1
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.2 Đặt vấn đề
Bệnh do sán lá lớn ở gan là bệnh phổ biến ở trâu bò và các động vật khác
như dê, cừu. Bệnh có khả năng lây truyền qua người do ăn rau sống mọc dưới nước có
chứa nang trùng. Có hai loại sán lá lớn ở gan là Fasciola gigantica và Fasciola
hepatica.
Fasciola gigantica phổ biến ở những vùng nhiệt đới như Đông Nam Á,
Châu Phi, Hawaii, Pakistan và Thái Lan; còn Fasciola hepatica phổ biến ở Châu Âu,
vùng Đông Nam Châu Phi, Mỹ, Châu Úc và Nhật Bản.
Các công trình nghiên cứu của những tác giả trong nước cho thấy động vật
ăn cỏ ở Việt Nam nhất là trâu bò bị nhiễm sán lá gan cao và đa số là do F. gigantica.
Bệnh sán lá gan làm giảm trọng lượng con vật rõ rệt, giảm phẩm chất của
thịt (thịt bị thấm ướt), giảm sức chống đỡ với các bệnh khác, làm giảm lượng sữa ở
trâu bò nuôi lấy sữa.
Ở Việt Nam, trước đây bệnh do Fasciola sp ở người chưa được phát hiện.
Tuy nhiên, tỉ lệ người mắc bệnh này đang có chiều hướng gia tăng được xác định với
kỹ thuật chẩn đoán bệnh này ngày càng chính xác hơn.
Theo các công trình nghiên cứu khoa học trên thế giới, khi ký sinh trong cơ
thể vật chủ, sán lá gan lớn sẽ tiết ra các chất có đặc tính sinh học và là kháng nguyên
(nên còn gọi là kháng nguyên tiết) đối với thể chủ. Loại kháng nguyên này được đánh
giá là có mức độ đặc hiệu cao hơn kháng nguyên thân và kháng nguyên bề mặt, do đó
việc chẩn đoán bệnh sán lá gan sẽ chính xác hơn nếu sử dụng loại kháng nguyên này.
Ngoài ra, trong dịch tiết này còn có thành phần cysteine-protease được biết như là một
enzyme thiết yếu cho cầu ký sinh giữa ký sinh vật và thể chủ. Enzyme tinh chế đã
Fasciola sp và kháng nguyên tiết trong dịch tiết của sán lá gan lớn bằng
phương pháp miễn dịch khuếch tán kép Ouchterlony.
Tạo cột sắc ký ái lực Sepharose 4B - kháng nguyên tiết để tinh chế
kháng thể đặc hiệu với kháng nguyên tiết của sán lá gan lớn.
Tinh chế kháng thể kháng Fasciola sp từ huyết thanh bệnh nhân nhiễm
sán lá gan lớn, dùng sắc ký ái lực miễn dịch.
Chế tạo hệ thống miễn dịch men để phát hiện kháng nguyên Fasciola sp.
Tìm hoạt tính protease trong dịch tiết của sán lá gan lớn với phương
pháp điện di SDS-PAGE, 12% và gelatine 0,1% trong thạch.
3 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu sán lá gan và bệnh do sán lá gan lớn gây nên [4]
Loài sán lá gan Fasciola gigantica đã được Cobbold phát hiện từ năm
1855.
Bệnh do sán lá gan F. gigantica gây ra gọi là bệnh sán lá gan, bệnh phổ
biến ở vùng Á Châu và Phi Châu.
Theo E. Brumpt, dê, cừu, trâu, bò và cả người cũng nhiễm F. gigantica.
Năm 1879, Brie là người đầu tiên đã công bố và mô tả về bệnh sán lá
gan ở cừu.
Năm 1881, Thomas và Leuckart là hai người đầu tiên đã phát hiện được
trong vòng đời (chu trình phát triển) của sán lá gan phải có ốc (ký chủ
trung gian) tham gia và hai năm sau vào năm 1883, Thomas đã thực
nghiệm và bổ sung thêm về chu trình: phát hiện trứng sán lá gan phát
triển phải có nước, nước là yêu cầu cấp bách nhất của ngoại cảnh. Việc
Hình 2.1 – Chu kỳ phát triển của sán lá gan lớn (Fasciola sp)[13] 5
Như vậy điều kiện nóng ẩm của nước ta rất thuận lợi cho sự gây nhiễm bệnh
cũng như nhiễm bệnh trong tự nhiên. Gia súc nhai lại rất dễ cảm nhiễm kén gây bệnh.
Ở những vùng có mầm bệnh (trứng sán), có nhiệt độ thích hợp để trứng nở thành
miracidium, có ốc ký chủ trung gian, có dê, cừu, trâu, bò nuốt phải kén gây bệnh thì cứ
bình quân ba tháng lại tạo ra một đời sán mới. Con vật trong khi vẫn mang sán lại
nhiễm tiếp mầm bệnh mới, gây ra sự bội nhiễm làm cho mức độ bệnh trở nên nặng
hơn.
2.3 Hình thái sinh học của sán lá gan lớn (Fasciola sp)
Cũng như nhiều loài sán lá khác, sán lá gan có hệ sinh dục lưỡng tính (có cả bộ
phận sinh dục đực và cái trên một cá thể). Sán có hai giác bám, giác miệng ở phía đầu
sán, giác bụng tròn và ở gần giác miệng. Sán lá gan không có hệ tuần hoàn và hô hấp.
Hệ bài tiết gồm nhiều ống nhỏ, phân nhánh và thông với hai ống chính. Hai ống này
hợp lại ở cuối thân rồi thông ra ngoài qua lỗ bài tiết. Thực quản tương đối ngắn, ống
tiêu hóa khá dài ra tận phần cuối thân sau, phân thành nhiều nhánh. Dịch hoàn nằm sau
buồng trứng và cũng phân nhánh.
PGS. TS. Phan Địch Lân (1994), đã phân biệt khái quát hai loài sán lá gan như
sau:
Một loài có chiều dài thân gấp ba lần chiều rộng, vai sán không có hoặc 2.4.2 Ở ngƣời [3]
Bệnh tiến triển theo hai giai đoạn:
Giai đoạn gan (xâm nhập): Các triệu chứng xuất hiện khoảng 6-12 tuần
sau khi ăn phải các nang ấu trùng vào kéo dài 2 - 4 tháng. Trong giai
đoạn này, một số lượng lớn ấu trùng di chuyển qua thành ruột, qua
khoang phúc mạc, bao gan. Các triệu chứng hay gặp nhất là đau bụng,
sốt cơn, sút cân, nổi mề đay, ho, khó thở, đau ngực, rối loạn đại tiện,
chán ăn và buồn nôn. Có khi đau khắp bụng nhưng thường khu trú ở
vùng hạ sườn phải. Bạch cầu ái toan tăng rất cao (70% - 80%).
Giai đoạn mật (trưởng thành): Có thể kéo dài nhiều năm do Fasciola sp
có xu hướng di chuyển đến lòng ống mật chủ và phát triển thành sán
trưởng thành ở đó. Trên đường đi sán ăn mô gan ký chủ gây ra các triệu
chứng nặng. Gan to, vàng da, thiếu máu (một con sán trưởng thành hút
0,2 ml máu /ngày). Đôi khi sán non có thể lọt vào tĩnh mạch về đại tuần
hoàn và định vị ở những nơi xa như mô dưới da, phổi, mắt… (trường
hợp ký sinh trùng lạc chỗ). Sau ba tháng, sán đã định vị trong ống mật.
Người bệnh sẽ có những triệu chứng viêm gan mật mãn, tiếp tục bị mệt
mỏi, sụt cân, biếng ăn… Giai đoạn này, số bạch cầu ái toan lại giảm
nhiều. Trong phân cũng như dịch mật người bệnh bắt đầu có thể tìm thấy
những trứng sán. Nhưng thực tế số trứng rất ít và cũng ít khi xét nghiệm
này được chỉ định. Bệnh tiếp tục kéo dài trong nhiều năm, nếu để tồn lưu
lâu ngày sẽ bị các bệnh mãn tính của đường mật và có thể dẫn đến biến
chứng xơ gan, vỡ gan, suy gan, đau bụng dai dẳng, mất sức lao động và
cuối cùng có thể dẫn đến tử vong.
một miracidium phát triển thành chừng 180 – 200 cercaria trưởng thành.
Sự khô ráo và tác động trực tiếp của ánh nắng mặt trời làm trứng chết.
Trong phân ướt trứng sống được 8 tháng. Trứng sán ngừng phát triển ở
10-12
0
C. Ở nhiệt độ dưới 50
0
C trứng sống được 2 ngày. Trong cỏ phơi
chưa khô, adolescaria gây bệnh duy trì được sức sống 3-5 tháng.
Phòng bệnh:
+ Chống phát tán mầm bệnh: Ủ phân diệt trứng sán, làm tinh
sạch “tinh khiết” ốc ký chủ trung gian. Áp dụng biện pháp
Hình 2.5.1 – Trứng sán lá gan lớn (Fasciola sp)[17]
9
chia lô chăn thả, qui hoạch bãi chăn gia súc không bị nhiễm
sán, kiểm tra gia súc để phân loại tẩy sán trước khi thả vào bãi.
+ Diệt mầm bệnh: Tẩy sán lá gan trong cơ thể gia súc theo lịch
dựa vào chu trình sinh học của sán. Những cơ sở giống 3
tháng tẩy 1 lần; các cơ sở ô nhiễm nặng tẩy 2 lần/năm; cơ sở ô
nhiễm nhẹ tẩy 1 lần/1 năm; cơ sở nhiễm dưới 20% tổng đàn
thì phát hiện con nào có sán tẩy con đó và cần tăng cường sức
Hình 2.5.2.1 – Hình chụp CT bệnh nhân bị nhiễm sán lá gan lớn
[Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Thành Phố Hồ Chí Minh]
Hình 2.5.2.2 - Hình chụp siêu âm của bệnh nhân nhiễm sán lá lớn ở gan
[Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Thành Phố Hồ Chí Minh]
Về điều trị dùng Dehydro – Emetine hoặc Chlorhydrate Emetine, mặc
dầu thuốc này có nhiều tác dụng phụ (gây liệt cơ, suy tim…); bệnh nhân
phải nằm viện tối thiểu 10 ngày nhưng vẫn phải sử dụng vì thị trường
11
phân có nhiều thuận lợi hơn.
Xét nghiệm huyết thanh học qua phương pháp miễn dịch men đã được Trần
Vinh Hiển và Trần Thị Kim Dung dùng để phát hiện kháng thể của người bệnh mang
12
lại hiệu quả cao. Nhưng do sử dụng kháng nguyên thân của F. gigantica nên có thể có
những phản ứng chéo không mong muốn và không thể đánh giá được hiệu quả điều trị
bệnh vì lượng kháng thể vẫn còn tồn tại rất lâu trong cơ thể bệnh nhân sau khi đã khỏi
bệnh. Thành phần protein trong dịch tiết của sán lá gan lớn được đánh giá là có tính
đặc hiệu hơn so với kháng nguyên thân của F. gigantica (còn gọi là kháng nguyên tiết
– excretory/ secretory antigens) nên có thể sử dụng để cải tiến phương pháp huyết
thanh miễn dịch men để phát hiện kháng thể nhạy hơn và để tránh các phản ứng chéo.
Ngoài ra, kháng nguyên tiết còn được dùng để đánh giá hiệu quả điều trị vì các nghiên
cứu khoa học cho thấy sau khi được điều trị thì lượng kháng nguyên tiết sẽ được giảm
một cách từ từ trong cơ thể ký chủ. Do đó hiệu quả điều trị sẽ được đánh giá nhanh
chóng hơn [6, 5, 11,12].
2.6.2 Hoạt động protease
Thành phần chủ yếu của dịch tiết là cysteine-protease trong thời gian ký
sinh đóng vai trò chủ chốt trong việc xâm nhập bệnh vào cơ thể ký chủ. Các enzyme
này giúp phân giải thành phần protein của ký chủ để cung cấp dinh dưỡng cho sán phát
triển và để tạo điều kiện thuận lợi cho sự di chuyển của ký sinh trùng qua ruột non và
gan. Chúng phân cắt những protein của màng ruột như fibronectin, laminin và
collagen. Mặt khác, chúng còn bất hoạt hàng rào bảo vệ miễn dịch của tế bào chủ bằng
sự phân cắt các immunoglobulins. [8,10]
Do đó, việc xác định và tinh chế thành phần protease này có ý nghĩa quan
trọng trong việc phòng ngừa và điều trị bệnh sán lá gan lớn ở người và gia súc.
C.
3.2.2 Thiết bị và dụng cụ
3.2.2.1 Thiết bị
Cân phân tích E14130, OHAUS, Switzerland.
Máy lọc nước Titertek (Microtitration).
Tủ hút khí (pha hóa chất) Kottermann.
Máy đo pH METTLER TODEDO MP220.
Máy sấy tiệt trùng.
Tủ cấy vô trùng.
Lọc vô trùng 0,22 μm.
Máy ly tâm lạnh MEGAFUGE 1.0 R, Heraeus Instruments.
Máy ly tâm nhỏ Micro centrifuge.
Máy khuấy từ CATM6/1.
Tủ lạnh Vestfrost REETECH, DOSAI, SANYO.
Máy vortex Minishaker MS1.
Máy lắc thường LAB-ROTATOR, LAB-LINE.
Máy đo quang phổ hấp thụ Spectrophotometer U 3310 Hitachi (Japan).
14
Bộ điện di protein SNEW.
Máy đọc ELISA Sanofi PR 2100, Diagnostics Pasteur.
Máy nghiền tế bào bằng sóng siêu âm Sonicator (Merck)
Máy chụp ảnh.
Máy vi tính.
3.2.2.2 Dụng cụ
Van kẹp; ống nghiệm thủy tinh; bông gòn không thấm nước; các loại
ống nhựa 5 ml, 15ml, 50 ml; bộ kính điện di đứng; kim bơm butanol
qua Whatman số 1 cho vào chai nâu và bảo quản ở 4
0
C.
15
2. Dung dịch 9,5% T: Acrylamide (6,3g); N, N’-Methylene-bis-
acrylamide (3,2g). Làm theo như với dung dịch 1.
3. Đệm phân giải (1,5M Tris): Tris base (18,15g). Trộn với khoảng
70 ml H
2
O. Dùng HCl hòa tan và chỉnh pH xuống 8,8. Chỉnh
đúng 100 ml và bảo quản ở 4
0
C.
4. Đệm tập trung: Tris base (3g). Trộn với khoảng 35 ml H
2
O. Dùng
HCl, hòa tan và chỉnh pH xuống 6,8. Chỉnh đúng 50 ml và bảo
quản ở 4
0
C.
5. Dung dịch SDS 10%: 10g/100 ml. Giữ ở nhiệt độ phòng.
6. Dung dịch đệm bình điện di: Tris base (12g); glycine (57,6g). Hòa
tan và chỉnh đúng 1000 ml. Bảo quản ở 4
0
C. Khi dùng pha loãng
¼ và cộng 1% dung dịch 5 (4 ml/400ml).
0
C trước khi thực hiện gradient.
Dung dịch Triton 2,5%.
Dung dịch EDTA 1mM; glycine 0,1M; L-Cystein 10mM; pH = 8.
Các dung dịch dùng trong miễn dịch khuếch tán kép:
Dung dịch gel agarose 1% pha trong đệm PBS 1X để làm
phản ứng miễn dịch khuếch tán kép trên thạch.
Dung dịch nhuộm đỏ Ponceau S 0,2%.
Các dung dịch dùng trong sắc ký ái lực:
Gel CN-Br activated Sepharose 4B (Pharmacia, Thụy Điển).
Dung dịch NaN
3
0,05% (dd1).
Dung dịch HCl 1mM, pH = 3.
Dung dịch đệm carbonate: NaHCO
3
0,1M; NaCl 0,5M;
thimerosal 0,01%; pH = 8,7 (dd3).
Dung dịch Tris-HCl 0,1M; NaCl 0,5M; pH = 8 (dd4).
Dung dịch NaCl 0,5M; CH
3
COONa 0,1M; pH = 4 (dd5).
Dung dịch Tris-HCl 0,1M; NaN
3
0,05%; NaCl 0,5M; pH = 7,4 (dd6).
Dung dịch glycine 0,1M, pH = 2,5.
Các dung dịch dùng trong kỹ thuật ELISA:
Đệm carbonate Na
2
CO
1,5 N.
3.3 Phƣơng pháp
3.3.1 Quy trình lấy mẫu [6]
Sán trưởng thành từ gan trâu hoặc bò bị nhiễm sán lá gan được rửa 4 lần với
PBS 1X cho sạch máu và mật, sau đó cho vào ống chứa PBS và bảo quản ở -20
0
C.
Đối với sán sống cho vào môi trường nuôi RPMI 1640 (1 con/5 ml/1 ống
nghiệm), ủ ở 37
0
C/24h. Sau đó ly tâm (3000 vòng/phút/4
0
C/30phút) thu lấy dịch nổi,
bảo quản ở -20
0
C.
3.3.2 Định lƣợng protein bằng phƣơng pháp đo mật độ quang OD
280
[9]
Phương pháp này sử dụng một máy đo quang phổ 250 – 700 nm (UV – VIS).
Cấu tạo gồm nguồn sáng, một khe hở cho ánh sáng đi vào, các lăng kính và cách tử để
tạo thành các ánh sáng đơn sắc, ngăn chứa mẫu và đầu dò để đo lượng ánh sáng sau
khi qua mẫu. Photon ánh sáng ở vùng tử ngoại do đèn nguồn phát qua hệ thống các
lăng kính và cách tử sẽ chỉ tạo ánh sáng đơn sắc với bước sóng nhất định. Khi đi qua
dung dịch trong cốc sẽ gây ra sự thay đổi năng lượng của các điện tử. Khi phân tử hấp
thụ năng lượng ánh sáng này, các điện tử sẽ chuyển lên mức năng lượng cao hơn.
Phân tử protein hấp thụ ánh sáng cực đại ở bước sóng 280 nm, sự hấp thụ này
có được chủ yếu là do các amino acid có nhân thơm như phenylalanine, tyrosine,
tryptophan. Tuy nhiên, mỗi protein có thành phần và số lượng các amino acid trên
khác nhau nên mỗi protein sẽ có một hệ số tắt (extinction) tương ứng. Hệ số tắt này là tỉ