1
MỞ ĐẦU
I – TÍNH CẤP THIẾT.
Việt Nam có hệ động thực vật vô cùng phong phú, có nhiều nguồn gene quý
hiếm đặc trưng cho khí hậu nhiệt đới nóng ẩm. Một trong những điều kiện tạo nên
sự phong phú và giàu có ấy chính là vùng biển nhiệt đới rộng với bờ biển dài hơn
3000 km bao bọc hết phía đông và nam đất nước. Một trong những nguồn tài
nguyên phong phú và giá trị mà vùng biển tặng cho chúng ta chính là rong biển. Tại
vùng biển Việt Nam có gần 800 loài rong biển thuộc tất cả các bộ của các ngành
rong đã được công bố trên thế giới. Từ rong biển có thể tách các polysaccharide
như: carrageenan, acide alginic, agar,…Carrageenan được ứng dụng nhiều trong đời
sống kinh tế quốc dân do đó việc sản xuất carrageenan đã được nhanh chóng phát
triển trên thế giới. Sản lượng hàng năm của carrageenan trên thế giới tăng rõ rệt. So
với các polysaccharide khác, carrageenan có giá trị thương phẩm lớn nhất.
Ở nước ta cũng có một số loại rong có thế chế biến được carrageenan như
hypnea, acanthophara,… nhưng chỉ có loại kappaphycus alvarezii là có giá trị nhất.
Rong sụn có tốc độ sinh trưởng cao, có thế trồng quanh năm, trồng bằng nhiều hình
thức khác nhau. Nó tạo công ăn việc làm cho người chưa có việc làm ổn định, nhất
là các vùng quê ven biển, thường ngư nhàn, nông nhàn vào mùa biển động. Thực tế
ở nước ta trồng rong đã đạt kết quả giải quyết công ăn việc làm cho ngư dân ven
biển miền Trung và cung cấp một sản lượng rong sun khô ước tính 150 tấn năm.
Rong được sử dụng làm thức ăn và bước đầu chế biến ra caragenan. Tuy
nhiên đầu ra của rong khô nguyên liệu và sản phẩm carrageenan chưa được giải
quyết và người sản xuất bán ra với giá rẻ và bấp bênh, sản xuất ra carrageenan
không tiêu thụ được, chưa được ứng dụng rộng rãi.
Quá trình chế biến thực phẩm ở nước ta có vấn đề tồn tại chính là còn sử
dụng nhiều chất phụ gia độc hại như hàn the và nhiều hóa chất khác. Việc sử dụng
caragenan trong chế biến thực phẩm đem lại lợi ích rất lớn trong việc nâng cao giá
Kết quả nghiên cứu của đề tài ứng dụng carrageenan trong sản phẩm đồ hộp
… có thể dùng carrageenan thay thế các chất phụ gia độc hại trong việc chế biến
thực phẩm, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, với hiệu quả của ứng dụng
carrageenan trong thực phẩm sẽ góp phần tạo đầu ra cho công nghệ sản xuất
carrageenan và nghề nuôi trồng rong sụn ổn định, đồng thời góp phần thúc đẩy nghề
nuôi rong sụn ở vùng ven biển, tạo công ăn việc làm, “xóa đói giảm nghèo” cho
các hộ ngư dân nghèo không có đủ vốn để đóng tàu đánh bắt xa bờ hoặc nuôi tôm
sú, tôm lồng. 3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan về Carrageenan
1.1.1. Lịch sử phát triển của carragenan
Carrageenan là một polysacharide được chiết xuất từ các loài rong thuộc
ngành rong đỏ, bao gồm một số giống loài như: Chondrus, Gigartinastella, Hypnea
và rong sụn Alvarezii.
Carrageenan đã được biết đến từ lâu đời ở phương tây. Vào những năm
1842 – 1862 các nhà khoa học như Schimidt, Simmonds, Stanford, … đã phát hiện
ra carrageenan có trong một loại tảo có tên là Chondrus Crippus nhưng những khám
phá của họ rất thô sơ, chưa xác định được tính chất cũng như thành phần của nó.
Mãi cho đến khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ thì việc thiếu gelatin để
phục vụ cho quân đội trở lên trầm trọng, do đó cần phải có chất thay thế. Rất nhiều
cuộc nghiên cứu tìm giải pháp cho vấn đề này được tiến hành và cuối cùng họ đã
tìm thấy carrageenan có tính chất gần giống với gelatin. Công nghệ sản xuất cũng
như sự đa dạng hoá ứng dụng của carrageenan được quan tâm phát triển từ sau
chiến tranh thế giới lần thứ hai. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã đưa công nghệ
sản xuất carrageenan ngày càng hoàn thiện và ổn định và carrageenan được coi như
dehydrat hoá của chuỗi polysacharide. Cấu trúc của chúng đều có những thành phần
về số lượng sunphat của carrageenan chiếm 18 – 40% phấn tử carrageenan. Khối
lượng phân tử của đại phân tử carrageenan từ 10
5
đến 10
6
phụ thuộc vào nguồn gốc
nguyên liệu và quá trình tách chiết [15, 24, 28, 35].
Carrageenan tự nhiên từ các loài rong khác nhau có thể là hỗn hợp khác nhau
của các loại carrageenan trên. Người ta phân chia carrageenan ra hai nhóm chính:
nhóm 1 chứa các loại mu, nu, kappa, iota và các dẫn xuất của chúng. Các
carrageenan này tạo gel với ion K
+
hoặc có thể xử lý kiềm để có tính chất tạo gel,
chúng có đặc điểm là gốc đường có liên kết 1,3 hoặc là không có nhóm sulphat
hoá ở vị trí C
4
. Nhóm thứ 2 là lambda, xi, theta và các dẫn xuất của chúng. Chúng
không có khả năng tạo gel ngay cả trước và sau khi xử lý kiềm. Đặc trưng của cấu
trúc này là cả hai loại gốc đường liên kết 1,4 và 1,3 đều có nhóm sulphát ở ví trí C
2
.
Ngoài ra thành phần của carrageenan gồm có H
2
SO
4
, Ca
++
và 3,6 anhydro D-
Galactoza. Dạng tồn tại của carrageenan trong rong đỏ gắn với Ca
carrageenan là vòng xoắn kép bậc III. b. Iota – carrageenan cũng giống như kappa – nhưng gốc 3,6- anhydrogalactose lại
ở vị trí cacbon số 2. Iota là carrageenan có nhóm sulphat nhiều nhất trong mạch
phân tử, cấu trúc là vòng xoắn kép bậc II. Gel iota có tính đàn hồi. c, Lambda – carrageenan: trong mạch phân tử các đơn vị monomeric được nối xen
kẽ với nhau, các đơn vị gồm: D-galactose – 2 – sulphat (1,3) và D- Galactose -2 –
6- di sulphat
6
Các phân đoạn này đều có tính đa phân tán, nhưng chúng chỉ khác nhau về
thành phần sulphat ester và gốc quay quang. Lambda- carrgeenan có khối lượng
phân tử cao và mạch dài hơn kappa – carrgeenan. Thành phần của phân đoạn này
cũng phụ thuộc vào nhiệt độ tách chiết và loại rong nguyên liệu [12, 35,46].
Sự khác nhau của các loại carrageenan trên chỉ ở vị trí và số lượng nhóm este
Sữa nóng Tan Tan Tan
Sữa lạnh Không tan trong dd
muối Na
+
, K
+
, Ca
++
nhưng trương nở rõ
ràng
Không tan Tan
Dung dịch đường
cô đặc
Tan khi nóng Tan Tan khi nóng
Dung dịch muối
cô đặc
Không tan Không tan Tan khi nóng
Ảnh hưởng của
cation
Tạo gel tốt trong môi
trường có K
+
Tạo gel tốt trong
môi trường có
Ca
++
Không tạo gel
hơn nguyên lý này là rửa sạch rong bằng dung dịch kiềm, tách phần carrageenan và
phần không tan khác. Rong được rửa sạch sau đó xử lý dung dịch kiềm KOH ở
nhiệt độ thích hợp cho từng loại rong cụ thể, dung dịch KOH loại bỏ các tạp chất
như sắc tố, protein, muối khoáng, các sợi rong đã xử lý chứa một lượng lớn
carrageenan và cellulose, sau đó sấy khô và nghiền thành bột carrageenan bán tinh
chế (SRS). Quy trình sản xuất này đơn giản và giá thành của sản phẩm rẻ hơn nhiều
so với quy trình sản xuất carrageenan tinh chế, vì không cần dùng alcohol để kết tủa
carrageenan, không cần thiết bị chưng cất thu hồi alcohol, thiết bị tạo gel, tủ đông,
máy ép để tách nước thu hồi carrageenan. Sản phẩm bán tinh chế thường được dùng
làm chất kết dính, tạo gel trong công nghiệp sản xuất thức ăn cho vật nuôi, gia cầm,….
[24, 28, 30,35]
Sự khác nhau cơ bản giữa carrageenan tinh chế và bán tinh chế đó là
carrageenan bán tinh chế có chứa cellulose, trong khi carrageenan tinh chế thì
cellulose đã được tách hoàn toàn trong quá trình sản xuất. Khi hoà tan carrageenan
bán tinh chế vào nước thì sẽ làm dung dịch.có vẩn. Tuy nhiên đối với những sản
phẩm mà độ trong không quan trọng hoặc có pha nhiều thành phần như thịt, tinh
bột, trứng, phẩm màu thì sử dụng carrageenan bán tinh chế là phù hợp, giá thành rẻ
hơn do đó được ứng nhiều trong thực phẩm. 8
1.1.4. Tính chất lý hoá của carrageenan
a, Tính chất của một polymer
* Khử trong môi trường kiềm
Trong môi trường kiềm có tác dụng khá mạnh đến cấu tạo hoá học của
carrageenan. Dưới tác dụng của môi trường kiềm, nhóm (HOSO
3
-
) bị khử dần tuỳ
theta
Nu Iota
Mu Kappa 9
Carrageenan là một polymer mang điện âm nên tủa trong các đại phân tử
mang điện tích dương như: metylen xanh, safranine, mauvine, những phẩm mầu azo
thiazo khác, tính chất này giống như một vài alkaloid và protein. Ngoài ra
carrageenan còn tủa trong cồn (cồn đóng vai trò là tác nhân dehydrate hoá).
* Sự trương nở:
Carrageenan hút nước mạnh và sự hút nước kèm theo sự trương phồng đáng
kể tạo thành gel theo thời gian khi nó tiếp xúc với dung môi. Carrageenan là cao
phân tử (polysaccharide) có cực nên trương nở trong dung môi có cực (nước) [44].
b. Tính tan.
Carrageenan tan trong nước đặc biệt là nước nóng, tuy nhiên tính tan còn phụ
thuộc vào loại carrageenan. Kapppa carrageenan, iota carrageenan tan trong nước
nóng lớn hơn trên 60
0
C. Lambda carrageenan tan trong nước nóng và nước lạnh còn
kapppa carrageenan, iota carrageenan chỉ tan trong nước lạnh có ion Na
+
, không tan
trong nước lạnh c ó ion K
+
và Ca
++
Dung dịch carrageenan là một chất hữu cơ, nên có khả năng hấp thu hồng
ngoại cho phổ có bước sóng trong phạm vi nhất định phụ thuộc vào loại và thành
phần carrageenan. Dựa vào tính chất này người ta có thể biết được carrageenan
thuộc loại lamda-, Iota-, kappa-, … Các loại polysaccharide thường cho bước sóng
ở vùng hồng ngoại trong khoảng 1000-1100cm
-1
. Với các loại Carrageenan tạo gel
thì cho mũi hấp thu cực đại (mũi hấp thụ trong khoảng rộng) ở 1065cm
-1
, loại
không tạo gel ở vùng 1020cm
-1
.
g.Tính thuỷ phân và sự metyl hoá xác định công thức cấu tạo của carrageenan.
Dung dịch carrageenan ít bị thuỷ phân ở môi trường pH = 9 và môi trường
pH = 7 dung dịch muối Na carrageenan bị thoái hoá do phân tử carrageenan bị đứt
liên kết 3,6-anhydrogalactose. Và từ phản ứng xác định tính thuỷ phân kiềm của
nhóm ester sulfate của carrageenan đã nói lên cấu trúc của carrageenan có nhóm
ester sulfate gắn ở C
4
trong gốc galactose. Carrageenan mà đặc biệt lafphana đoạn
k- carrageenan sẽ bị thuỷ phân bởi enzym Pseudomonate carrageenan hay k-
carrageenanovora. Khi carrageenan (k-, -) bị thuỷ phân bởi enzym này thì độ nhớt
của dung dịch giảm rất nhiều và làm tăng khả năng khử, tạo các sản phẩm thuộc dãy
đồng đẳng của oligosaccharide sulfate, 3-6-(3,6-anhydrose--D-galactopyranose)-
D-galactose-4-6-sulfatca (neocarrabiose-4-o-sulfate).
Carrageenan bị metyl hoá tạo ra các dẫn xuất methyl như 2,3,4,6-tetra-
methyl-D(L)-galaactose hoặc 2,4,6-tri-methyl-D(L)-galactose và dựa vào đặc tính
này người ta đã xác định thành phần cấu trúc của nó.
h. Độ nhớt.
ù
gelatin
Kappa- + gôm hạt bồ kết 0,2 - 1,0
Tạo gel cá Làm đông lại Kappa - + gôm hạt bồ kết
Kappa- + iota
0,5 - 1,0
Siro Tạo huyền phù, gi
ữ
hương vị
Kappa - + lambda 0,3 - 0,5
Bột nước trái cây v
à
cô đặc lạnh
Giữ hương vị, l
àm cho
nhão ra
Sodium- kappa, lambda -
Postassium calcium kappa -
0,1 - 0,2
Nư
ớc sốt, bánh
pizza, nư
ớc quay
thịt
Giữ hương vị Kappa - 0,2 - 0,5
Mô phỏng sữa Giữ hương v
ị, ổn định
chất béo
Iota - , lambda- 0,03 - 0,06
12
Trong thực phẩm: carrageenan có vai trò là chất phụ gia quan trọng để chế biến
ra nhiều món thực phẩm, được dùng làm món ăn trong thực phẩm như: làm các món
thạch, món đông hạnh nhân, nước uống, … Trong sản xuất bánh mì, bánh bích qui, bánh
cuốn, … trong thực phẩm tạo cho sản phẩm có cấu trúc xốp và mềm. Công nghệ sản
xuất sữa, chocolate, cần phải tạo cho dung dịch sữa có độ đồng nhất và độ đặc nhất định.
Làm chocolate milk, sản xuất fomate kem và fomate mềm (làm từ sữa đã bỏ đi lớp kem).
Trong công nghiệp sản xuất kẹo carrageenan làm tăng độ đặc chắc của cây kẹo, và ứng
dụng nhiều trong sản xuất mứt đông, mứt dẻo,…. Trong bảo quản và đóng hộp các sản
phẩm thịt: trong thịt gà, thịt vịt, thịt chà bông, xúc xích và ở những sản phẩm thịt khác.
Ngoài ra còn ứng dụng trong lĩnh vực khác như trang trí món sausce, các loại salad
dressinge, món salad aspic (thịt đông có trứng).
Trong dược và dược phẩm: carrageenan là chất nhũ hoá tốt nhất trong ngành
dược phẩm để sản xuất các loại dược phẩm như: sản xuất các loại thuốc dạng nhờn, nhũ
tương để thoa lên các vết thương rất hữu hiệu, sản xuất các loại thuốc chống loét dạ dày,
thuốc nhuận tràng.
Trong lĩnh vực mỹ phẩm carrageenan ứng dụng trong sản xuất các loại kem
như: kem dưỡng da, trong các loại nước hoa. Tạo chất nhũ hoá tốt cho việc dệt nhuộm.
Trong nghiên cứu khoa học: carrageenan là môi trường để nuôi cấy nhiều loại
vi sinh vật, làm môi trường cố định các enzim, là chất xúc tác trong công nghiệp tổng
hợp và chuyển hoá các chất.
Trong nông nghiệp ứng dụng trong sản xuất các loại phân bón hữu cơ.
1.1.6. Giải thích các phản ứng cơ bản của carrageenan với các thành phần chủ
yếu có trong đồ hộp.
A. Khả năng tạo gel với protein trong đồ hộp.
Quá trình tạo gel bền chặt trong sản phẩm đồ hộp xảy ra do tác dụng của sự
gia nhiệt trong quá trình thanh trùng – làm nguội, tác dụng cơ học trong quá trình
) nên có khả năng liên kết
với protein qua gốc amin (NH
3
+
) mang diện tích dương.
B. Khả năng nhũ hóa của carrageenan
Trong sản phẩm đồ hộp do nhiệt độ và áp suất cao, triglycerid được tan chảy
ra các mô mỡ tạo thành mỡ lỏng, một phần tạo ra sự nhũ hóa do tác dụng cơ học và
quá trình thuỷ phân tạo thành các monoglycerid hoặc diglycerid, axit béo và
glycerin, hình thành các hạt nhũ tương . Protein
Carrageenan
Protein
COO
-
NH
3
+
COO
-
NH
3
+
4
2
-
SO
4
2
-
SO
4
2
-
SO
4
2
-
SO
4
2
-
SO
4
2
-
Carrageenan
SO
4
2
-
Ca
2
+
Ca
2
+
Ca
2
+
Ca
2
+
SO
4
2
-
SO
4
2
-
COO
-
NH
3
+
COO
-
NH
3
+
NH
3
+
Lipit
Kiềm
Thủy phân
Acid béo + Glycerin 14 Hình 1.3: Mô hình nhũ hóa của carrageenan
H
ạt nhũ t
ương
RCOOH
R-COO
-
+ -
H
2
O
R R-COO
-
+ -
H
2
O
-
OOC
+ -
+ -
Sự hoà tan của nhũ tương vào nước
CH
2
OCOR
1
CHOCOR
2CH
2
OCOR
3
CH
2
OH
CHOH
CH
2
OH
R
1
COOH
R
2
COOH
-
OH
-
Môi trư
ờng n
ư
ớc rửa
H
+
hoặc OH hoặc
trung t
í
nh
+
+
+
+
+
–
–
–
–
+
+
–
–
OH
+ -
–
+
–
+ -
–
+
–
+
–
HO
H
OH
H
–
15
C. Khả năng tạo gel thuận nghịch
Khi carrageenan hòa tan trong nước tạo thành dung dịch keo nhớt, khi làm
nguội tạo gel đông có tính chất đàn hồi. Khả năng tạo gel của carrageenan có tính
chất thuận nghịch.
Dung dịch Thạch đông
Từ đó có thể mô tả cơ chế tạo gel của carrageenan như sau: Trước hết, xuất
hiện sự chuyển đổi cấu hình từ dạng cuộn sang xoắn lò xo, tiếp theo sau là sự kết
hợp các xoắn và tụ lại có trật tự tạo thành xoắn kép gel. Như vậy gel chính là tập
hợp các xoắn có trật tự hay gọi là xoắn kép.
Hình 1.4: Sự tạo gel thuận nghịch của carrageenan
Khi nhiệt độ giảm, độ nhớt tăng, mức độ phân tán của phân tử carrageenan giảm
xuất hiện nội lực ma sát giữa các phân tử carrageenan, hình thành liên kết thứ cấp giữa
các phân tử carrageenan (liên kết hydro giữa các nhóm –OH của hai phân tử
4
-
2
SO
4
-
2
16
Khi nhiệt độ tăng, mức độ phân tán của phân tử carageenan tăng, nội lực ma sát
giảm, mặt khác liên kết hydro không bền dễ bị cắt đứt bởi nhiệt độ cao, mạch
polysaccharide bị duỗi ra và có khuynh hướng quấn với phân tử ở gần kề tạo thành
dung dịch keo nhớt.
1.1.7. Tình hình sản xuât carrageenan
a, Ở ngoài nước
Đến nay người ta đã biết thêm nhiều loại rong có khả năng sản xuất
carrageenan. Nguồn lợi rong đỏ sản xuất carrageenan trên thế giới rất lớn, sản lượng
rong được khai thác và sử dụng hàng năm là 300 nghìn tấn khô đáp ứng nhu cầu cung
cấp nguyên liệu cho nghành công nghiệp sản xuất carrageennan, trong đó kappaphycus
(rong sụn) chiến đến 90%, phần còn lại là thuộc Euchema, Chondrus, Gigartina và các
loài khác. [18, 24, 46]
Hiện nay nguyên liệu để sản xuất carrageenan chủ yếu là từ rong sụn trồng theo
quy mô công nghiệp và cũng thu từ rong phát triển tự nhiên. Các quốc gia trồng theo
quy mô công nghiệp là : Philipin, Indonesia. Malaysia, Tanzania, Kiribati, Fiji, Kenya,
Madagascar, … tổng cộng đạt khoảng 140000 tấn sản phẩm thô với giá trị 70 tỉ USD.
Mexico và
Peru
1.500
Hàn Quốc 500 Tanzania
(Zanzibar
8.000
Khác 1.000
Cộng
3.900
Cộng
149.000
Cộng
15.500
Nguồn: H. Porse, CP Kelco ApS, 2002, pers. comm.
Rong thu hoạch tự nhiên hoặc nuôi trồng được tiến hành vào giai đoạn rong đã
thành thục và ổn định về thành phần carrageenan. Thường thì rong vớt lên rửa bằng
nước biển, phơi cho héo sau đó nhặt bỏ tạp chất và vận chuyển về chia trong các bể xi
măng hoặc cán để sử dụng ngay cho công nghệ chế biến tiếp theo. Nếu sản xuất
nguyên liệu khô để xuất khẩu thì rong được chọn sạch phân loại, phơi khô và đóng bao
ở dạng nguyên sợi, có cơ sở xay nhỏ ra rồi đóng bao bì xuất bán. Tuy nhiên tùy từng
vùng, từng loại rong và yêu cầu của khách hàng mỗi nước đều có những phương pháp
sơ chế riêng phù hợp với công nghệ chế biến và sử dụng tiếp theo. Công nghệ sản xuất
carraageenan không chỉ phát triển mạnh ở các nước Mĩ và Tây Âu mà còn đang phát
triển mạnh ở các quốc gia Châu Á, trong đó phát triển nhất là Philippin, Trung Quốc,
Nhật Bản,….Và đã có nhiều công trình nghiên cứu đề xuất công nghệ mới với phương
pháp hiệu suất thu hồi carrgeenan cao, phù hợp với đối tượng nguyên liệu và quy mô
công nghiệp của mỗi nước, có thể thống kê sản lượng carrageenan theo một số phương
pháp công nghệ như bảng 1.4 .
ATC - Phương pháp xử lý bằng kiềm, sử dụng chính trong thức ăn chăn nuôi.
PES – Phương pháp sản xuất carageenan bán tinh chế sử dụng trong thực phẩm.
Theo thống kê của Phòng thương mại và Công Nghiệp Philippin (DTI), nhu
cầu trên thế giới đối với các sản phẩm rong biển đang tăng trưởng với tốc độ 5%/năm,
và giá của sản phẩm này cũng liên tục tăng khá ổn định. Các thị trường chính đối với
sản phẩm rong biển hiện nay là Mỹ, Trung Quốc và Châu Âu. Theo thống kê năm
2001, có hơn 80% sản lượng carageenan được sản xuất từ các công ty: FMC của Mĩ,
CP kolco của Mĩ, Danisco của Đan Mạch, Degussa của Đức, Ceamsa của Tây Ban
Nha. Các công ty lớn trong ngành sản xuất rong biển nằm trong khu vực tăng trưởng
Đông Á (BIMP – EAGA) gồm Brunay, Indonexia, Malayxia và Philippin đang lên kế
hoạch trở thành nhà cung cấp rong biển sấy khô và carrageenan lớn nhất thế giới trong
một vài năm tới.
Theo báo cáo thống kê tháng 11/2006 của Cục Thống kê Nông nghiệp Philippin
(BAS) cho thấy, trong số 10 nước nhập khẩu rong biển từ Philippin, Pháp là nước đứng
đầu về nhập khẩu carrageenan và 3 loại khác trong số 4 loại rong biển của Philippin với
lượng nhập khẩu tăng 11,1% đạt kỉ lục 339 tấn trong năm 2005 (Fis 10/1/2007) . Các
sản phẩm carrageenan, rong sụn dạng bột, dạng rong khô,… dùng trong thực phẩm của
Philippin được xuất sang Pháp, Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Hồng Kông, Okinawa
Nhật Bản, , Đan Mạch, Oxtraylia và Anh.
Carrageenan sẽ không ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng nếu như
dùng trong giới hạn cho phép. Vào năm 1950, carrageenan được sử dụng khá thành 19
công ở Mỹ trong việc ứng dụng vào nhiều loại sản phẩm khác nhau : kem, chocolate,
phomai, thịt cá,… nhằm làm tăng thêm tính ngon miệng của sản phẩm. Đến tháng
11/2001 thông qua tạp chí Environmental Heathl Perspectives, Bác sĩ Janne Tobacman
đã đưa ra các chứng minh của mình trên các động vật như là : chuột, chuột lang, khỉ
,…. để nói lên những ảnh hưởng không tốt của carrageenan đến dạ dày và ruột. Chính
nhưng tốc độ phát triển chậm và cá dìa lại rất thích ăn loại rong này nên không đem lại
kết quả như mong muốn. Nhưng ở miền Trung nó được đánh giá là đối tượng trồng phù
hợp với mọi loại hình mặt nước tạo ra nguồn nguyên liệu cho chế biến và xuất khẩu,
mang lại hiệu quả kinh tế cao cho con người góp phần vào chương trình xóa đói giảm
nghèo cho người dân ở vùng ven biển. Các nhà nghiên cứu đang kết hợp việc nuôi trồng
rong biển với các loại thủy hải sản, tôm, cá, nhuyễn thể để nâng cao hiệu quả kinh tế trên
một đơn vị diện tích mặt nước. Đây là phương pháp hữu hiệu để vừa phát triển nuôi thủy
sản vừa phát triển nguồn lợi rong biển và bảo vệ môi trường ở các nước trên thế giới nói
chung và nước ta nói riêng. Việc nuôi rong sụn đã và đang phát triển mạnh ở các tỉnh
như Ninh Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên và nhiều địa phương khác [5, 14].
Hiện nay rong sụn chủ yếu thu mua là dạng phơi khô xuất khẩu sang Trung
Quốc, trong khi đó chúng ta lại đang phải nhập khẩu các sản phẩm của carrageenan để
phục vụ công nghiệp trong nước.
Về công nghệ chế biến đã có một số nhà khoa học GS. TS Trần Thị Luyến và cs
ở Phòng thí nghiệm bộ môn công nghệ chế biến - Trường đại học Nha trang là nơi dẫn
đầu về nghiên cứu trồng và tách chiết carrageenan tinh chế và bán tinh chế đạt tiêu chuẩn
quốc tế NF BP Codex 1978, ứng dụng trong sản xuất giò chả, đồ hộp nước uống, thạch
dừa [12,13]
Tại Viện Nghiên cứu Hải sản các tác giả Đào Duy Hùng, Nguyễn Văn Hùng,
Trần Bích Nga (BCKH 1993, 1994, 1995) cũng đã nghiên cứu công nghệ chiết rút keo
carrageenan từ rong Eucheuma gelatinae và rong kappaphycus alvarezii với quy mô
phòng thí nghiệm, nhận thấy đây là nguồn nguyên liệu tốt để sản xuất carrageenan ở Việt
Nam [8, 9, 10,11] .
Hiện nay, một đề tài cấp Bộ ‘Nghiên cứu ứng dụng công nghệ chế biến các sản
phẩm từ rong sụn kappaphycus alvarezii (doty)’ đang được tiến hành nghiên cứu với
mục tiêu tạo ra nhiều sản phẩm mới chế biến từ rong sụn nhằm phát triển bền vững nghề
trồng rong sụn cho nông dân, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường vùng ven biển. 21
22
Điều kiện xử lý được chọn là tối thiểu nhất để đảm bảo độ thanh trùng thương phẩm
nhưng vẫn giữ hương vị và giá trị dinh dưỡng cao nhất. Tất cả mọi quá trình xử lý đều
được FDA (Uỷ ban quản lý về thuốc và thực phẩm của Mỹ) phê chuẩn. Khi đồ hộp đã
được ghép kín và xử lý nhiệt, thực phẩm giữ được chất lượng cao trong thời gian 2 năm
và an toàn để ăn đến khi bao bì không bị hư hỏng gì.
1.2.2. Quy trình sản xuất đồ hộp
Đồ hộp thực phẩm rất đa dạng, mỗi loại đều có cách chế biến khác nhau, dùng các
thiết bị khác nhau nhưng phần lớn các loại đồ hộp đều tuân theo quy trình sản xuất cơ
bản sau:
Rót x
ốt
Ghép mí, bài khí
Thanh trùng
Làm ngu
ội
Dán nhãn, bao gói
B
ảo quản th
ành ph
ẩm
Đ
ồ hộp h
àng hoá
Chuẩn bị hộp
Nguyên vật liệu phụ
23
24
vệ sinh thường xuyên hoặc giới hạn thời gian duy trì nhiệt độ thích hợp cho sự phát
triển của vi sinh vật gây hư hỏng.
* Xử lý nhiệt sơ bộ
Xử lý nhiệt sơ bộ thường được thực hiện bằng hơi nước, nước, dầu, không khí
nóng hoặc khói, hoặc sự kết hợp của các tác nhân trên. Nhằm mục đích: loại bớt
một phần nước của cơ thịt và ngăn cản sự thoát dịch trong suốt quá trình thanh
trùng nếu không chúng có thể tích lại trong hộp; loại bớt một chất béo tự nhiên,
một số chất có mùi mạnh, làm biến tính protein; làm long thịt từ khung mạng; tạo
các đặc tính mong muốn về hương vị và kết cấu, cố định màu sắc; tiêu diệt vi sinh
vật bất hoạt enzym; tạo lớp vỏ bao bên ngoài các sản phẩm dầu tinh bột; làm cho
cơ thịt của các loại giáp xác chắc hơn và hỗ trợ việc tách thịt; đình chỉ các quá trình
sinh hoá xảy ra trong nguyên liệu, giữ màu sắc của nguyên liệu không hoặc ít bị
biến đổi, đuổi khí có trong gian bào của nguyên liệu.
* Vào hộp
Dù cho việc làm đầy hộp đựoc thực hiện thủ công hay tự động, điều quan
trọng nhất là khối lượng khi xếp hộp, và nhiệt độ xếp hộp đối với các sản phẩm xếp
nóng cần được theo dõi và cả hai ảnh hưởng đến mức độ truyền nhiệt đến tâm nhiệt
của hộp trong quá trình thanh trùng. Trong quá trình thanh trùng được thực hiện cao
hơn cao hơn giá trị tối thiểu để tiêu diệt Cl.botulinum (F
0
= 2,8 phút), những sự khác
biệt về khối lượng hoặc nhiệt độ xếp hộp có thể không ảnh hưởng đáng kể đến sức
khoẻ cộng đồng, tuy nhiên trong các quá trình có giá trị Fo xấp xỉ với giá trị an toàn
tối thiểu đối với Cl.botulinum (F
0
= 2,8 phút đến 3 phút), thậm chí với những sự
khác biệt nhỏ về nhiệt độ xếp hộp hoặc khối lượng xếp hộp cũng có thể ảnh hưởng
hộp. Hạn chế hiện tượng ăn mòn sắt tây: nếu trong hộp còn oxy thì phản ứng với
hydro phá huỷ màng bảo vệ, dòng điện tiếp tục chạy và diễn ra quá trình ăn mòn.
Tạo độ chân không trong đồ hộp khi đã làm nguội: đồ hộp thực phẩm cần có độ
chân không nhất định để khi vận chuyển, bảo quản trong các điều kiện khí hậu khác
nhau. Độ chân không thường là 3,22 – 5,98 10
4
N/m
2
(250 – 450 mm Hg) trường
hợp đặc biệt mới tới 8,65 – 9,05 10
4
N/m
2
.
* Ghép kín: