ngực, vây bụng, vây
hậu môn và luôn ở vị trí phía trƣớc hoặc bên cạnh con cái. Trong thời gian này, con
đực lựa chọn địa điểm làm tổ, thƣờng trên một tảng đá cạnh Hải Quỳ. Con đực sẽ dọn
sạch các rong tảo và vật bẩn bằng miệng. Sau đó, chúng hoạt động kết cặp. Tuy nhiên
trong điều kiện nuôi nhốt, cá có thể đẻ trên các vật liệu nhân tạo nhƣ lọ cắm hoa, tấm
gạch men, thậm chí đôi khi chúng có thể sinh sản ngay trên mặt gƣơng của bể kính
mà không cần có sự hiện diện của Hải Quỳ (Hà Lê Thị Lộc, 2005).
12
Moyer và Bell (1976) cho rằng, cá Khoang Cổ cái thƣờng làm sạch tổ một
ngày trƣớc khi chúng tiến hành sinh sản. Sự đẻ trứng thƣờng đƣợc thực hiện vào
buổi sáng và kéo dài từ 30 phút đến hơn 2 giờ. Theo Ross (1990), sự sinh sản bắt
đầu khi mặt trời lên từ 2 – 3 tiếng và kéo dài khoảng 1 giờ 30 phút. Thời điểm này,
ống dẫn trứng của con cái lộ rõ. Trứng đƣợc đẩy ra khi con cái bơi chậm theo một
đƣờng zíc zắc và bụng con cái chà xát lên bề mặt tổ, theo sát sau là con đực có
nhiệm vụ tƣới tinh cho trứng. Trong suốt thời gian ấp trứng, tổ đƣợc bảo vệ và
chăm sóc cẩn thận. Cá bố mẹ xua đuổi những con vật khác đến gần. Con đực
nhiệt, hẹp muối. Chúng sinh trƣởng và phát triển tốt nhất trong điều kiện độ mặn
dao động khoảng 30 – 35 ‰ (Allen, 1972).
c. Mật độ
Theo Vũ Trung Tạng (1997), mật độ ảnh hƣởng đến sự hô hấp, dinh dƣỡng,
sinh sản và nhiều chức năng khác của từng cơ thể trong quần đàn. Mật độ quá cao
gây suy giảm điều kiện sống về không gian, nguồn thức ăn từ đó ảnh hƣởng đến tỷ
lệ sống, tốc độ sinh trƣởng, màu sắc cá Mật độ quá thƣa sẽ gây khó khăn trong
việc tìm đồng loại trong tự nhiên và giảm hiệu quả kinh tế trong nuôi nhân tạo.
Ngoài tự nhiên, có thể bắt gặp từ 1 – 5 con cá Khoang Cổ sống với một ổ Hải Quỳ.
1.2 Tình hình nghiên cứu cá Khoang Cổ trên thế giới
Từ năm 1980 đến nay, một số nƣớc đã cho sinh sản nhân tạo thành công các
loài cá Khoang Cổ có hoặc không có sinh vật hội sinh Hải Quỳ. Tại Đức,
Neugebauer (1969) đã cho sinh sản loài Amphiprion akallopisos và loài A.
ephippium. Thể tích bể nuôi là 400 lít với sự hiện diện của Hải Quỳ Stichodactyla
giganteum. Trong 6 tháng, một cặp A. akallopisos sinh sản 14 lần và cặp
A. ephippium sinh sản đƣợc 10 lần (Fautin et al, 1992). Đến năm 1985, tại Berlin,
các nhà khoa học cũng đã thành công khi cho sinh sản thêm 3 loài A. clarkii,
A. ocellaris (Kaiser, 1988) mà không có Hải Quỳ trong hệ thống nuôi với tỷ lệ sống
cá con thấp (khoảng 10%) và đã ƣơng nuôi đàn cá con đến kích thƣớc thƣơng mại.
Tại Pháp, Alayse (1983) cũng đã nuôi ấu trùng cá A. ocellaris bằng Luân trùng
(Brachionus plicatilis) và Nauplii của Artemia. Chất lƣợng của Luân trùng đƣợc
14
nâng cao bằng cách bổ sung thức ăn khô vào bể nuôi. Phƣơng pháp này đã cải thiện
tỷ lệ sống của ấu trùng từ 5% lên 40% sau 30 ngày nuôi.
Ở Bỉ, Đại học Tổng hợp Rhodes cũng đã cho sinh sản nhân tạo thành công 4
loài cá Khoang Cổ A. ocellaris, A. percula, A. clarkii và A. biaculeatus với chu kỳ
tái sinh sản là 14 ngày (Haschick, 1998).
Tại Nga, các nhà khoa học đã cho sinh sản nhân tạo thành công 5 loài cá
Khoang Cổ A. ephippium, A. melanopus, A. ocellaris, A. polymnus và A. frenatus
xuất sang các nƣớc Châu Âu, mở ra một triển vọng mới cho sự phát triển nghề cá
cảnh biển ở miền Trung Việt Nam.
Năm 2008, Viện Hải Dƣơng Học đã thực hiện thành công “Hoàn thiện quy trình
sản xuất giống và nuôi thƣơng mại cá Khoang Cổ Đỏ (Amphiprion frenatus Brevoort,
1856)” và chuyển giao công nghệ cho các cơ sở chuyên kinh doanh cá cảnh.
16
CHƢƠNG 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tƣợng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Loài cá Khoang Cổ Nemo (Amphiprion ocellaris Cuvier, 1830) giai đoạn 60
ngày tuổi, có nguồn gốc từ sinh sản nhân tạo và từ cùng một ổ trứng.
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Trại thực nghiệm nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo thuộc Phòng Công
Nghệ Nuôi Trồng, Viện Hải Dƣơng Học, Nha Trang.
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ 09/03/2010 đến 09/05/2010.
2.2 Nội dung nghiên cứu
17
Theo dõi tỷ lệ sống và
tốc độ sinh trƣởng
Nƣớc biển
Bể lọc thô
Bể chứa và
xử lý Chlorine
Bể trung hòa
Bể nuôi
18
2.3.2 Xác định các thông số môi trƣờng
Bảng 2.1 Dụng cụ đo các thông số môi trƣờng
Các thông số
môi trƣờng
Dụng cụ đo
Độ chính xác
Định kỳ thu mẫu
Nhiệt độ (
o
C)
Nhiệt kế rƣợu
1
o
C
1 ngày
Độ mặn (‰)
Khúc xạ kế
1‰
1 ngày
pH
30 - 33
7,7 - 8,3
4,6 - 6
28
29
30
31
32
33
34
35
60 70 80 90 100 110 120
Tuổi cá (ngày)
Nhiệt độ (0C)
22
23
24
25
26
27
28
29
30
Độ mặn (ppt)
Độ mặn (ppt)
Nhiệt độ (0C)
Hình 2.3 Sự biến động nhiệt độ và độ mặn môi trƣờng bể thí nghiệm
19
Các chỉ tiêu này tƣơng tự nhau ở tất cả các lô thí nghiệm do chế độ chăm sóc hằng
ngày của các lô nhƣ nhau.
Tuy nhiên, trong thí nghiệm thức ăn, ở các lô thức ăn tổng hợp, hàm lƣợng
NH
4
+
và NO
2
-
có xu hƣớng tăng cao hơn so với các lô thí nghiệm sử dụng các loại
thức ăn là Copepoda và Nauplii của Artemia. Do đó, ở các lô thí nghiệm sử dụng
thức ăn này, để giữ cho hàm lƣợng NH
4
+
và NO
2
-
không vƣợt quá ngƣỡng cho phép,
các bể phải thƣờng xuyên thay 150% lƣợng nƣớc mới trong ngày. Đối với các lô thí
nghiệm cho ăn Copepoda và Nauplii của Artemia còn lại thay 50% lƣợng nƣớc mới
trong ngày.
2.3.3 Thức ăn thí nghiệm
Nauplii của Artemia
Trứng bào xác của Artemia đƣợc ấp trong xô 20 L với mật độ 2 g/L, nhiệt độ
24 – 28
o
C, độ mặn 25 - 35‰, pH 8 – 8,3 , sục khí mạnh liên tục từ đáy xô. Sau thời
gian ấp là 24 giờ, trứng nở thành ấu trùng Nauplii.
20