Đặc điểm Thạch học - vật lý, các mô hình Vật lý đánh giá độ rỗng, độ nứt nẻ, độ rỗng khối của đá móng chứa dầu bồn trũng Cửu Long - Pdf 20

Khoá Luận Tốt Nghiệp GVHD: Phan Văn Kông
LỜI CẢM ƠN
Bài khoá luận này được thực hiện và hoàn thành dưới sự giúp đỡ, động
viên của mọi người.
Trước tiên em xin được gửi lời cảm ơn đến ban chủ nhiệm khoa cùng toàn
thể quý thầy cô khoa ĐỊA CHẤT nói chung và thầy cô bộ môn Đòa Chất Dầu
Khí nói riêng đã cho em những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập
qua.
Em xin được gủi lời biết ơn sâu sắc đến giáo viên, Thạc Só Phan Văn
Kông đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện Khoá
Luận. Cám ơn người thân và bạn bè đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời
gian qua.
Trong suốt quãng đường học tập bản thân em không tránh khỏi những
thiếu sót , khuyết điểm mong được sự niệm tình tha thứ và góp ý quý báu của các
thầy cô.
Tp.HCM, Tháng 07/2004
Phan Đặng Thông
Phan Đặng Thông
1
Khoá Luận Tốt Nghiệp GVHD: Phan Văn Kông
MỤC LỤC
Lời mở đầu trang 3
CHƯƠNG 1:
ĐẶC ĐIỂM TỔNG QUÁT CỦA BỒN TRŨNG CỬU LONG

Lòch sử nghiên cứu 5
I/ Đặc điểm đòa lý tự nhiên. 8
II/ Đặc điểm đòa tầng. 9
III/ Đặc điểm kiến tạo. 13
thập được từ các giếng khoan.
Đi đôi với việc khai thác tìm kiếm các bồn dầu khí là cần phải xem xét, đánh
giá độ thấm chứa, độ rỗng, độ nứt nẻ của đá chứa móng.
Trước khi vào sâu vấn đề này em đã giới thiệu đôi nét về các đặc điểm bồn
trũng Cửu Long bao gồm :Lòch sử nghiên cứu, vò trí đòa lý,đòa tầng, các hoạt động kiến
tạo, lòch sử hình thành bồn trũng, tiềm năng dầu khí,đặc điểm thạch học đá móng.
Sang chương II em đi sâu vào các đặc điềm về thạch học của bồn trũng Cửu
Long.
Và chương III là chương cuối và cũng là chương em đề cập , phân tích chi tiết về
các phương thức đánh giá độ rỗng, độ nứt nẻ của đá chứa móng bể Cửu Long.
Đề tài này được hình thành trong quá trình sưu tập tài liệu, những hiểu biết trong
quá trình học tập tại trường. Do vậy không tránh khỏi những sai sót cả nội dung lẫn
hình thức tác giả. Em rất mong được sự giúp đỡ phê bình của các thầy cô cũng như sự
đóng góp của các bạn đọc.
Phan Đặng Thông
4
Khoá Luận Tốt Nghiệp GVHD: Phan Văn Kông
CHƯƠNG I :
ĐẶC ĐIỂM TỔNG QUÁT CỦA BỒN
TRŨNG CỬU LONG
Phan Đặng Thông
5
Khoá Luận Tốt Nghiệp GVHD: Phan Văn Kông
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU :
Bồn trũng Cửu Long nằm phía Đông bắc thềm lục đòa Việt Nam, với tọa độ
đòa lý : nằm giữa 9
0
– 11
0
vó độ Bắc, 106

Khoá Luận Tốt Nghiệp GVHD: Phan Văn Kông
2. Giai đoạn 1975 – 1980 :
 Năm 1976, công ty Pháp đã tiến hàng đo đòa vật lý theo mạng lưới
tuyến khu vực và liên kết đòa chấn ở các lô 6, 16, 17 vào các khu vực đồng
bằng sông Cửu Long.
 Năm 1978, công ty Geco của Na Uy đã tiến hành đo mạng lưới đòa vật
lý 8 km * 8 km và 4 km * 4 km và khảo sát chi tiết mạng lưới 2 km * 2 km, 1
km * 1 km trên khu vực lô 9, lô 16.
 Năm 1979, công ty Deminex đo đòa vật lý lô 15 với mạng lưới 3,5 km
* 3,5 km và tiến hành khoan 4 giếng 15A – 1X, 15B, 15C – 1X, 15G – 1X.
3.Giai đoạn 1980 đến nay :
a. Năm 1980, liên doanh dầu khí giữa Việt Nam và Liên Xô đã thành
lập và tiến hành thăm dò, khai thác dầu khí rộng rãi trên toàn bồn trũng.
b. Năm 1984, liên đoàn đòa vật lý Thái Bình Dương của Liên Xô đã tiến
hành khảo sát khu vực một cách chi tiết với các mạng lưới như sau :
• Mạng lưới 2 km * 2 km ở các cấu tạo Bạch Hổ, Rồng, Tam Đảo.
• Mạng lưới tuyến 1 km * 1 km ở các cấu tạo Rồng, Tam Đảo, khu
vực lô 15.
• Mạng lưới 0,5 km * 0,5 km ở cấu tạo Bạch Hổ.
c. Đến nay, đòa chất bồn trũng Cửu Long đã được nghiên cứu tỉ mỉ và chi
tiết thể hiện qua các báo cáo về dầu khí được hoàn thành bởi Viện Nghiên Cứu
Khoa Học và Thiết Kế Biển của xí nghiệp liên doanh Việt Xô cùng với trữ
lượng dầu đã được đánh giá và khai thác ở các mỏ Bạch Hổ, Rồng.
Phan Đặng Thông
7
Khoá Luận Tốt Nghiệp GVHD: Phan Văn Kông
I. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN :
Bồn trũng Cửu Long nằm phía Đông thềm lục đòa Nam Việt Nam, trong
khoảng giữa 9
0

Chế độ dòng chảy : dưới tác động gió mùa ở vùng biển Đông tạo dòng
đối lưu vào hướng và tốc độ được xác đònh bằng hướng gió và tốc độ gió.
Về khí hậu : bồn trũng Cửu Long được đặc trưng là khí hậu xích đạo,
chia làm hai mùa rõ rệt : mùa khô và mùa mưa. Nhiệt độ bề mặt và đáy biển
Phan Đặng Thông
8
Khoá Luận Tốt Nghiệp GVHD: Phan Văn Kông
gần như bằng nhau. Trên mặt nhiệt độ trung bình vào mùa đông từ 27
0
C đến
28
0
C. Còn ở độ sâu 20 m nước, mùa đông nhiệt độ trung bình 26
0
C đến 27
0
C,
mùa hè 28
0
C đến 29
0
C. Nhìn chung vùng nghiên cứu có khí hậu khô ráo, độ ẩm
trung bình 60%……
Bồn trũng Cửu Long nằm gần Vũng Tàu, TP.HCM và các khu vực trọng
điểm kinh tế, các khu công nghiệp là các cơ sở dòch vụ tốt cho công tác thăm
dò khai thác dầu khí, rất thuận lợi cho việc xây dựng cơ sở sử dụng, chế biến
các sản phẩm dầu khí như nhà máy tua bin khí, nhà máy phân bón, nhà máy
hóa lỏng khí, lọc dầu…
II. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA TẦNG:
Giai đoạn từ năm 1980 đến nay, với số lượng giếng khoan ngày càng

Tuổi tuyệt đối của đá móng kết tinh thay đổi từ 245±7 triệu năm đến
89±3 triệu năm (từ nghiên cứu đá móng Bạch Hổ). Granit tuổi Creta có hang
hốc và nứt nẻ cao, góp phần thuận lợi cho việc chuyển dòch và tích tụ dầu trong
móng.
Tới nay, các thành tạo móng được khoan với chiều dày hơn 1600m
(giếng khoan 404 mỏ Bạch Hổ) và mức độ biến đổi của đá có xu thế giảm theo
chiều sâu, đặc biệt ở chiều sâu hơn 4500m thì quá trình biến đổi giảm rõ rệt.
2. Các trầm tích Kainozoi :
Việc phân chia các thành tạo trầm tích Kainozoi không thống nhất giữa
các nhà đòa chất, do đó có những sự khác biệt trong sự phân chia các thành tạo
này. Theo tài liệu của Vietsovpetro “Thống nhất đòa tầng trầm tích Kainozoi
bồn trũng Cửu Long” – 1987, các thành tạo trầm tích Kainozoi có những đặc
điểm sau :
 Các thành tạo trầm tích theo bình đồ cũng như mặt cắt khá phức tạp,
bao gồm các loại đá lục nguyên tướng châu thổ và ven biển.
Phan Đặng Thông
10
Khoá Luận Tốt Nghiệp GVHD: Phan Văn Kông
 Trầm tích Kainozoi phủ bất chỉnh hợp trên móng nước Kainozoi với độ
dày 3-8 km, càng đi về trung tâm bồn trũng độ dày càng tăng, chỗ sâu nhất lớn
hơn 8 km.
 Các trầm tích Kainozoi ở bồn Cửu Long bao gồm các phân vò đòa tầng
có các hóa thạch đặc trưng được xác đònh bởi các bào tử phấn và vi cổ sinh từ
dưới lên bao gồm :
Các thành tạo trầm tích Paleogen :
Trầm tích Oligoxen (P
3
) :
Theo kết quả nghiên cứu đòa chấn, thạch học, đòa tầng cho thấy trầm tích
Oligoxen của bồn Cửu Long được tạo thành bởi sự lắp đầy các trũng đòa hình

(ở lô 09 khu vực mỏ Rồng và lô 1 tại các cấu tạo Ruby, Diamond, Emerald,
Topaz và một số những khu vực khác trong bồn trũng Cửu Long). Trầm tích
Oligoxen thượng có thể chia thành hai phần theo đặc trưng thạch học của chúng
: phần dưới bao gồm xen kẽ các lớp cát hạt mòn – trung, các lớp sét và các tập
đá phun trào, phần trên đặc trưng bằng các lớp sét đen dày. Ở khu vực đới
nâng Côn Sơn, phần trên của mặt cắt tỷ lệ cát nhiều hơn. Ở một vài nơi tầng
trầm tích Oligoxen thượng có dò thường áp suất cao.
Trầm tích điệp Trà Tân có chiều dày từ 100 – 1000 m và phủ hầu hết
bồn trũng từ phía Tây Bắc của lô 16.
Các thành tạo trầm tích Neogen
Trầm tích Mioxen hạ – điệp Bạch Hổ (N
1
1
bh)
Trầm tích điệp Bạch Hổ bắt gặp ở hầu hết các giếng khoan đã được
khoan ở bồn trũng Cửu Long. Trầm tích điệp này nằm bất chỉnh hợp trên các
trầm tích dưới, bề mặt bất chỉnh hợp được phản xạ khá tốt trên mặt cắt đòa
chấn. Đây là bề mặt bất chỉnh hợp quan trọng nhất trên đòa tầng Kainozoi. Dựa
trên tài liệu thạch học, cổ sinh, đòa vật lý, điệp này chia thành hai phụ điệp.
Phan Đặng Thông
12
Khoá Luận Tốt Nghiệp GVHD: Phan Văn Kông
• Phụ điệp Bạch Hổ dưới (N
1
1
bh
1
):
Trầm tích của phụ điệp này là các lớp cát kết lẫn với các lớp sét kết và
bột kết chiều dày hàng trăm mét tương đối ổn đònh và phát triển trên toàn bộ

gồm sự xen kẽ giữa các tập cát dày gắn kết kém với các lớp sét vôi màu xanh
thẫm, đôi chỗ gặp các lớp than và dolomit.
Trầm tích của điệp được thành tạo chủ yếu trong môi trường ven bờ và
có mặt đầy đủ trên toàn bồn trũng Cửu Long.
Phan Đặng Thông
13
Khoá Luận Tốt Nghiệp GVHD: Phan Văn Kông
Trầm tích Mioxen thượng – điệp Đồng Nai (N
1
3
đn):
Trầm tích được phân bố rộng rãi trên toàn bồn trũng Cửu Long và một
phần của đồng bằng sông Cửu Long (ở giếng khoan Cửu Long 1). Trầm tích
của điệp này nằm chỉnh hợp trên trầm tích điệp Côn Sơn. Trầm tích phần dưới
gồm những lớp cát xen lẫn những lớp sét mỏng, đôi chỗ lẫn với cuội, sạn kích
thước nhỏ. Thành phần hạt chủ yếu là thạch anh, một ít những mảnh đá biến
chất, tuff. Trong sét đôi chỗ gặp than nâu hoặc bột xám sáng. Phần trên là cát
thạch anh với kích thước lớn, độ lựa chọn kém, hạt sắt cạnh. Trong cát gặp
nhiều mảnh hóa thạch sinh vật, glauconit, than và đôi khi cả tuff.
Trầm tích Plioxen –Đệ Tứ – điệp Biển Đông (N
1
-Q bđ):
Trầm tích của điệp này bất phủ chỉnh hợp lên trầm tích Mioxen. Trầm
tích của điệp này đánh dấu một giai đoạn mới của một sự phát triển trên toàn
bộ trũng Cửu Long, tất cả bồn trũng được bao phủ với biển. Điệp này được đặt
trưng chủ yếu là cát màu xanh, trắng, có độ mài mòn trung bình, độ lựa chọn
kém, có nhiều glauconit. Trong cát có cuội thạch anh hạt nhỏ. Phần trên các
hóa thạch giảm, cát trở nên thô hơn, trong cát có lẫn bột, cát có màu hồng chứa
glauconit.
III. ĐẶC ĐIỂM KIẾN TẠO

kiểu giữa núi như : Phú Quốc, vònh Thái Lan.
Quá trình này đi kèm magma xâm nhập Granitoit và phun trào axit dạng
Ryolit và Andesit, Bazan và các họat động nhiệt dòch, và các chuyển động nứt co
Phan Đặng Thông
15
Khoá Luận Tốt Nghiệp GVHD: Phan Văn Kông
bên trong các khối magma, tạo ra các khe nứt đồng sinh được lấp đây bởi zeolit và
canxit, cũng như tạo ra các hang hốc khác nhau.
Thời kỳ Eoxen – Oligoxen sớm: là thời kỳ phát triển của rift với các thành
hệ lục đòa, molat phủ không chỉnh hợp trên các trầm tích Mezozoi ở trung tâm
trũng hoặc trong các đá cổ hơn ở ven rìa.
Sự chuyển động dâng lên mạnh ở các khối nâng và quá trình phong hóa
xảy ra vào đầu Paleogen tạo ra lớp phong hoá có chiều dày khác nhau trên đỉnh
các khối nâng Granit. Đó là điều kiện hết sức thuận lợi để tích tụ hydrocacbon và
cũng là tầng sản phẩm quan trọng phát hiện và khai thác hiện nay ở trũng Cửu
Long.
Thời kỳ Oligoxen – Đệ Tứ : là thời kỳ mở rộng các vùng trũng do sự lún
chìm khu vực ở rìa Nam đòa khối Kontum – Borneo, có liên quan trực tiếp với sự
phát triển của biển Đông. Trầm tích biển lan rộng dần từ Đông sang Tây.
Trên cơ sở các số liệu đòa vật lý giếng và khoan sâu ở thềm lục đòa Nam
Việt Nam, đòa tầng Đệ Tam sớm nhất được khoan qua có tuổi xác đònh Oligoxen.
Các trầm tích Molat giữa núi dự kiến tuổi Eoxen và sớm hơn chỉ phổ biến ở
trung tâm các đòa hào, ở đây chiều dài trầm tích Đệ Tam đạt 8-10 km.
• Sự va chạm giữa các mảng vào cuối Oligoxen đã ảnh
hưởng đến sự phát triển của rìa Nam mảng Kontum – Borneo, gây ra hiện
tượng biển lùi và bất chỉnh hợp khu vực giữa phức hệ Oligoxen và các trầm
tích phủ lên chúng. Các chuyển động khối theo các đứt gãy đồng sinh cùng quá
trình trầm tích thừa kế bình đồ kiến tạo của móng trước Đệ Tam đã tạo ra
những cấu tạo đòa phương.
Phan Đặng Thông

Thật vậy , phần lớn các đứt gãy quan trọng trong bồn trũng Cửu Long là
đứt gãy thuận kế thừa từ móng và phát triển đồng sinh với quá trình lắng đọng
trầm tích. Các đứt gãy nghòch hiện diện ít do sự nén ép đòa phương hoặc nén ép
đòa tầng. Chúng bao gồm hai hệ thống đứt gãy sâu khu vực:
• Hệ thống theo phương Tây Bắc – Đông Nam bao
gồm các đứt gãy lớn.
• Hệ thống đứt gãy sâu Đông Bắc – Tây Nam tồn tại ở
phần biển của bồn trũng, gồm hai đứt gãy chạy song song. Đứt gãy thứ nhất
chạy dọc theo rìa biển, đứt gãy thứ hai chạy dọc theo rìa Tây Bắc khối nâng
Côn Sơn. Các đứt gãy này có góc cắm 10 – 15
0
so với phương thẳng đứng, cắm
sâu tới phần lớp dưới Bazan, hướng cắm về trung tâm bồn trũng. Hai đứt gãy
này khống chế phương của bồn trũng Cửu Long trong quá trình lòch sử phát
triển của mình.
Ngoài ra hệ thống đứt gãy sâu khu vực, trong bồn trũng Cửu Long còn
tồn tại các đứt gãy có độ kéo dài nhỏ hơn ( có thể chỉ tồn tại trong trầm tích có
tuổi Kainozoi ). Kết quả xây dựng các bản đồ cấu tạo bồn trũng cho thấy bình
đồ cấu trúc Kainozoi bò phức tạp hóa bởi ba hệ thống đứt gãy chính: Đông Bắc
– Tây Nam, Đông Tây, Tây Bắc – Đông Nam.
Phan Đặng Thông
18
Khoá Luận Tốt Nghiệp GVHD: Phan Văn Kông
Phan Đặng Thông
19
Khoá Luận Tốt Nghiệp GVHD: Phan Văn Kông
CHƯƠNG II:
ĐẶC ĐIỂM THẠCH HỌC – VẬT LÝ
ĐÁ MÓNG BỂ CỬU LONG
Phan Đặng Thông

trình Oxi hoá cũng xuất hiện ở một số mẫu dưới dạng lấp đầy các nứt nẻ.Các
khoáng vật không bền bò dung dòch thuỷ nhiệt hoà tan, các khoáng vật có xu
hướng tích tụ thành những khoáng vật thứ sinh, nó có thể thay thế bởi những
khoáng vật chính( TRỊNH XUÂN CƯỜNG, tạp chí Dầu khí số 5 – 2002 ) phổ
biến là Zeolit (Laumonit, Ankacime, Mordenite), canxit quartzit, Kaolinit,
Clorit, anbit và epidot, pyrit. Các khoáng vật Sunfua kim loại kẽm đồng, bạc
cũng xuất hiện phân tán trong các nứt nẻ và lỗ rỗng.
II/ ĐĂC ĐIỂM THẠCH HỌC – KHOÁNG VẬT ĐÁ MÓNG CỬU
LONG:
ª Khái quát về các đặc diểm thạch học đá móng:
Kết quả phân tích thạch học, thạch đòa hoá, tuổi đồng vò phóng xạ và sự
liên hệ đối sánh các đá móng được nghiên cứu ở lục đòa đã xác nhận rằng các
đá móng ở đây được cấu tạo bởi các phức hệ Hòn Khoai có tuổi Triat muộn ;
Đònh Quán có tuổi Jura muộn và Cà Ná có tuổi Kreta muộn. Ngoài ra không
loại trừ khả năng tồn tại của các phức hệ Hải Vân (tuổi Triat muộn – bậc
Nori ), Đèo Cả (tuổi Kreta ), (Võ Năng Lạc, Mai Thanh Tân, Đặng Văn Bát,
Phạm Huy Long – Hội Nghò Khoa Học Ngành Dầu Khí 20 năm xây dựng và
tương lai phát triển - Hà Nội 1997)
Phức hệ Hòn Khoai được phân bổ phía Bắc mỏ Bạch Hổ. Các đá của
phức hệ này bao gồm 2 pha xâm nhập chính :
Pha 1 gồm Granodiorit biotit sáng màu hạt nhỏ, trung, kiến trúc hạt nửa
tự hình, cấu tạo khối. Thành phần khoáng vật bao gồm plagioclas (30- 45%),
Fenspat kali ( 25 – 28%), Thạch anh ( 20-28%), Biotit (4-10%). Các khoáng vật
phụ hay gặp là Apatit, quặng, đôi khi có Octhit và Sphen.
Phan Đặng Thông
22
Khoá Luận Tốt Nghiệp GVHD: Phan Văn Kông
Pha 2 có thành phần là Granit biotit sáng màu hạt nhỏ – trung; kiến trúc
hạt nửa tự hình, cấu tạo khối. Thành phần khoáng vật bao gồm plagioclas (30-
40%), Fenspat (27-33%), Thạch anh (28-34%), Biotit (3-7%). Các khoáng vật

Phức hệ Ankroet, thành phần thạch học các đá của pha xâm nhập gồm
có Granit sáng màu, granit 2 mica và granit biotit. Các đá đều có màu xám
sáng, xám trắng,phớt hồng, hạt trung hay nhỏ – trung không đều. Kiến trúc hạt
nửa tự hình, đôi chỗ có kiến trúc vi khảm hay vi pecmatit, cấu tạo khối. Hàm
lượng của các khoáng vật : Oligiocla 25- 35%, fenspat kali (microlin )25-35%,
thạch anh 28-40%, biotit 2-10% , muscovic 0-4%.Các khoáng vật phụ gồm có
Apatit, orthit, zircon, granat, quặng. Tuổi của các phức hệ được giả đònh là
Kreta muộn dựa trên cơ sở phân tích tuổi tuyệt đối của 3 mẫu có giá trò 93, 108,
108 triệu năm.
Như vậy các đá móng của trũng Cửu Long gồm các phức hệ magma có
tuổi khác nhau. Các phức hệ có tuổi trẻ hơn xuyên cắt các phức hệ đã được
hình thành từ trước : phức hệ Đònh Quán xuyên cắt phức hệ Hòn Khoai , phức
hệ Cà Ná lại xuyên cắt phức hệ Hòn Khoai và ĐỊnh Quán. Phức hệ Đèo Cả lại
xuyên cắt các phức hệ trên. Sự xuyên cắt phức tạp đó đã tạo nên ranh giới biến
đổi xung quanh đới tiếp xúc giữa các thể magma xâm nhập. Đó cũng là những
đới tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tích tụ dầu khí. Đới tiếp xúc giữa các
thể magma xâm nhập là những phá huỷ nội ngoại tiếp xúc.
Phan Đặng Thông
24
Khoá Luận Tốt Nghiệp GVHD: Phan Văn Kông
ª PHÂN LOẠI CÁC ĐÁ MÓNG :
A/NHÓM MAGMA:
1_Đá magma xâm nhập:
Nhóm Granitoid:
Gồm các đá magma ( 68-73% SiO
2
). Nhóm này thành phần axit bao gồm
các đá Granit, Granodiorit, chúng được xếp vào các phức hệ Đònh Quán và
Ankroet có tuổi từ Triat muộn đến Kreta muộn.
+ Granit :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status