DOWNLOAD» AGRIVIET.COM
I. GIỚI THIỆU 1.1 Đặt Vấn Đề
Theo đề án phát triển nuôi cá rô phi 2003 – 2010 của bộ Thủy sản, sản lượng
cá rô phi sẽ tăng từ 30.000 tấn năm 2003 lên 100.000 tấn năm 2005 và 200.000 tấn
năm 2010. Giá trò xuất khẩu cá rô phi trong 6 năm tới dự kiến sẽ lên tới 160 triệu
USD, tương đương 1.500 tỷ đồng.
Với mục tiêu đưa diện tích nuôi cá rô phi sẽ tăng lên đến 10.000 ha và 1 triệu
m
3
lồng vào năm 2010, tổng mức đầu tư dành cho đề án phát triển nuôi cá rô phi ước
tính cần 12.840 tỷ đồng. Và theo nhận đònh, trước hết khâu đầu tư giống vẫn là quan
trọng nhất. Ước tính 250 triệu con giống cỡ 5 – 10 gam vào năm 2005 và 500 triệu
con vào năm 2010.
Để đạt được những mục tiêu trên cùng với sự mở rộng quy mô, áp dụng nhiều
mô hình nuôi tiên tiến đó là việc tìm ra phương pháp phòng và trò bệnh hiệu quả là
vấn đề cấp thiết hiện nay. Bệnh trên cá rô phi gây tổn thất không nhỏ đến người
nuôi, đặc biệt là bệnh do vi khuẩn Streptococcus gây ra. Vi khuẩn này gây bệnh với
tỷ lệ chết rất cao và làm kìm hãm sự phát triển của nghề nuôi thủy sản nói chung và
nghề nuôi cá rô phi nói riêng. Cùng với việc sử dụng thuốc điều trò không đạt hiệu
quả cao, gây tốn kém và nghiên cứu dòch bệnh đòi hỏi phương pháp phức tạp, trang
thiết bò hiện đại, việc tìm ra một phương pháp chẩn đoán tác nhân gây bệnh nhanh,
chính xác là nhu cầu cần thiết hiện nay.
Trước yêu cầu thực tế đó, được sự phân công của Khoa Thủy Sản trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh và được sự hướng dẫn tận tình của thầy
loại cá rô phi thành 3 giống:
Giống Tilapia gồm những loài ấp trứng trên vật bám ( giá thể).
Giống Sarotherodon gồm những loài ngậm trứng và cá con trong miệng.
Giống Oreochromis cá tự đào tổ đẻ, chỉ có cá cái ấp trứng trong miệng.
Hiện chúng ta đã biết có tới hơn 80 loài thuộc 4 giống và 10 giống phụ. Cá rô
phi nhập vào nước ta trước đây thuộc giống
Oreochromis
là các loài
O. mosambica
(nhập vào Việt Nam năm 1951) và O. nilotica (nhập vào miền Nam Việt Nam 1973),
và các loài cá rô phi đỏ có màu sáng hồng, nhập vào ta từ thập niên 90. Cá O.
nilotica (rô phi Đài Loan, rô phi vằn) có thể vóc lớn hơn cá rô phi O. mosambica (rô
phi thường hay rô phi cỏ ). Cá rô phi vằn có thân màu hồng, vẩy sáng, có 9 - 12 sọc
đen đậm song song từ lưng xuống bụng, vi đuôi có màu sọc đen, viền vi đuôi và vi
lưng có màu hồng nhạt. Cá rô phi thường thân có màu đen ở lưng, bụng có màu sáng.
Tốc độ tăng trưởng của cá tùy thuộc điều kiện nuôi và thức ăn. Cá rô phi vằn lớn
nhanh hơn cá rô phi thường. Sau thời gian nuôi 4 – 5 tháng, cá rô phi vằn có thể đạt
kích thước thương phẩm 200 – 400 gam. Cá đực thường lớn nhanh hơn cá cái, nhất là
sau khi thành thục sinh dục. Vì vậy nên dùng cá đực để nuôi tăng sản. Năm 1992,
một công ty Đài Loan đã nhập cá rô phi đỏ vào Việt Nam để nuôi thử ở Bình Dương.
Sau đó cá được đưa tới các nhà hàng ở thành phố Hồ Chí Minh với tên gọi khá hấp
dẫn là cá điêu hồng.
3
2.3 Đặc Điểm Sinh Học
Cá rô phi đỏ thành thục sinh dục chỉ sau 4 – 5 tháng tuổi. Cá cái mỗi lần đẻ
khoảng 1000 – 2000 trứng, trong buồng trứng có 4 – 5 lứa trứng, cá đẻ từng lứa một.
Cá có thể đẻ nhiều lần trong năm (8 – 11 lần). Cá rô phi vằn và rô phi đỏ thời gian
thành thục chậm hơn, tới 6 – 8 tháng. Khi thành thục cá bắt cặp và tự đào tổ ở đáy ao
đẻ trứng, cá đực bảo vệ và giữ trứng đến khi cá bột nở ra. Cá cái còn giữ cá con cho
đến khi cá bột tiêu hết noãn hoàn và tự đi kiếm ăn được thức ăn bên ngoài. Vì cá có
tập tính đẻ sớm và đẻ nhiều nên khó kiểm soát được mật độ trong ao.
Cá rô phi nói chung có tuổi thành thục sớm, dể thành thục và dể sinh sản. Ta
có thể phân biệt cá đực và cá cái khi cá lớn cỡ 6 – 7 cm bằng cách quan sát lỗ huyệt
của chúng và theo đó cũng dễ dàng tách riêng cá đực, cá cái trong một đàn cá rô phi.
Cá đực chỉ có 2 lỗ gồm lỗ hậu môn nằm ở phía trước và lỗ niệu sinh dục nằm
ở phía sau. 4
Cá cái có 3 lỗ, phía trước là lỗ hậu môn, tiếp đến là lỗ niệu nằm ở giữa và lỗ
sinh dục nằm ở phía sau.
Cá rô phi đỏ có thể đẻ nhiều lần trong năm, từ 10 – 12 lần và hầu như đẻ
quanh năm. Ở Đài Loan nuôi trong điều kiện chăm sóc tốt cá có thể đẻ trên 20 lần
trong một năm. Cá trên hoặc dưới một năm tuổi đẻ nhiều lứa hơn cá từ 2 năm tuổi trở
lên.
Khi bắt đầu sinh sản, cá rô phi đực và cái cùng hợp làm tổ bằng cách dùng
đuôi quậy bùn và đào hố dưới đáy ao, hố có hình tròn, dốc thoai thoải, trơn nhẵn,
không còn bùn lắng động, đường kính tổ từ 20 – 30 cm, độ sâu thích hợp 0,3 – 0,5 cm.
Cá cái đẻ trứng vào hố và cá đực tưới tinh dòch để thụ tinh. Sau khi trứng thụ
0
C. Giới hạn nhiệt độ tối hảo cho sinh sản từ 26 – 29
0
C cho hầu hết các
loài cá rô phi.
2.4.2 pH
Cá rô phi có khả năng chòu đựng giới hạn pH rộng từ 4 – 11. Tuy nhiên khi pH
< 5 tác động xấu đến sự kết hợp của máu với oxygen, cá bỏ ăn và ảnh hưởng đến sự
phát triển.
pH thích hợp cho sự phát triển của cá rô phi từ 6,0 – 8,5 (Wangead và ctv.,
1988). Cá rô phi chết khi pH tăng cao đến 12. 5
2.4.3 Hàm lượng oxy hoà tan (DO)
Cá rô phi dòng GIFT có khả năng chòu đựng được ở vùng nước có hàm lượng
oxy thấp 1 mg/l, ngưỡng gây chết cá từ 0,1 – 0,3 mg/l, phát triển tốt trong khoảng 2 –
5 mg/l.
2.4.4 Ammonia (NH
3
)
Ammonia rất độc cho cá nhưng cá rô phi có thể chòu đựng ammonia tốt hơn
các loài cá khác, dưới 20mg/l (Ballarin và Haller, 1982).
từ tế bào Streptococcus iniae đã bò diệt bằng formol đối với cá rô phi. Nghiên cứu
của Evan và ctv. (2000) cho thấy Streptococcus iniae có thể gây nhiễm cá rô phi qua
đường mũi. Shoemake và ctv. (2000) nghiên cứu mật độ cá thả và liều lượng
Streptococcus iniae có ảnh hưởng đến tỷ lệ chết của cá khi chúng tiếp xúc những vi
khuẩn này ( Trích bởi Nguyễn Tri Cơ, 2004).
Hiện nay ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về bệnh cá rô phi chưa nhiều,
chỉ có vài công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào kí sinh trùng và hầu như chưa
có hoặc có rất ít công trình có tầm cỡ nghiên cứu về tác nhân virus hay vi khuẩn gây
bệnh trên cá rô phi. Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam như: nghiên cứu về kí
sinh trùng trên một số dòng cá rô phi vằn ở Bắc Ninh và Quảng Ninh (Bùi Quang Tề
và ctv., 1999). Kí sinh trùng ở những giai đoạn khác nhau trên ba dòng cá rô phi nuôi
(O. niloticus) như dòng Thái, dòng Việt và dòng GIFT tại miền Bắc Việt Nam (Bùi
Quang Tề và Vũ Thò Lụa, 1999).
6
2.6 Một Số Bệnh Thường Gặp Trên Cá Rô Phi
2.6.1 Bệnh liên cầu khuẩn (do vi khuẩn Streptococcus)
Bệnh thường xảy ra với tỷ lệ cá chết rất cao, đặc biệt là vào các tháng cuối
mùa hè và đầu mùa thu. Đây là khoảng thời gian nhiệt độ nước cao nhất trong năm.
Tại các thời điểm khác trong năm cá chết rải rác, ngoại trừ những tháng mùa đông
lúc nhiệt độ nước xuống thấp nhất ở các nước ôn đới không thấy bệnh xuất hiện. Về
độ tuổi cá thường nhiễm bệnh, hầu hết các báo cáo đều ghi nhận bệnh thường xảy ra
trong giai đoạn nuôi thương phẩm.
Đường truyền bệnh: cá sống trong môi trường nước có tác nhân vi khuẩn này
hoặc sống chung với cá bệnh. Bệnh càng dễ dàng xảy ra thông qua vết thương ở da
7
2.6.2 Bệnh nhiễm khuẩn huyết do Aeromonas.
Tác nhân gây bệnh: nhóm vi khuẩn gây bệnh chủ yếu thuộc giống
Aeromonas: A. hydrophila, A. caviae, A. sobria. Vi khuẩn hiện diện trong môi trường
nước, đặc biệt khi nước có nhiều chất hữu cơ. Các loài vi khuẩn này có thể không
gây bệnh khi cư trú trong ruột cá.
Đối tượng nhiễm bệnh: các loài cá nuôi nước ngọt: cá tra, cá điêu hồng, cá
basa, cá trê, … Cá con dễ mẫn cảm hơn cá trưởng thành, có thể gây chết đến 80%.
Dấu hiệu bệnh lý: cá bệnh bò sẫm màu từng vùng ở bụng. Xuất hiện từng
mảng đỏ trên cơ thể. Hoại tử đuôi, vây, xuất huyết các vết thương trên lưng, các khối
u trên bề mặt cơ thể, vẩy dễ rơi rụng. Mắt lồi, mờ đục và phù ra. Xoang bụng chứa
nhiều dòch, nội tạng hoại tử.
Phòng trò:
Tránh tạo ra các tác nhân cơ hội như nhiễm ký sinh trùng ( nhóm nguyên sinh
động vật), tránh làm xây xác cá, vệ sinh không đúng quy đònh, nước giàu chất hữu cơ
(môi trường nuôi nhiễm bẩn), mật độ nuôi quá dày, hàm lượng oxy thấp, ô nhiễm từ
nguồn nước thải công nghiệp, …
Dùng thuốc tím (KMnO
4
) tắm cá, liều dùng là 4 ppm (4 g/m
3
nước) đối với cá
quan đến stress, các thương tổn da, vẩy do các tác nhân cơ học, nuôi với mật độ cao,
dinh dưỡng kém, hàm lượng oxy giảm. Pseudomonas spp. xâm nhập vào cơ thể cá
qua các đường thương tổn ở mang, da, …
Phòng trò: dùng vaccin phòng bệnh, giảm mật độ nuôi. Cung cấp nguồn nước
tốt. Tắm 3 – 5 ppm (KMnO
4
) không quy đònh thời gian. Có thể dùng các loại kháng
sinh để điều trò như trong bệnh nhiễm khuẩn huyết do
Aeromonas.
2.6.4 Bệnh nhiễm khuẩn huyết do Edwardsiella (edwarsiellosis).
Tác nhân gây bệnh: bệnh do vi khuẩn Edwardsiella tarda.
Đối tượng nhiễm bệnh: các loài cá nuôi nước ngọt như cá tra, cá điêu hồng, cá
basa, cá trê, cá rô phi, …
Dấu hiệu bệnh lý: xuất hiện những vết thương nhỏ trên da (phía mặt lưng),
đường kính khoảng 3 – 5 mm, những vết thương này sẽ phát triển thành những khối u
bên trong cơ thể, da bò mất sắc tố. Cá mắc bệnh sẽ mất chức năng vận động do vây
đuôi bò tưa rách. Có thể xuất hiện những vết thương bên dưới biểu bì, cơ, khi ấn vào
sẽ phát ra khí có mùi hôi, các vết thương này sẽ gây hoại tử vùng cơ chung quanh.
Bệnh thường xảy ra trên cá lớn trong ruột một vài loài rắn, cá và một số loài bò sát,
ếch nhái có thể là nguồn lây nhiễm mầm bệnh E. tarda. Bệnh xuất hiện khi chất
lượng nước trong môi trường nuôi xấu, nuôi với mật độ dày, nhiệt độ thích hợp để
bệnh phát triển khoảng 30
0
C
mg), Lincomycine (2 mg), Oxaccillin (1 mg), Oxytetracyline (30 mg), Penecilline G
(10 UI), Streptomycine (10 mg) và đề kháng với sulfadiazine (300 mg), (Huang và
ctv.,1998), Sulfonamide, Clortetracycline (Vũ Thò Tám và ctv., 1993).
2.6.6 Một số bệnh do ký sinh trùng
2.6.6.1 Bệnh trùng bánh xe
Tác nhân gây bệnh: một số loài trong họ trùng bánh xe như: Trichodina
centrostrigata, T. domerguei, T. heterodentata, T. nigra, T. orientalis, Trichodinella
epizootica
,
Tripartiella bulbosa
, T
. clavodonta
.
Dấu hiệu bệnh lý: khi mới mắc bệnh, trên thân, vây cá có nhiều nhớt màu hơi
trắng đục, ở dưới nước thấy rõ hơn so với khi bắt cá lên cạn. Da cá chuyển màu xám,
cá cảm thấy ngứa ngáy, thường nổi từng đàn lên mặt nước. Một số con tách đàn bơi
quanh bờ ao. Khi bệnh nặng trùng bám dày đặc ở vây, mang, phá hủy các tơ mang
khiến cá bò ngạt thở, những con bệnh nặng mang đầy nhớt và bạc trắng. Cá bơi lội
mất phương hướng. Cuối cùng cá lật bụng mấy vòng, chìm xuống đáy ao và chết.
Phân bố lan truyền bệnh: trùng bánh xe gây bệnh chủ yếu ở giai đoạn cá
giống, là bệnh ký sinh đơn bào nguy hiểm nhất của giai đoạn này. Trùng bánh xe ít
gây bệnh ở giai đoạn cá thòt. Khi ương cá trong nhà, bệnh gây ảnh hưởng nghiêm
trọng tỷ lệ chết cao (70 – 100%). Bệnh thường phát vào mùa xuân, mùa thu, khi nhiệt
độ nước 25 – 30
o
Dấu hiệu bệnh lý: Cichlidogyrus, Gyrodactylus ký sinh trên da và mang cá,
làm cho mang và da cá tiết ra nhiều dòch nhờn ảnh hưởng đến hô hấp cá. Tổ chức da
và mang có sán ký sinh bò viêm loét tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm và một số sinh
vật xâm nhập gây bệnh.
Phân bố lan truyền bệnh: cá có thể bò bệnh khi ương giống với mật độ dày và
có thể gây chết hàng loạt trong giai đoạn bể ương. Bệnh phát vào mùa xuân, mùa
thu, mùa đông.
2.6.6.4 Bệnh rận ca
ù
Tác nhân gây bệnh: rận cá Caligus sp.
Dấu hiệu bệnh lý: rận cá thường ký sinh ở vây, mang cá rô phi, làm cho da cá
bò viêm loét tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng khác xâm nhập, vì vậy nó
thường cùng lưu hành với bệnh đốm trắng, bệnh đốm đỏ, lở loét nên dẫn đến cá chết
hàng loạt. Cá bò Caligus ký sinh có cảm giác ngứa ngáy, vận động mạnh trên mặt
nước, bơi lội cuồng dại, cường độ bắt mồi giảm.
Phân bố lan truyền bệnh: rận cá ký sinh ở nhiều loài cá nuôi. Cá rô phi nuôi
mật độ dày, rận cá ký sinh đã gây chết hàng loạt ở các đầm nước lợ hoặc nước ngọt.
2.7 Phương Pháp Phòng Bệnh Chung
Phòng trò bệnh cá là một vấn đề rất quan trọng, nhiều đòa phương và hộ gia
đình nuôi cá cần nhận rõ vai trò của công việc này.
Phát hiện được bệnh cá đã khó, chữa bệnh cho cá lại càng khó hơn. Vì cá
- Cải tạo và xử lý ao, bè thật kỹ trước khi nuôi.
- Tạo miễn dòch cho cá bằng vaccine.
- Loại những con cá giống đã bò xây xác yếu sức trước khi thả.
- Trước khi vận chuyển xuất nhập cá từ nơi khác cần phải kiểm tra dòch
bệnh.
2.8
Liên Cầu Khuẩn
Streptococcus Iniae
Gây Bệnh Trên Cá Rô Phi 2.8.1 Đặc điểm hình thái, sinh lý, sinh
hóa S. iniae
có dạng hình cầu, có thể đứng riêng lẻ, thành từng cặp hay tạo thành
chuỗi dài. Vi khuẩn bắt màu gram dương. 12
Vi khuẩn phát triển tốt trên các môi trường thạch Tryptic Soy, Brain Heart
Infulsion, Muller – Hinton agar và thạch máu cừu. Nhiệt độ nuôi cấy thích hợp 25 –
28
mất đònh hướng gần mặt nước. Bên ngoài, cá bò trướng bụng do tích tụ dòch viêm
xoang bụng, xuất huyết điểm, đốm đỏ ở vùng quanh miệng và hậu môn, xuất huyết
nặng ở vây lưng và ngực, xuất huyết, viêm có mủ, lồi một hoặc cả hai mắt. Bên trong
gan, lách, thận nhạt màu và sưng to.
13
2.8.3 Phương pháp phòng trò bệnh do liên cầu khuẩn gây ra
Phòng bệnh:
Các biện pháp như giảm mật độ nuôi, tránh cho ăn thức ăn thừa, vệ sinh bể
nuôi cần được thực hiện thường xuyên. Tránh đến mức tối đa chuyển đàn, chia đàn,
phân cỡ cá trong thời gian dòch bệnh thường xảy ra.
Trò bệnh:
Kháng sinh diệt khuẩn phổ rộng hay diệt khuẩn gram dương với tác dụng toàn
thân có hiệu quả điều trò tốt, Erythromycin và một số kháng sinh khác như
doxycyline, kitasamycin, ankil – trimethil – ammonium – calcium – oxytetraciline,
josamycin, oleandomycin và lincomycin cũng thường được sử dụng trò bệnh do liên
cầu khuẩn ở Nhật Bản (Kitao và Aoki, 1979).
2.8.4 Nghiên cứu huyết thanh học
Pier và ctv. (1978) điều chế kháng huyết thanh thỏ kháng S. iniae. Kháng
huyết thanh thỏ này không cho phản ứng ngưng kết với bất kỳ loài vi khuẩn thuộc
giống Streptococcus nào khác.
2.9.2 Liều lượng và đường vào của kháng nguyên
Liều lượng và cách đưa kháng nguyên vào cơ thể ảnh hưởng lớn đến khả
năng sinh kháng thể. Khi đưa liều quá ít sẽ không đủ kích thích đáp ứng miễn dòch,
còn quá nhiều có thể dẫn đến trạng thái tê liệt miễn dòch. Ở tình trạng tràn ngập
kháng nguyên sẽ không đáp ứng miễn dòch. Khi đưa lượng nhỏ kháng nguyên vào cơ
thể sẽ kích thích mạnh tế bào T, tạo trí nhớ miễn dòch và dẫn đến đáp ứng miễn dòch.
Nhưng nếu tiêm nhắc lại thì đáp ứng miễn dòch dòch thể sẽ tăng lên, tạo khả năng
miễn dòch cao và bền vững. Đó là nguyên lý tiêm vacxin.
Trong tự nhiên kháng nguyên có thể vào cơ thể qua nhiều con đường khác
nhau như qua niêm mạc đường hô hấp, sinh dục, qua da (do côn trùng đốt hoặc do
xây xác). Người ta có thể chủ động tiêm kháng nguyên vào trong da, dưới da, trong
bắp thòt hay tónh mạch, giúp kháng nguyên nhanh chóng tiếp cận với hệ thống miễn
dòch.
2.9.3 Tính đặc hiệu của kháng nguyên
Sự liên kết của kháng nguyên và kháng thể hay giữa kháng nguyên và tế bào
lympho luôn mang tính đặc hiệu cao. Không phải toàn bộ kháng nguyên tham gia vào
kích thích hệ thống miễn dòch mà chỉ có một phần nhất đònh của kháng nguyên gọi là
quyết đònh kháng nguyên hay epitop mới liên kết với kháng thể hoặc tế bào lympho.
Phần tương ứng với quyết đònh kháng nguyên nằm trên mỗi kháng thể gọi là vò trí kết
hợp kháng nguyên hay paratop, còn phần tương ứng với tế bào lympho là thụ thể, thụ
thể của tế bào T (TCR). Mỗi epitop chỉ gắn đặc hiệu với một paratop hoặc TCR và
chỉ sinh ra một dòng kháng thể đặc hiệu.
2.9.4 Các loại kháng nguyên
khi gắn với protein ( lipoprotein) thì trở thành kháng nguyên.
Kháng nguyên acid nucleic: acid nucleic (ADN, ARN) là kháng nguyên yếu,
nhưng khi gắn với protêin (nucleoprotein) hoạt tính sinh miễn dòch sẽ tăng lên.
2.9.5 Các tế bào tham gia vào đáp ứng miễn dòchTế bào B (Bone): tiền thân của tế bào Plasma ( tương bào) sản xuất kháng
thể.
Tế bào T ( Thymus): quần thể tế bào lympho biệt hóa trong tuyến ức.
Tế bào T hỗ trợ: tế bào T hỗ trợ tế bào B biệt hóa thành tế bào plasma sản
xuất kháng thể.
Interluekin (IL 1 – IL 10): do bạch cầu tiết ra có tác dụng kích thích hoạt hóa
và biệt hóa tế bào lympho.
Trí nhớ miễn dòch: sau khi tiếp xúc với kháng nguyên lần 1 một số tế bào B
và T có khả năng lưu trữ thông tin để khi gặp lại KN có khả năng sản xuất KT.
Biệt hóa tế bào B: sự biến đổi tế bào nguồn thành tế bào B tăng trưởng trong
tủy xương, giai đoạn không cần kích thích của kháng nguyên sau đó biến đổi thành tế
bào plasma (cần sự kích thích của kháng nguyên).
16
Epitop: phần kháng mang tên quyết đònh kháng nguyên được nhận bởi Paratop
của KT hoặc TCR của tế bào T.
nguyên cũng như hợp tác với các tế bào lympho để sản xuất kháng thể đặc hiệu.
Khi kháng nguyên xâm nhập vào biểu mô sẽ tiếp xúc với thực bào, chẵn hạn
đại thực bào. Tế bào này sẽ bắt giữ, nuốt các tế bào có kích thước lớn như vi khuẩn
và tiết enzym phân hủy như proteinaza, lipaza và lyzosym để tiêu hóa chúng, làm
bộc lộ quyết đònh kháng nguyên nằm trong đại thực bào.
Kháng nguyên sau khi xử lý sẽ được đại thực bào dùng để bắt đầu giai đoạn
sớm của quá trình tổng hợp kháng thể. Ở đây đại thực bào đóng vai trò tế bào trình
diện kháng nguyên, gọi tắt là APC (Antigen presenting cell). Có nghóa là chúng sẽ
đẩy kháng nguyên lạ ra bề mặt, tạo điều kiện cho kháng nguyên tiếp cận tế bào T.
17
2.9.6 Tá chất
2.9.6.1 Nguyên lý tác dụng của tá chất
Tá chất là chất phụ gia khi trộn với kháng nguyên sẽ tăng cường đáp ứng
miễn dòch với kháng nguyên đó. Khi gắn với tá chất, kháng nguyên bò phân giải
chậm hơn, phóng thích dần dần trong cơ thể tương tự như khi tiêm kháng nguyên liều
nhỏ nhiều lần. Tá chất tăng cường đáp ứng miễn dòch bằng cách kích thích đại thực
bào làm nhiệm vụ thực bào hoặc kích thích tế bào T và B. Tá chất là những chất trơ
khó phân giải như dầu, paraphin, hydroxyt nhôm, …
Cơ chế tác động của tá chất dùng trong vacxin được giải thích như sau:
Tá chất có tác dụng gây viêm, kích thích quá trình thực bào giúp quá trình đáp
ứng miễn dòch xảy ra mạnh hơn.
Dung dòch keo phèn dùng làm chất bổ trợ được điều chế phức tạp hơn.
b. Nhóm nhũ dầu
Ở dạng nhũ nước trong dầu thì kháng nguyên nằm trong hạt nước trong dung
dòch dầu sẽ có hiệu lực tốt hơn khi kháng nguyên nằm tự do trong nước ở dạng nhũ