Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn, thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá giò, Rachycentron canadum (Linnaeus, 1766), giai đoạn ương giống từ 3 3,5 cm lên 10 12 cm tại Khánh Hòa - Pdf 24

irang i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

TRẦN QUANG NGỌC
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN, THỨC ĂN
LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG
CỦA CÁ GIÒ (Rachycentron canadum Linnaeus, 1766)
GIAI ĐOẠN ƯƠNG GIỐNG TỪ 3 – 3,5 cm LÊN 10 - 12 cm
TẠI KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Nha Trang - 2007
iirang ii
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

TRẦN QUANG NGỌC
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN, THỨC ĂN
LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG
CỦA CÁ GIÒ (Rachycentron canadum Linnaeus, 1766)
GIAI ĐOẠN ƯƠNG GIỐNG TỪ 3 - 3,5 cm LÊN 10 - 12 cm
TẠI KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Nuôi trồng Thủy sản
Mã số: 60.62.70
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Đình Mão
Nha Trang - 2007
iiirang iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các kết quả, số liệu
nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công

30%P: Nghiệm thức thức ăn tự chế có 30 %protein
35%P: Nghiệm thức thức ăn tự chế có 35 %protein
40%P: Nghiệm thức thức ăn tự chế có 40 %protein
Inve: Nghiệm thức thức ăn viên dùng ương giống cá biển của công ty Inve
Cá tươi: Nghiệm thức thức ăn cá nục
L
F
: Chiều dài cá lúc kết thúc thí nghiệm
W
F:
Khối lượng cá lúc kết thúc thí nghiệm
L
25:
Chiều dài cá sau 25 ngày ương (cũng chính là L
F
)
W
25
: Khối lượng cá sau 25 ngày ương (cũng chính là W
F
)
%GR
L
, %GR
W
: Tốc độ sinh trưởng % về chiều dài và khối lượng
ADG
L
, ADG
W

1.4.2. Tình hình nghiên c u Vi t Namứ ở ệ 17
viirang vii
Chương 2 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1. i t ng, th i gian và đ a đi m nghiên c uĐố ượ ờ ị ể ứ 19
2.2. B trí thí nghi m nh h ng c a đ m n lên sinh tr ng và t l ố ệ ả ưở ủ ộ ặ ưở ỷ ệ
s ng c a cá giò giai đo n ng gi ng t 3 - 3,5 cm lên 10 - 12 cmố ủ ạ ươ ố ừ 19
2.2.1. H th ng thí nghi mệ ố ệ 20
2.2.2. Cá thí nghi mệ 21
2.2.3. Th c nứ ă 22
2.2.4. Ch đ qu n lý ch m sócế ộ ả ă 22
2.3. B trí thí nghi m nh h ng c a th c n lên sinh tr ng và t l ố ệ ả ưở ủ ứ ă ưở ỷ ệ
s ng c a cá giò giai đo n ng gi ng t 3 - 3,5 cm lên 10 - 12 cmố ủ ạ ươ ố ừ 23
2.3.1. H th ng thí nghi mệ ố ệ 23
2.3.2. Cá thí nghi mệ 24
2.3.3. Th c nứ ă 24
2.3.4. Ch đ qu n lý ch m sócế ộ ả ă 26
Ch đ ch m sóc, qu n lý đ c th c hi n gi ng nh đã ti n hành thí ế ộ ă ả ượ ự ệ ố ư ế ở
nghi m đ m n. thí nghi m này, n c đ c tu n hoàn liên t c trong ệ ộ ặ Ở ệ ướ ượ ầ ụ
c h th ng nên sau khi siphon s c p b sung n c vào b l c sinh ả ệ ố ẽ ấ ổ ướ ể ọ
h c ch không c p tr c ti p vào b nuôi. Ch đ thay n c c ng ọ ứ ấ ự ế ể ế ộ ướ ũ
không ph i thay đ nh k mà ch b sung l ng n c m t đi do b c h i ả ị ỳ ỉ ổ ượ ướ ấ ố ơ
hay do quá trình thao tác 26
2.4. Ph ng pháp thu th p s li uươ ậ ố ệ 27
2.5. Ph ng pháp phân tích s li uươ ố ệ 29
Chương 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
viiirang viii
3.1 nh h ng c a đ m n lên sinh tr ng và t l s ng c a cá giò giai Ả ưở ủ ộ ặ ưở ỷ ệ ố ủ
đo n ng gi ng t 3 - 3,5 cm lên 10 - 12 cmạ ươ ố ừ 30
3.1.1 i u ki n môi tr ng các b thí nghi m đ m nĐ ề ệ ườ ể ệ ộ ặ 30
3.1.2 nh h ng c a đ m n lên sinh tr ng c a cáẢ ưở ủ ộ ặ ưở ủ 31

Bảng 3.5: Kết quả phân tích thành phần sinh hóa của các loại thức ăn (%) 40
xrang x
Bảng 3.6: Các chỉ tiêu sinh trưởng về chiều dài của cá ương bằng các loại thức ăn
sau 25 ngày ương 43
Bảng 3.7: Các chỉ tiêu sinh trưởng về khối lượng của cá ương bằng các loại thức ăn
sau 25 ngày ương 46
Bảng 3.8: Kết quả nghiên cứu về sinh trưởng cá giò ở các giai đoạn 47
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1: Cá Giò (Rachycentron canadum) 4
Hình 1.2: Qui trình sản xuất thức ăn viên nổi cho cá 13
Hình 2.1 : Sơ đồ bố trí thí nghiệm các mức độ mặn 19
Hình 2.2: Hệ thống bể thí nghiệm 20
Hình 2.3: Cá giống thí nghiệm 21
Hình 2.4 : Sơ đồ bố trí thí nghiệm các loại thức ăn 23
Hình 2.5: Hệ thống bể thí nghiệm 24
Hình 2.6: Các bước sản xuất thức ăn tự chế 26
Hình 3.1: Sinh trưởng về chiều dài của cá ở các mức độ mặn 32
Hình 3.2: Chiều dài của cá sau 25 ngày ương ở các mức độ mặn 32
Hình 3.3: Sinh trưởng về khối lượng của cá ương ở các mức độ mặn 34
Hình 3.4: Khối lượng của cá sau 25 ngày ương ở các mức độ mặn 34
Hình 3.5: Tỷ lệ sống của cá sau 25 ngày ương ở các mức độ mặn 38
xirang xi
Hình 3.6: Sinh trưởng về chiều dài của cá ương bằng các loại thức ăn 42
Hình 3.7: Chiều dài của cá sau 25 ngày ương bằng các loại thức ăn 42
Hình 3.8: Sinh trưởng về khối lượng của cá ương bằng các loại thức ăn 45
Hình 3.9: Khối lượng của cá sau 25 ngày ương bằng các loại thức ăn 45
Hình 3.10: Tỷ lệ sống của cá sau 25 ngày ương bằng các loại thức ăn 48
1rang 1
MỞ ĐẦU

đoạn phát triển là vấn đề hết sức cấp thiết. Nó sẽ là cơ sở để hoàn thiện qui trình,
nâng cao tỷ lệ sống, tăng tốc độ sinh trưởng và mang lại hiệu quả cho việc ương
nuôi cá giò.
Được sự đồng ý của Trường Đại Học Nha Trang, khoa Nuôi trồng Thủy sản
chúng tôi đã thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn, thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ
sống của cá giò, Rachycentron canadum (Linnaeus, 1766), giai đoạn ương giống
từ 3 - 3,5 cm lên 10 - 12 cm tại Khánh Hòa.”
Với các nội dung nghiên cứu sau:
1- Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá
giò giai đoạn ương giống từ 3 - 3,5 cm lên 10 - 12 cm tại Khánh Hòa.
2- Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá
giò giai đoạn ương giống từ 3 - 3,5 cm lên 10 - 12 cm tại Khánh Hòa.
Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung thêm dữ liệu khoa học về đặc điểm
môi trường sống, đặc điểm dinh dưỡng của cá giò và là cơ sở để hoàn thiện qui trình
ương nuôi cá giò, góp phần đẩy mạnh sự phát triển của nghề nuôi cá giò ở Việt
Nam.
3rang 3
Chương 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Sơ lược đặc điểm sinh học của đối tượng nghiên cứu
1.1.1. Vị trí phân loại
Cá giò có tên khoa học là Rachycentron canadum có vị trí phân loại như sau:
Nghành: Chordata
Lớp: Osteichthyes
Bộ: Perciformes
Họ: Rachycentridae
Giống: Rachycentron
Loài: Rachycentron canadum (Linnaeus, 1766)
Cá giò ban đầu được Linnaeus (1766) đặt tên là Gasterosteus canadus. Sau
đó nó được đặt lại là Rachycentron canadum (Linnaeus, 1766). Ngoài ra còn có các

phía nam Vịnh Chesapeake đến Mexico. Vào đầu mùa xuân, chúng di cư đến vùng
phía bắc của Đại Tây Dương. Ở phía đông Đại Tây Dương, cá giò phân bố từ
Marốc tới Nam Phi và ở phía tây Thái Bình Dương cá phân bố từ Nhật Bản đến Úc
[15], [39].
5rang 5
Ở những vùng nước lạnh, chúng chỉ xuất hiện vào những tháng ấm trong
năm và di chuyển ra ngoài khơi xa trong những tháng lạnh. Ngư dân thường đánh
bắt được ở những vùng nước có nhiệt độ 16,8 đến 32
o
C. Nhiệt độ 37,7
o
C có thể gây
chết cá giò giống, ở 18,3
o
C cá giò giống không bắt mồi và cá không thể chịu được
khi nhiệt độ giảm xuống thấp hơn 17,7
o
C. Tuy nhiên, cá giò vẫn xuất hiện ở vịnh
Chesapeake khi nhiệt độ nước giảm đến 19
o
C [34], [35]. Theo Delbols (2005), cá
giò có thể nuôi được ở điều kiện nhiệt độ 16 - 22
o
C, nhiệt độ thích hợp nhất cho
sinh trưởng là 30
o
C [21].
Hầu hết trứng và ấu trùng cá giò được tìm thấy ở vùng nước xa bờ, đến giai
đoạn con giống lớn chúng di chuyển vào vùng biển nông gần bờ, vùng cửa sông,
cửa lạch, những khu đảo ngang, vịnh cạn. Ở giai đoạn trưởng thành, chúng sống ở

X: tuổi (ngày)
Cá nuôi Hasler và cộng
sự, 1975
Chiều dài -
tuổi, 10-131
ngày tuổi
Log L = 1,425
LogX - 0,587
L: Chiều dài (cm)
X: tuổi (ngày)
Cá nuôi Richard
Khối lượng -
tuổi, cá đực
W = 21,3 (1 -
e
-0,28t
)
3,088
W: khối lượng
(kg).
T: tuổi (năm)
Cá tự nhiên

Chesapeake
Richard
Khối lượng -
tuổi, cá cái
W = 54,5 (1-
e
-0,225t

t: tuổi (năm)
Cá tự nhiên

Chesapeake
Richard, 1977
Chiều dài,
khối lượng,
10-131 ngày
tuổi
Log W =
2,4035 LogL -
1,3007
W: khối lượng
(mg)
L: chiều dài (mm)
Cá nuôi Hasler và cộng
sự, 1975
Chiều dài,
khối lượng, cá
cái
Log W =
2,79LogL -
4,57
W: khối lượng
(kg)
L: chiều dài (cm)
Cá tự nhiên Darracott,
1977
Chiều dài,
khối lượng, cá

có thể đánh bắt tự nhiên hoặc chọn lọc từ đàn cá nuôi. Hầu hết cá bố mẹ có thể tham
gia sinh sản ở 2
+
, nhưng tốt nhất là 3 năm tuổi. Mùa vụ sinh sản của cá giò diễn ra
hai lần trong năm vào tháng 4 - 5 và tháng 9 - 10 [44]. Cá giò sinh sản từ khoảng
tháng 6 - 8 ở vùng biển gần vịnh Chesapeake; ở vùng Bắc Carolina vào tháng 5 - 6;
và ở vùng vịnh Mexico từ tháng 4 - 9. Chu kỳ cá đẻ là sau 9 - 12 ngày, cá đẻ 15 - 20
lần trong mùa sinh sản [16], [39]. Trong điều kiện sinh sản nhân tạo ở Đài Loan, cá
được chuyển vào ao nuôi phát dục khoảng tháng 1 và có thể đẻ từ tháng 3 đến tháng
8 [25].
Tỷ lệ đực cái thông thường là 1:1. Ở vịnh Chesapeake, tỷ lệ đực: cái là 1 :
1,54 (n = 257), trong khi đó ở vịnh Mexico và vùng đông nam nước Mỹ thì tỷ lệ là
1 : 1,2 (n = 301) [39].
1.1.6. Đặc điểm dinh dưỡng
Cá giò là loài cá dữ. Giai đoạn cá bột, chúng sử dụng thức ăn là động vật phù
du, đặc biệt là giáp xác chân mái chèo. Trong tự nhiên, ở giai đoạn cá giống và
trưởng thành thì cá giò sử dụng nhiều loài cá, giáp xác để làm thức ăn, trong đó ưa
thích nhất là cua và tôm [39].
Những nghiên cứu ở vùng phía bắc Vịnh Mexico bởi Franks và cộng sự
(1996) đã chỉ ra cá (Anchoa sp) chiếm ưu thế trong khẩu phần thức ăn của cá giò
giống (TL: 236 - 440 mm). Mayer và Franks (1996) cũng tìm thấy giáp xác, chủ yếu
là cua, chiếm đến 79,1% trong dạ dày và 77,6% tổng lượng thức ăn của cá giò (TL:
373 - 1.530 mm) ở phía bắc vịnh Mexico. Khi cá giò trưởng thành, thức ăn chủ yếu
8rang 8
là cá (chiếm 58,5% trong dạ dày, khoảng 20,3% tổng lượng thức ăn). Ví dụ tỷ lệ
thức ăn trong dạ dày cá giò (TL: 1.150 - 1.530 mm ) chiếm tới 84,4% [14].
1.2. Những nghiên cứu về khả năng thích nghi của cá giò với độ mặn
Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới về khả năng thích nghi của cá giò ở các
mức độ mặn khác nhau. Cá giò sống tốt ở độ mặn 22,5 - 44,5 ‰, nhưng chúng có
thể thích nghi ở độ mặn thấp hơn [39].

thích hợp nhất cho sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá giò.
1.3. Những nghiên cứu về dinh dưỡng và thức ăn
Những nghiên cứu về dinh dưỡng đã đánh giá protein là thành phần rất quan
trọng của thức ăn, được coi là “vật chất xây dựng” để xây dựng nên các tổ chức mô,
cơ quan trong cơ thể động vật và để hình thành nên các chất có hoạt tính cao như
emzyme, hormone hay các sản phẩm khác [2]. Sinh trưởng của cá liên quan đến sự
sắp xếp các mô cơ, mô mỡ, biểu mô và mô liên kết. Tỷ lệ của protein hoặc lipit nằm
trong các mô này phụ thuộc phần lớn vào khẩu phần thức ăn mà cá sử dụng. Các
nhu cầu protein của cá không chỉ đòi hỏi về lượng mà nó còn cần đến sự cân bằng
của các amino acid thiết yếu và không thiết yếu [12].
Trong nghiên cứu dinh dưỡng, người ta đưa ra hai khái niệm nhu cầu protein
cho duy trì và cho tăng trưởng. Nhu cầu protein thường được xác định khác nhau
cho các loài cá khác nhau. So với động vật trên cạn thì các động vật thủy sinh
thường có nhu cầu protein cao hơn, ví dụ nhu cầu protein của một số loài cá biển ở
giai đoạn con giống như cá mú từ 40 - 50%, cá măng 40% [2].
Cũng như nhiều loài cá khác, nhu cầu protein của cá giò rất cao, nhất là giai
đoạn cá giống. Đã có nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới công bố về nhu cầu
10rang 10
dinh dưỡng của cá giò, nhưng vẫn còn nhiều khác nhau giữa các kết quả nghiên
cứu.
Nguyễn Tiến Lực và cộng sự (2004) đã nghiên cứu và đưa ra nhu cầu dinh
dưỡng của cá giò ở các giai đoạn phát triển (bảng 1.2)[6]
Bảng 1.2: Nhu cầu dinh dưỡng của cá giò [6]
Khối lượng cá (g) Protein (%) Năng lượng
(Kcal/Kg)
Lipit (%)
1-10 45-50 2.850-3.180 5-10
10-50 40-45 2.850-3.180 5-10
50-100 35-40 2.850-3.180 5-10
100-500 30-35 2.850-3.180 5-10

các dự án nuôi trong hệ thống bể tuần hoàn là 1 : 1 [26], [27].
Trong các thành phần sản xuất thức ăn cá, nguồn protein sử dụng thường từ
bột cá nên chi phí cao. Do đó xu hướng trong phát triển thức ăn thủy sản là kết hợp
các nguồn năng lượng khác vào trong khẩu phần của cá, trong đó protein thực vật
được xem là một sự thay thế cần thiết và thích hợp nhất. Ngoài ra, còn có thể phối
kết hợp khẩu phần protein có nguồn gốc khác như: cá tạp, phế phẩm của các cơ sở
chế biến gia súc, thủy sản nhằm mục đích giảm nguồn protein từ cá và hạ giá thành
sản phẩm.
Chen (2005) đã nghiên cứu mức tối đa mà thành phần thay thế có nguồn gốc
từ thực vật trong sản xuất thức ăn mà không có ảnh hưởng đến chất lượng của thức
ăn. Các thí nghiệm đã thực hiện thay thế 0 - 60% protein bằng bột đậu nành. Kết
quả cho thấy cá giò phát triển rất tốt khi sử dụng thức ăn có tỷ lệ thay thế là 20% và
mức tối đa có thể thay thế mà không làm giảm đi chất lượng thức ăn là không quá
40% [17].
Còn Lunger (2006) thử nghiệm ương giống cá giò (11,5g) bằng các loại thức
ăn có hàm lượng protein là 40% và 11% lipit, trong đó sử dụng nguyên liệu có
12rang 12
nguồn gốc thực vật để thay thế 25%, 50%, 75% và 100% bột cá, thành phần chính
tạo protein cho thức ăn. Kết quả nghiên cứu khẳng định có thể thay thế 25% protein
có nguồn gốc thực vật cho bột cá để sản xuất thức ăn mà không ảnh hưởng đến sinh
trưởng, hệ số thức ăn của cá giò [30].
Lê Xân (2005) đã sử dụng thức ăn tổng hợp để ương giống cá giò từ 25 ngày
tuổi. Thành phần chính của thức ăn tổng hợp gồm 47% cá tươi xay nhuyễn, 25%
bột cá (45% protein), 15% bột đậu nành, cám gạo… và 3% vitamin, khoáng. Kết
quả thu được ở giai đoạn ương giống từ 25 ngày tuổi đến 50 ngày tuổi đạt được tỷ
lệ sống 40 -50% [13], [44]
Cá giò giống (11cm) được ương thử nghiệm trong lồng bằng các loại thức ăn
khác nhau là cá tươi xay, thức ăn viên ẩm (30,6% và 34,2% protein) đã cho kết luận
là cá giò giống sau 65 ngày tuổi sử dụng thức ăn viên ẩm cho tốc độ tăng trưởng tốt
hơn so với sử dụng thức ăn là cá tươi xay nhuyễn [4]

Trộn ẩm
Tạo viên nổi
Dầu
Sấy
Đóng gói
Sàng
Làm nguội
14rang 14
1.4. Những nghiên cứu về kỹ thuật sản xuất giống, ương và nuôi thương phẩm
cá giò trên thế giới và Việt Nam
1.4.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Những nghiên cứu đầu tiên về cá giò được tiến hành vào năm 1975 bằng
cách thu vớt trứng tự nhiên ở vùng bờ biển Bắc Carolina. Kết quả là cá giò được
đánh giá là một đối tượng nuôi rất tốt bởi vì tốc độ sinh trưởng nhanh và chất lượng
thịt ngon. Những nghiên cứu tiếp theo được tiến hành vào thập kỷ 80 và đầu thập kỷ
90 ở Mỹ, Đài Loan. Thành công đầu tiên về sinh sản nhân tạo được thực hiện vào
đầu những năm 1990 ở Đài Loan. Đến khoảng 1997, kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá
giò đã phổ biến khá rộng rãi ở Đài Loan, cung cấp một lượng lớn con giống cho
phát triển nuôi thương phẩm và nuôi lồng trên biển [25] [28].
Đài Loan là nước đi đầu trong lĩnh vực sản xuất giống và nuôi cá giò thương
phẩm. Cá giò được sinh sản nhân tạo đầu tiên vào năm 1992, đến năm 1997 kỹ
thuật sản xuất giống đã phát triển phổ biến. Cá giò sản xuất giống ở qui mô thương
mại ở Đài Loan và Trung Quốc bằng phương pháp bán thâm canh trong ao đất.
Năm 1999, Đài Loan đã sản xuất được 5 triệu con cá giò giống phục vụ nhu cầu
nuôi thương phẩm trong nước và xuất khẩu sang các nước khác. Cá giò nhanh
chóng trở thành đối tượng nuôi phổ biến ở Đài Loan, chiếm 80% lồng nuôi biển với
sản lượng ước tính khoảng 1.500 tấn năm 1999. Những thành công ban đầu về nuôi
cá giò đã thúc đẩy nghề nuôi lồng biển của Đài Loan phát triển mạnh [25], [28 ].
Ở Mỹ, những nghiên cứu về sinh sản nhân tạo thành công đầu tiên vào năm
1996 ở Phòng nghiên cứu thực nghiệm vùng ven vịnh của Trường đại học Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status