CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ ĐỀ TÀI
1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Với bất cứ một quốc gia nào, bất cứ một nền kinh tế nào thì vốn luôn là một trong những yếu
tố quan trọng quyết định đến sự tăng trưởng kinh tế. Tín dụng của các ngân hàng thương mại
(NHTM) là một trong những hình thức sử dụng vốn đối với các doanh nghiệp nói chung và các
doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng. Tuy nhiên, giai đoạn từ năm 2008 đến nay thì vấn đề cấp tín
dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp không ít những khó khăn và tồn đọng như: sự an
toàn, chất lượng, hiệu quả…
Câu chuyện dòng vốn giữa ngân hàng và doanh nghiệp hiện đang rất nóng. Doanh nghiệp ta
than về ngân hàng, bởi vì lãi suất cho vay bị đẩy lên cao, quá sức chịu đựng của doanh nghiệp.
Nhưng ngân hàng lại cũng có cái lý lẽ của ngân hàng. Đầu tiên, là việc chính sách tiền tệ thắt chặt,
dòng vốn huy động khó khăn nên ngân hàng buộc phải huy động lãi suất cao để hút vốn. Huy động
lãi suất cao thì phải cho vay với lãi suất cao là đương nhiên. Tiếp đến là rủi ro nợ xấu luôn có khả
năng xảy ra, nhất là trong thời kỳ nền kinh tế đang gặp khủng hoảng như hiện nay. Từ đây dẫn đến
hệ lụy là từ đầu năm 2011 đến nay, đã có hơn 50.000 doanh nghiệp bị phá sản, ngừng hoạt động...
Vốn có lẽ là bài toán khó nhất cho doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân. Hơn
97% doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó có đến 91% là nhỏ và siêu nhỏ.
Theo khảo sát chỉ có 20% số doanh nghiệp này tiếp cận được với nguồn vốn ngân hàng. Một trong
những ngân hàng lớn nhất của Việt Nam là Vietcombank cũng chỉ dành 8-10% vốn tín dụng của
mình cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Việt Nam có những nghịch lý rất đặc thù. Đó là, các ngân hàng nông thôn sau khi nâng cấp
trở thành ngân hàng đô thị thì lại ít chú trọng phục vụ cho các doanh nghiệp nhỏ và hộ nông dân.
Trong khi 80% trong tổng số 3.000 ngân hàng ở Mỹ, chỉ phục vụ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp khát vốn nhưng gặp khó khăn trong việc tiếp cận được nguồn
vốn cho vay của các ngân hàng, điều này ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp
và hơn nữa là ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam nói chung. Vậy những khó
khăn mà doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay đang phải đối mặt khi vay vốn từ ngân hàng nằm ở
đâu? Và chúng ta có những giải pháp gì cho những khó khăn đó? Đây chính là những băn khoăn và
lý do để nhóm đưa ra quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “ Những yếu tố ảnh hưởng đến khả
năng tiếp cận vốn vay của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong giai đoạn hiện nay tại Việt Nam
và giải pháp”. Hy vọng, bài nghiên cứu này phần nào giải đáp được bài toán về vốn cho các doanh
5. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết về vốn vay và các nhân tố ảnh hưởng khả năng tiếp cận vốn
vay của doanh nghiệp vừa và nhỏ, nghiên cứu đề nghị thu thập những thông tin liên quan. Sau đó sử
dụng kết hợp nhiều phương pháp như: tài liệu, phỏng vấn, điều tra, thống kê, phân tích, tổng hợp.
Dựa trên số liệu thu thập được, nhóm nghiên cứu sẽ sử dụng công cụ SPSS để xử lý dữ liệu và xác
định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn vay của những doanh nghiệp vừa và nhỏ
trong giai đoạn 2008-2012 tại Việt Nam. Cuối cùng xác định mô hình hoàn chỉnh sau khi thực hiện
kiểm định.
6. Kết quả mong đợi
Tìm ra đúng rào cản, đúng nút thắt đang làm hạn chế khả năng tiếp cận dòng vốn vay tại
ngân hàng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam trong giai đoạn nền kinh tế khó khăn,
khủng hoảng như hiện nay. Qua đó đưa ra được các giải pháp phù hợp, ứng với mỗi mặt khó khăn
trên. Có như thế mới phần nào giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ tìm ra được đáp án đúng về bài
toán vòng xoay vốn đang ảnh hưởng đến khả năng tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp, đặc
biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
7. Ý nghĩa của bài nghiên cứu
- Các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như các ngân hàng thương mại tại Việt Nam có thể dựa
vào kết quả đạt được của bài nghiên cứu nhằm tham khảo, xem xét các chiến lược kinh doanh cho
phù hợp, rút ngắn khoảng cách giữa ngân hàng và doanh nghiệp.
- Bài nghiên cứu có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu kế tiếp
để hoàn thiện hơn những mặt còn thiếu sót.
- Bài nghiên cứu có thể được dùng làm tài liệu cho sinh viên, học viên cao học, giáo viên
trong việc học tập và giảng dạy.
8. Kết cấu của bài nghiên cứu
Bài nghiên cứu được chia thành 5 chương, cụ thể:
Mở đầu: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương I:Cơ sở lý thuyết
Chương II: Thực trạng tình hình tiếp cận vốn vay của doanh nghiệp vừa và nhỏ giai đoạn
2008-2012 ở Việt Nam
Chương III: Xây dựng mô hình nghiên cứu
• Tài sản bảo đảm là tài sản mà bên bảo đảm dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân
sự đối với bên nhận bảo đảm.
• Lãi suất hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng, vì nó là giá của quyền
được sử dụng vốn vay trong một khoảng thời gian nhất định, mà người sử dụng phải trả cho người
cho vay; là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất
định. Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là
lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu.
2.2 Lược khảo các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu
• Bài nghiên cứu: “Tín dụng ngân hàng cho khu vực kinh tế tư nhân ở các nước đang
phát triển” Tác giả: Trần Quang Tuyến , Khoa kinh tế chính trị- ĐH kinh tế- ĐH Quốc gia Hà
Nội. Đăng trên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế Kinh doanh số 25 ngày 15/9/2008.
Nội dung của bài nghiên cứu:
Bài viết tập trung vào phân tích vai trò của hệ thống ngân hàng trong việc cung ứng nguồn
vốn cho khu vực kinh tế tư nhân. So với các nguồn vốn khác mà khu vực tư nhân có thể tiếp cận,
vốn ngân hàng có vai trò đặc biệt quan trọng ở các nước đang phát triển bởi những ưu thế riêng vốn
có của hệ thống ngân hàng. Đồng thời miêu tả những khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay
này và đưa ra được một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn cho khu vực kinh
tế tư nhân ở các nước đang phát triển.
Các nội dung liên quan đến vấn đề nghiên cứu:
• Hệ thống tài chính ở mỗi quốc gia đều cơ bản dựa trên nền tảng bao gồm các tổ chức
trung gian tài chính. Tuy nhiên tại mỗi nước lại có cấu trúc tài chính khác nhau và hiện nay có thể
chia làm hai mẫu hình cấu trúc tài chính cơ bản là: hệ thống tài chính dựa vào thị trường (chứng
khoán) (market- based or security- diminated financial system) và hệ thống tài chính dựa vào hệ
thống ngân hàng (bank-based or bank-dominated financial system) [1]. Một số nghiên cứu khẳng
định rằng hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng hỗ trợ cho tăng trưởng hiệu quả hơn hệ thống tài
chính dựa vào thị trường, đặc biệt là ở các nước kém phát triển và đang phát triển. So với các hình
thức tổ chức trung gian tài chính khác, những ngân hàng đã thiết lập hiệu quả thường hình thành
được mối liên kết chặt chẽ với khu vực tư nhân và điều đó cho phép các ngân hàng có sự hiểu biết
tốt hơn về các công ty và thuyết phục họ trả các khoản nợ theo đúng thời gian quy định. Các ngân
hàng cũng là nhà đầu tư quan trọng trong việc xóa bỏ rủi ro thanh khoản, và điều này khiến họ gia
ngắn hạn, gây khó khăn cho các ngân hàng thương mại trong việc quản trị nguồn vốn, khó bảo
đảm cân đối kỳ hạn cho vay. Hơn nữa, sự mất cân đối kỳ hạn vốn của ngân hàng hiện nay cũng là
một trong những nguyên nhân khiến nhiều ngân hàng không thể đáp ứng nhu cầu vay vốn của
doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, do các doanh nghiệp này chủ yếu vay vốn
trung và dài hạn để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh. Do vậy, để đưa ra các giải pháp nhằm
nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong giai đoạn
nền kinh tế khó khăn như hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải đứng trên nhiều phương diện để nhìn
nhận những khó khăn và tìm ra được những giải pháp đúng đắn và phù hợp.