điều chế kháng huyết thanh thỏ và khảo sát đáp ứng miễn dịch của cá rô phi đỏ đối với vi khuẩn - Pdf 20


1
I. GIỚI THIỆU

1.1. Đặt vấn đề
Theo đề án phát triển nuôi cá rô phi giai đoạn 2003 – 2010 của Bộ Thủy sản,
mục tiêu đến năm 2010 nhằm tăng diện tích nuôi lên 10.000 ha, 1 triệu m
3
lồng, sản
lượng 200.000 tấn với giá trị xuất khẩu đạt 150 triệu USD. Trong chương trình phát
triển nuôi trồng thủy sản thời kỳ 1999 – 2010, Bộ Thủy sản đã xếp cá rô phi vào vị trí
hàng đầu trong các loài thủy hải sản nuôi (Trích bởi Nguyễn Thị Ngọc Bích, 2005).
Trên thế giới, hiện nay cá rô phi nuôi xếp vị trí thứ ba về sản lượng, đạt
1.374.239 tấn vào năm 2002, có giá trị 1.706.538.200 USD (năm 2000) (http://
ag.arizona.edu/azaqua/ista/market/htm), dự đoán trong vài năm tới sản lượng cá rô phi
nuôi sẽ đạt vị trí hàng đầu. Những thành quả đạt được và mục tiêu phấn đấu của nghề
nuôi cá rô phi rất hứa hẹn nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề cần được giải quyết thỏa
đáng.
Một trong số những vấn đề đó là bệnh trên cá nuôi. Song song với sự mở rộng
quy mô và áp dụng nhiều mô hình nuôi tiên tiến để nâng cao năng suất là sự gia tăng
về bệnh. Bệnh là một trong những nguyên nhân chính kìm hãm sự phát triển nghề nuôi
thủy sản hiện nay. Từ khi bắt đầu nghề nuôi thủy sản thâm canh, việc kiểm soát bệnh
dựa chủ yếu vào các biện pháp hóa trị liệu. Tuy nhiên các biện pháp này bộc lộ nhiều
nhược điểm. Điều này dẫn đến các áp lực từ phía người tiêu dùng, các tổ chức chính
phủ và môi trường về nhu cầu được hưởng thụ các sản phẩm nuôi trồng an toàn về mặt
vệ sinh thực phẩm và môi trường bảo đảm sản xuất bền vững. Trước các thực tế đó,
việc dùng vaccine để kiểm soát bệnh là một sự lựa chọn đúng đắn. Nghiên cứu vaccine
dùng trong thủy sản là sự kế thừa hợp lí nghiên cứu vaccine dùng trong chăn nuôi và
chăm sóc sức khỏe con người.
Bệnh do vi khuẩn Streptococcus sp. được báo cáo đầu tiên tại Nhật Bản vào
năm 1958 trên loài cá hồi nuôi (Hoshina và ctv., 1958; trích bởi Yanong và Floyd,

Streptococcus sp. nhằm điều chế kháng huyết thanh thỏ kháng Streptococcus sp. dùng
cho mục đích chẩn đoán.
Xác định ảnh hưởng của mật độ nuôi lên đáp ứng miễn dịch và tỷ lệ cảm
nhiễm của cá rô phi đỏ đối với vi khuẩn Streptococcus sp. .
Xác định thời gian tạo đáp ứng miễn dịch đặc hiệu của cá đối với vi khuẩn
Streptococcus sp.. 3
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Một số đặc điểm sinh học của cá rô phi
2.1.1. Nguồn gốc
Cá rô phi có nguồn gốc từ Châu Phi. Năm 1924, cá rô phi được nuôi đầu tiên ở
Kenya và sau đó nuôi rộng rãi nhiều nước ở Châu Phi và trên thế giới, nhiều nhất là
những nước nhiệt đới và cận nhiệt đới. Chỉ vài chục năm gần đây, việc nuôi cá rô phi
mới thực sự phát triển mạnh và trở thành một ngành nuôi có qui mô công nghiệp, cho
sản lượng thương phẩm lớn và đạt hiệu quả kinh tế cao.
Rô phi đỏ (Oreochromis sp.) được lai tạo từ cá bố có dạng đột biến lặn màu đỏ
của loài O. mossambicus, còn mẹ thì cũng cùng giống Oreochromis nhưng có thể
thuộc loài khác. Tất cả chúng đều có tên tiếng Anh chung là Red Tilapia. Rô phi đỏ
được phân lập lần đầu tiên ở Đài Loan trong những năm 70 của thế kỷ trước từ thế hệ
lai giữa con màu đỏ O. mossambicus với con màu đen hoang dại của rô phi sông Nile
O. niloticus (Mai Chi, 2002). Cá rô phi đỏ được nhập vào nước ta từ Thái Lan năm
1985.
2.1.2. Phân loại
Lớp : Osteichthyes
Lớp phụ : Actynopterigii
Bộ : Perciformes
Bộ phụ : Perciidae

sinh động (Zooplankton) nhỏ như là Moina, Daphnia, Cyclops.
Cá 20 ngày tuổi trở lên chọn thức ăn giống như cá trưởng thành. Cá trưởng
thành ăn thực vật hoặc ăn tạp mà thành phần thức ăn gồm thực vật thủy sinh và mùn
bã hữu cơ (Bowen, 1982; trích bởi Võ Văn Tuấn, 2005).
2.1.5. Đặc điểm sinh sản
 Mùa vụ sinh sản
Rô phi đẻ quanh năm (trừ những ngày quá lạnh hoặc quá nóng), đẻ nhiều nhất
từ tháng 5 đến tháng 10. Mỗi năm đẻ từ 5 – 11 lứa, mỗi lứa đẻ 100 – 3400 trứng.
Trong một buồng trứng thường có 5 lứa trứng.
 Tuổi thành thục
Cá rô phi thành thục sinh dục rất sớm, bắt đầu sinh sản sau khi nở 3 – 4 tháng.
Cỡ cá thành thục nhỏ nhất khoảng 40g. Thời gian tái thành thục khoảng 1 – 2 tháng.
 Phân biệt đực cái ở cá rô phi
Khi đến tuổi phát dục thì ở mép các vây đuôi, vây lưng và vây bụng ở cá đực có
màu sắc rực rỡ từ hồng đến xanh đen, trong khi đó thì cá cái không có sự thay đổi về
màu sắc mà bụng của nó phát triển rất nhanh.
Ngoài ra ta có thể phân biệt được cá rô phi đực cái ngay khi chúng còn nhỏ, cỡ
6 – 7 cm, bằng cách nhìn vào vùng lỗ huyệt. Cách phân biệt này càng chính xác khi cá
gần thành thục sinh dục.
+ Cá đực có 2 lỗ: phía trước là lỗ hậu môn, phía sau là rãnh huyệt (còn gọi là
huyệt niệu sinh dục).
+ Cá cái có 3 lỗ: lỗ hậu môn, lỗ niệu và lỗ sinh dục.

5
 Tập tính sinh sản
Tùy theo loài mà cá rô phi có tập tính sinh sản khác nhau. Đối với loài cá rô phi
đen và vằn khi sinh sản, cá đực làm tổ bằng cách đào hố trên đáy ao và chiến đấu
chống lại cá đực khác, cá cái thành thục đi đến nơi làm tổ mà ở đó các cá đực đang
phô diễn một cách tích cực. Việc bắt cặp và đẻ xảy ra nhanh. Con cái nhanh chóng
nhặt trứng vào miệng ngay khi trứng được thụ tinh bởi con đực và tìm nơi trú ẩn. Thời


Quốc gia Sản lượng
(Tấn)
Giá thành
(USD/kg)
Quốc gia Sản lượng
(Tấn)
Giá thành
(USD/kg)
Trung Quốc
Mexico
Philippines
Đài Loan
Indonesia
Thái Lan
150.000
102.000
95.000
90.000
50.000
40.000
1,0
1,3
1,1
1,5
1,2
1,3
Brazil
Cuba
Colombia

13.589.832
3.108.922
5.159.163
1.437.708
2.217.74
19.711.012
16.485.179
32.719.948
8.634.514
10.916.541

Jamaica
Panama
Đài Loan
Thái Lan
Việt Nam

119.111
352.553
29.808.742
259.596
59.897
766.096
2.110.785
34.459.643
941.509
206.274 7

ctv., 1988; Tave, 1991), giống Yumbo No 1 lai giữa dạng Florida đỏ và O. niloticus
(Castillo, 1990); giống Yumbo No 2 lai giữa Red Tilapia USA và Red Tilapia Israel,...

8
Hoặc sản xuất giống cá rô phi đơn tính bằng cách cho cá con ăn thức ăn có tỉ lệ đạm
cao, phối trộn với methlytestosterone sẽ cho tỉ lệ đực rất cao (Báo Khoa học phổ thông
và nhà văn hóa khoa học, 2002; trích
www.ctu.edu.vn/colleges/aquaculture/aquafishdata/index.htm ).
2.3. Tình hình dịch bệnh ở cá rô phi
Cùng với sự gia tăng mật độ trong hệ thống nuôi là sự gia tăng về bệnh. Trong
thời gian gần đây, người nuôi luôn phải đương đầu với vấn đề bệnh trên động vật thủy
sản. Bệnh trên cá rô phi xảy ra khắp nơi, trong đó một số đã phát triển thành những
trận dịch. Đài Loan là nước từng đã hứng chịu rất nhiều trận dịch trên cá rô phi. Chien
(1991; trích bởi Nguyễn Tri Cơ, 2004) đã mô tả bệnh trong một hệ thống nuôi cá rô
phi vằn do Saprolegnia sp. gây ra. Trận dịch năm 1992 đã làm chết rất nhiều cá rô phi
trong những ao nuôi nước ngọt ở miền Đông và Nam Đài Loan, sau đó lan rộng ra các
đảo trong khu vực ở cả nước lợ và nước mặn (Huang và ctv., 1998).
Tại Israel, một tác nhân gây bệnh rất giống nấm Branchiomyces đã làm chết
85% cá rô phi đỏ và cá rô phi lai. Tại một đầm nuôi cá rô phi nước lợ ở Hưng Yên
thuộc tỉnh Quảng Ninh đã xảy một trận dịch vào cuối năm 1997, nguyên nhân do đĩa
Piscicola sp. và đã làm chết khoảng 20 – 25 tấn cá (Bùi Quang Tề, 2001; trích bởi Võ
Văn Tuấn, 2005).
2.4. Tình hình nghiên cứu bệnh trên cá rô phi
2.4.1. Trên thế giới
Hiện nay trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu về bệnh trên cá rô phi
do các tác nhân vi khuẩn như: Miyazaki và ctv. (1984; trích bởi Nguyễn Tri Cơ, 2004)
nghiên cứu mô học cá bị nhiễm Pseudomonas fluorescens và Streptococcus sp., Chang
và Plumb (1996; trích bởi Nguyễn Tri Cơ, 2004) nghiên cứu mô học cá rô phi vằn
nhiễm Streptococcus sp. và ảnh hưởng của độ mặn lên quá trình nhiễm Streptococcus
sp. của cá rô phi vằn, Bunch và Bejerano (1997; trích bởi Nguyễn Tri Cơ, 2004)

Floyd, 2001). Ngoài ra còn một số loài vi khuẩn có mối quan hệ họ hàng rất gần gũi
với Streptococcus và gây ra các triệu chứng bệnh tương tự như: Lactococcus garvieae
(Austin và Austin, 1999), L. piscium và Vagococcus salmoninarum (Yanong và Floyd,
2001). Tất cả chúng gây ra hội chứng bệnh có tên là bệnh do liên cầu khuẩn
(streptococcosis). Bệnh streptococcosis được Hoshina và ctv. báo cáo đầu tiên vào
năm 1958 ở Nhật Bản trên loài cá hồi nuôi.
Streptococcus iniae cùng với vi khuẩn Lactococcus garvieae là những tác nhân
gây bệnh chủ yếu của bệnh streptococcosis ở cá, theo ước tính nó là nguyên nhân gây
ra 50% số cái chết trong tháng đầu của vụ nuôi và tới 80% số cá nuôi bị tổn thất khi
kết thúc vụ nuôi, đặc biệt nghiêm trọng nếu bệnh xảy ra trong những tháng mùa lạnh .

10
S. iniae được phân lập đầu tiên trên loài cá heo vùng sông Amazone vào thập niên 70
của thế kỷ trước. Tuy nhiên nó chỉ được coi là tác nhân gây bệnh sau một vụ bộc phát
trên cá rô phi lai vào năm 1994 (Yanong và Floyd, 2001). S. iniae có thể gây bệnh trên
cả cá lẫn thú, kể cả con người (Austin và Austin, 1999; Weistein và ctv., 1997).
S. iniae có dạng hình cầu, có thể đứng riêng lẻ, thành từng cặp hoặc tạo thành
chuỗi dài. Vi khuẩn S. iniae bắt màu Gram dương . Đặc điểm này của nó khá hữu ích
cho công tác phân lập vì thông thường các tác nhân vi khuẩn gây bệnh trên cá thuộc
nhóm vi khuẩn Gram âm.
Vi khuẩn S. iniae phát triển tốt trên các môi trường thạch Tryptic Soyar Agar,
Brain Heart Infusion, Muller – Hinton và thạch máu cừu. Nhiệt độ nuôi cấy thích hợp
từ 25 – 28
o
C. Sau 48h nuôi cấy, vi khuẩn tạo thành khuẩn lạc nhỏ (0,5 – 0,7mm) màu
trắng đục. Một số chủng khuẩn lạc trong suốt có tính nhầy sau 24h nuôi cấy. Trên môi
trường thạch máu, khuẩn lạc tạo vòng dung huyết beta nhỏ, trong suốt, rìa không rõ.
Vi khuẩn không phát triển ở điều kiện pH 9,6, NaCl 6,5%, nhiệt độ 10 và 45
o
C

ngày (Yanong và Floyd, 2001) . Tỉ lệ cá chết cao và tập trung vào các tháng cuối mùa
hè và đầu mùa thu. Đây là khoảng thời gian có nhiệt độ nước cao nhất trong năm. Tại
các thời điểm khác trong năm cá chỉ chết rải rác, ngoại trừ vào những tháng mùa đông
lúc nhiệt độ nước xuống thấp, cho nên ở các nước ôn đới vào mùa này rất hiếm gặp cá
chết vì bệnh trên. Về độ tuổi cá nhiễm bệnh, hầu hết các báo cáo đều đề cập bệnh xảy
ra trong giai đoạn nuôi thương phẩm (Dương Phượng Uyên, 2005).
Cá bệnh có triệu chứng chung khá điển hình trên nhiều loài. Cá bơi lờ đờ hay
mất định hướng gần mặt nước. Bên ngoài quan sát thấy cá bị trướng bụng do tích tụ
dịch viêm xoang bụng, xuất huyết điểm, có đốm đỏ ở vùng quanh miệng và hậu môn
xuất hiện nặng ở vây lưng và ngực, xuất huyết, viêm có mủ, lồi một hoặc cả hai mắt.
Bên trong nội quan gan, lách, thận nhạt màu và sưng to. S. iniae còn nhiễm ở
não làm cá bơi bất thường. Tuy nhiên, một vài trường hợp cá bệnh nhưng không có
biểu hiện triệu chứng rõ ràng cho đến khi chết (Yanong và Floyd, 2001).

12
Perrera và ctv. (1998) nghiên cứu bệnh tích vi thể học của cá rô phi lai
(O. niloticus X O. aureus) nhiễm S. iniae, kết quả cho thấy sự xâm nhập của vi khuẩn
vào tế bào ở mắt, màng não gây viêm hạt màng não. Các ổ viêm có rất nhiều vi khuẩn
trong nhu mô thận là bệnh tích thường quan sát được. Vi khuẩn phát triển quanh mao
tĩnh mạch và tạo bệnh tích viêm hạt ở nhu mô gan. Nhu mô lách cũng nhiễm khuẩn rất
nặng. Một số trường hợp có thể quan sát được viêm bao tim và cơ tim. Trong máu, vi
khuẩn phát triển tự do trong huyết tương hoặc bị thực bào bởi đại thực bào (Trích bởi
Dương Phượng Uyên, 2005).
2.5.4. Huyết thanh học
Pier và ctv. (1978) điều chế kháng huyết thanh thỏ kháng S. iniae. Kháng huyết
thanh thỏ này không cho phản ứng ngưng kết với bất kỳ loài vi khuẩn thuộc giống
Streptococcus nào khác.
Các chủng S. iniae phân lập tại Nhật Bản có hai dạng khuẩn lạc khác nhau sau
24h ủ trên các môi trường thạch thích hợp. Một loại khuẩn lạc có tính nhầy, trong và
một dạng không nhầy, đục. Khuẩn lạc nhầy có thể chuyển thành khuẩn lạc không nhầy

 Phòng bệnh
Các biện pháp như giảm mật độ nuôi, tránh cho ăn dư thừa, vệ sinh bể nuôi cần
được thực hiện thường xuyên. Tránh đến mức tối đa chuyển đàn, chia đàn, phân cỡ cá
trong thời gian dịch bệnh thường xảy ra.
 Trị bệnh
Kháng sinh diệt khuẩn phổ rộng hay diệt khuẩn Gram dương với tác dụng toàn
thân có hiệu quả điều trị tốt. Erythromycin và một số kháng sinh khác như
doxycycline, kitasamycin, alkyl-trimethyl-ammonium-calcium-oxytetracycline,
josamycin, oleandomycin và lincomycin cũng thường được sử dụng trị bệnh do liên
cầu khuẩn ở Nhật Bản (Kitao và Aoki, 1979).
 Vaccine
Rất nhiều nghiên cứu về vaccine phòng bệnh do S. iniae đã được công bố ở
nhiều nơi, như: công trình của Bercovier và ctv. (1997) nghiên cứu về vaccine phòng
bệnh gây ra do Streptococci và các vi khuẩn có quan hệ họ hàng khác trên cá hồi và cá
rô phi, Alkhlaghi và ctv. (1996), Eldar và ctv. (1997), nhiều chương trình nghiên cứu
của nhóm nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm nghiên cứu sức khỏe động vật thủy,
Trung tâm nghiên cứu Nông nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa kỳ (Aquatic Aniamal
Health Research Laboratory, ARS, USDA) gồm: Shoemaker C. A. , Klesius P. H. ,
Evans J. J. về vaccine phòng bệnh trên ở cá hồi và cá rô phi,... Tuy nhiên, vaccine
được thương mại còn rất hạn chế, chỉ có một vài sản phẩm như: sản phẩm

14
Aquavac
TM
Garvetti
TM
dạng cung qua thức ăn và ngâm của hãng Schering – Plough
Aquaculture, ...
2.6. Khái quát về hệ thống đáp ứng miễn dịch của thú.
Cột mốc đầu tiên trong miễn dịch học chỉ cách đây hơn một thế kỷ với nghiên

transferrin có cấu trúc tương tự như lactoferrin có tác dụng ngưng trùng; bổ thể là hệ
thống gồm 9 loại enzyme có mặt thường xuyên trong huyết thanh, có vai trò trong sự
phản vệ, opsonin hóa, sự ly giải, ngăn ngừa và loại bỏ sự hình thành phức hợp kháng
nguyên và kháng thể quá lớn trong cơ thể, kích hoạt sự trưởng thành của lympho bào
B và sự thực bào; C – reactive protein xuất hiện trong giai đoạn đầu của quá trình
nhiễm khuẩn, kích thích dòng thác bổ thể theo con đường cổ điển; interferon (IFN)
do tế bào đơn nhân, các loại đại thực bào và tế bào lympho tiết ra, có vai trò trong sự
miễn dịch với virus và kí sinh trùng.
 Những quá trình tế bào
Sự thực bào
Các tế bào làm nhiệm vụ thực bào gồm bạch cầu đa nhân trung tính (tiểu thực
bào) và bạch cầu đơn nhân lớn (đại thực bào). Những tế bào này tiền thân ở tủy xương,
nhưng khi đã được biệt hóa thì phóng thích vào máu để làm nhiệm vụ thực bào.
Quá trình thực bào gồm các giai đoạn sau: hóa hướng động là sự kích động và
lôi kéo các các bạch cầu đa nhân trung tính và đại thực bào rời dòng máu đến nơi
nhiễm trùng nhờ một yếu tố hóa học tiết ra từ hệ thống bổ thể; nhận diện dựa vào khả
năng nhận biết cấu trúc kháng nguyên của vật xâm nhập khác kháng nguyên của cơ
thể; ăn vào và đào thải, đưa các phân tử kháng nguyên và các vật chất lạ khỏi dòng
máu.
Tính gây độc tế bào
Những tế bào có hoạt tính gây độc tế bào là lympho hạt lớn, bạch cầu đơn nhân.
Quá trình gây độc tế bào cũng trải qua tế bào nhận diện, sau đó là giai đoạn tiết ngoại
bào là các hạt vào trong tế bào đích, các hạt này sẽ kết hợp với các tiểu thể sống của tế
bào đích và làm tế bào bị chết.
Về phương diện chức năng, người ta phân biệt 2 loại tế bào: tế bào lympho hạt
lớn gọi là tế bào diệt K (killer cell) và tế bào diệt tự nhiên NK (natural killer cell).
Tính gây độc không đặc hiệu đóng một vai trò rất quan trọng trong sức đề
kháng của cơ thể, có vai trò trong việc nhận diện sớm và giúp loại bỏ những tế bào
bướu, phản ứng loại bỏ mảnh ghép ...
Sự sản xuất các hợp chất hoạt mạch

phản ứng viêm. Phản ứng viêm do sự tương tác giữa lympho T mẫn cảm với kháng
nguyên đặc hiệu gọi là sự quá mẫn muộn (delayed hypersensivity). Người ta coi quá
mẫn muộn là một biểu hiện của đáp ứng miễn dịch tế bào.

17
Khi kháng nguyên xâm nhập vào cơ thể sẽ kích thích sự hoạt động biệt hóa của
dòng tế bào lympho T, các quần thể sau khi được biệt hóa sẽ tăng sinh nhanh chóng và
tạo ra một số lượng lớn sẵn sàng làm nhiệm vụ tấn công kháng nguyên.
Bảng 2.3 : Chức năng sinh học của 5 lớp Ig
(Nguồn : Đặng Đức Trạch và ctv., 1987; trích bởi Hoàng Hải Hóa, 2001)

Lớp kháng
thể
Hoạt động hữu ích Hoạt động gây tổn thương.
IgG Trung hòa độc tố
Ngưng kết
Opsonin hóa
Tan vi khuẩn (kết hợp với bổ thể)
Phức hợp kháng nguyên –
kháng thể đọng lại trong cơ
thể gây tổn thương.
IgM Trung hòa độc tố
Ngưng kết
Tan vi khuẩn (phối hợp với bổ thể)
Thụ thể trên bề mặt lympho bào B
dành cho kháng nguyên
Như trên
IgA Trung hòa độc tố
Ngưng kết
Opsonin hóa

bào T hỗ trợ T
H
, tế bào T ức chế T
S
(T cell suppressor)... có vai trò điều hòa đáp ứng
miễn dịch hoặc điều hòa mối quan hệ phức tạp giữa các tế bào cùng tham gia đáp ứng
miễn dịch.
Lymphokin: hiện nay phát hiện được hơn 90 loại lymphokin ở thú. Chúng có
bản chất là protein do tế bào lympho tiết ra với các chức năng khác nhau, mà một
trong những chức năng đó là kích thích khả năng thực bào của các đại thực bào đơn
nhân và bạch cầu trung tính (Lê Văn Hùng, 2002).
2.7. Khái quát về hệ thống miễn dịch của cá
Lớp cá là lớp động vật có xương sống nguyên thủy nhất, được coi là gạch nối
quan trọng giữa các loài động vật không xương sống và các loài động vật có xương
sống bậc cao hơn (Stoskopf S.K., 1993). Ở cá tồn tại cơ chế thực bào với các tế bào
thực bào đơn nhân và tế bào hạt của động vật không xương sống, chúng cũng là các
sinh vật đầu tiên thể hiện được hai cơ chế miễn dịch thể dịch và miễn dịch qua trung
gian tế bào như ở các loài hữu nhũ (Stoskopf S.K., 1993). Ngoại trừ một số loài cá
sống ở nhiệt độ thấp không phát triển hệ thống đáp ứng miễn dịch (Fox, 2005).
Cũng như tất cả các cơ thể sống khác, cá có đặc tính quan trọng là nhận biết và
dung nạp những cái của bản thân, đồng thời nhận biết và thải bỏ những cái không phải
của bản thân, xa lạ với cơ thể (Đỗ Ngọc Liên, 1999). Dưới một phức hệ phức tạp
tương tác giữa các tế bào được biết đến là hệ thống miễn dịch, chúng nhận biết tác
nhân gây bệnh và các chất lạ rồi khởi động một loạt các phản ứng khác nhau nhằm loại
bỏ chúng ra khỏi cơ thể. Đó còn được gọi là sự đáp ứng miễn dịch. Những đáp ứng
miễn dịch nói chung được chia thành 2 lớp lớn: các đáp ứng miễn dịch tự nhiên
(không đặc hiệu) và các đáp ứng miễn dịch thu được (miễn dịch đặc hiệu).
2.7.1. Đáp ứng miễn dịch tự nhiên ở cá
Là các đáp ứng miễn dịch nhờ vào các hàng rào cơ học và sinh học một cách
không đặc hiệu.

Da và lớp nhớt của cá
Không như lớp da của động vật có xương sống bậc cao, da cá được cấu tạo bởi
các tế bào sống không được keratin hoá (Robert và Bullock, 1980; trích bởi Stoskopf
S. K., 1993). Da cá cũng mau lành hơn nếu có thương tổn . Sự tồn tại của lớp chất nhớt

20
phía mặt ngoài da cá là một điều đặc biệt mà các lớp động vật khác không có được. Nó
ức chế sự phát triển của các vi sinh vật. Người ta tìm thấy trong chất nhớt của da các
chất: lysozyme, bổ thể, kháng thể tự nhiên, bacteridosin (Diconza, 1970; Fletcher và
White, 1973; Ourth, 1980; trích bởi Stoskopf S. K., 1993). Các kháng thể tự nhiên
trong lớp nhớt này đặc hiệu với các epitope có chứa thành phần carbohydrate của vách
tế bào kháng nguyên. Trong lớp nhớt còn phát hiện có cả kháng thể đặc hiệu.
Các phân tử hòa tan trong đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu
Gồm một số chất sau: lectines, lytic enzyme, transferrin/lactoferrin,
ceruloplasmin, protein C – raeactive, interferon (IFN) đảm nhận các chức năng bổ trợ
cho các đáp ứng miễn dịch của cơ thể.
Bổ thể
Bổ thể là một kháng thể không đặc hiệu có trong huyết thanh tươi của các loài
động vật, có tác dụng làm tan vi khuẩn đã được kháng thể cảm ứng. (Nguyễn Vĩnh
Phước, 1979; trích bởi Hoàng Hải Hóa, 2001.)
Trong huyết thanh cá tồn tại khoảng hơn 20 loại bổ thể khác nhau, chúng hoạt
động qua hai cơ chế: hoặc tương tác với kháng thể đặc hiệu, hoặc hoạt động một cách
không đặc hiệu với các phân tử ở bề mặt vật kí sinh (Sakai, 1992; trích bởi Fox,
2005.).
2.7.2. Đáp ứng miễn dịch thu đƣợc ở cá ( miễn dịch đặc hiệu)
Đáp ứng miễn dịch đặc hiệu có tính đặc hiệu cao đối với tác nhân gây bệnh . Sự
đáp ứng này càng hoàn thiện sau mỗi lần tiếp xúc với tác nhân gây bệnh. Hệ thống
miễn dịch đặc hiệu có thể ghi nhớ lại tác nhân gây bệnh và ngăn cản tác động gây bệnh
của chúng ở lần tiếp xúc lặp lại tiếp theo (Đỗ Ngọc Liên, 1999).
Sự đáp ứng miễn dịch đặc hiệu bao gồm:

H
).
2.8.2. Các loại chất bổ trợ thông dụng
Các nhà khoa học đã tìm ra hàng trăm chất có tác dụng như chất bổ trợ cho
vaccine. Tuy nhiên đa số trong các chất này, ngoài tính làm tăng khả năng miễn dịch
và kéo dài thời gian miễn dịch cho vaccine, chúng lại có độc tính tương đối cao, vì thế
không được sử dụng rộng rãi mà chỉ có ý nghĩa trong nghiên cứu và trong phòng thí
nghiệm. Để chọn chất bổ trợ ta nên cân nhắc giữa độ an toàn và tính kích thích miễn
dịch sao cho phù hợp.
Hiện nay các chất bổ trợ được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất vaccine gồm
các nhóm:
 Nhóm chất vô cơ
Nhôm hydroxit (Al(OH)
3
) – keo phèn

22
Nhôm phosphat (AlPO
4
)
Nhôm kali sulfat (AlK(SO
4
)
2
.12H
2
O) – phèn chua
 Nhóm chất hữu cơ
Gồm những chất chủ yếu như protamin, mỡ động vật, dầu thực vật, dầu khoáng.
Qua nhiều thực nghiệm cho thấy: một chất bổ trợ được chọn dùng để chế

1984; trích bởi Stoskopf S. K., 1993). Ngoài ra còn sử dụng một số hoá chất như:
chloroform và phenol, hoặc các tác nhân vật lí như: sodium hydroxide, sodiumdodecyl
sulfate, nhiệt độ để giết chết vi sinh vật (Stoskopf S. K., 1993).
Vaccine nhược độc (attenuated vaccine): dùng các vi sinh vật đã được làm yếu,
bằng cách: xử lí vi sinh vật với hoá chất ở nồng độ cận ngưỡng chết, xử lí nhiệt độ
thấp. Phương pháp thông thường là nuôi cấy chúng ở môi trường không thích hợp
hoặc với nhiệt độ không thuận lợi cho sự sinh trưởng. Tuy nhiên vaccine dạng này vẫn
chưa được thương mại hóa vì những e ngại là vi sinh vật dùng chế vaccine có thể trở
nên có độc lực mạnh hơn .
Hiện nay ngoài hai dạng vaccine phổ biến trên, các nhà nghiên cứu đang hướng
đến sản xuất vaccine tiểu đơn vị (subunit vaccine) và các loại peptide tổng hợp dùng
làm vaccine phòng bệnh cho cá.
2.9.3. Các phƣơng pháp chủng vaccine cho cá
Việc chủng vaccine trên cá có nhiều sự lựa chọn hơn so với trên thú và con
người. Hiện nay hầu hết các loại vaccine sử dụng cho động vật có xương sống là ở
dạng tiêm (injection) , có thể tiêm dưới da, tiêm cơ hay tiêm xoang bụng (Souter,
1983; Stoskopf S. K., 1993). Ở cá, sự tiêm xoang bụng (intraperitoneal = i.p.) cho hiệu
giá kháng thể cao hơn với nhiều loài vi khuẩn và virus (Austin, 1984; Wolf, 1988),
nhưng nếu tiêm chủng với số lượng cá lớn sẽ không khả thi. Các đường chủng khác
như chủng qua đường miệng thông qua thức ăn hoặc qua đường hậu môn. Tuy nhiên
phương pháp này không hiệu quả bởi vì vaccine bị phá hủy ở đường tiêu hóa của cá
(Austin và Austin, 1987). Vì vậy, việc cấp qua lỗ hậu môn sẽ tránh được tác động
phân hủy vaccine ở đường ruột cá nhưng tốn nhiều công nên chẳng ưu việt hơn
phương pháp cấp bằng đường tiêm vào xoang bụng.
Để chủng vacine với số lượng cá lớn, phương pháp ngâm và tắm là thích hợp
nhất. Các phương pháp này thích hợp với cá nhỏ, nhưng cũng không nên chọn cá quá
nhỏ vì sẽ tạo đáp ứng miễn dịch kém do hệ thống miễn dịch chưa trưởng thành (Tatner
và Horne, 1984; Manning và Mugal, 1985, trích bởi Aasjord và Slinde, 1994).
2.10. Giới thiệu về phản ứng ngƣng kết dùng trong chẩn đoán miễn dịch học
2.10.1. Định nghĩa kháng nguyên và kháng thể

thích sinh ra kháng thể ngưng kết gọi là kháng nguyên ngưng kết. Phản ứng tạo ra cặn
lợn cợn. Không phải chỉ có vi khuẩn có khả năng ngưng kết mà cả hồng cầu, nấm
men, nấm mốc, tinh trùng... cũng có khả năng gây ngưng kết (Vương Thị Việt Hoa và
ctv., 1999 25
III. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
3.1.1. Thời gian
Từ ngày 1/3/2005 đến ngày 15/7/2005
3.1.2. Địa điểm
Địa điểm thu mẫu: tại các bè nuôi xảy ra dịch bệnh.
Địa điểm thí nghiệm: Trại thực nghiệm thủy sản, Khoa Thủy sản, Trường
đại học Nông lâm Tp. Hồ Chí Minh.
Địa điểm phân tích mẫu: Phòng Bệnh học, Khoa Thủy sản, Trường đại học
Nông lâm Tp. Hồ Chí Minh.
3.2. Vật liệu và trang thiết bị nghiên cứu
 Dụng cụ
Đĩa petri
Que cấy
Lame và lamelle
Ðèn cồn
Erlen, bình tam giác
Ống nghiệm
Bơm tiêm
Kéo
Kẹp
Ðĩa microplate 96 giếng (dạng hình chữ "U").


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status