1
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình hoàn thành đồ án tốt nghiệp chuyên ngành quản lý đất
đai và trong suốt thời gian thực tế tại Ủy ban nhân dân xã Hát Môn- huyện Phúc
Thọ- thành phố Hà Nội, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến:
-
Các thầy, cô giáo trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã tận tâm
giảng dạy, truyền thụ cho em những kiến thức bổ ích trong suốt thời gian theo học
-
tại trường.
Toàn thể thầy giáo, cô giáo giảng viên Khoa Quản Lý Đất Đai trường Đại học Tài
nguyên và Môi trường Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ em trong quá trình
-
hoàn thành đồ án tốt nghiệp.
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến cô giáo: Th.s Nguyễn Thị Thu Hương
người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, chỉ dạy và dẫn dắt em trong suốt thời gian
-
hoàn thành đồ án tốt nghiệp.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến ban lãnh đâọ, cán bộ chuyên môn Phòng
địa chính UBND xã Hát Môn đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em, cung cấp những
thông tin, tài liệu cần thiết và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để em hoàn thành
được đồ án tốt nghiệp.
Với điều kiện tời gian có hạn cũng như kinh nghiệm còn hạn chế của một
CT-TTg
Chỉ thị Thủ tướng
CV- CP
Công văn Chính phủ
GCN
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất.
NĐ- CP
Nghị định Chính phủ
NĐ- UBTVQH
Nghị định Ủy ban Thường vụ Quốc hội
QĐ- BTNMT
Quyết định Bộ Tài nguyên Môi trường
QĐ- UBND
Quyết định Ủy ban nhân dân
QĐ- TTg
MỤC LỤC
4
DANH MỤC BẢNG
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là điều kiện tồn tại
và phát triển của con người và các sinh vật khác. Đất đai là sản phẩm của tự nhiên,
là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì có thể thay thế được, là một trong những thành
phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư, xây dựng
công trình văn hoá, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, là yếu tố cấu thành lãnh
thổ của mỗi quốc gia, gắn liền với lịch sử dân tộc và tình cảm của con người trong
xã hội. Đất đai có những tính chất đặc trưng về vị trí cố định trong không gian,
không thể di chuyển như các loại hàng hóa tư liệu sản xuất khác, đất đai có đặc
trưng về số lượng (diện tích luôn là một con số nhất định mà con người không thể
làm cho nó tăng thêm). Chính những đặc điểm này đã tạo nên sự khác biệt giữa đất
đai với các tư liệu sản xuất khác.
Trong thực tế hiện nay, nước ta đang trở mình mạnh mẽ, xu thế hội nhập
toàn cầu, sự phát triển của quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa đang diễn ra trên
thế giới. Điều này làm cho việc phân bố đất đai cho các ngành, cho các mục đích
khác nhau ngày càng trở nên khó khăn, đẩy nhu cầu đất đai tăng lên, quan hệ đất
đai phức tạp và luôn biến động nên việc quản lý còn nhiều bất cập. Trong khi các
chủ sử dụng đất chỉ quan tâm đến lợi ích lâu dài dẫn đến nhiều tranh chấp đất đai
xảy ra, tình trạng sử dụng đất không đúng quy họach.
Đứng trước những vấn đề như vậy, đảng và nhà nước đã nhiều lần thay đổi
và bổ sung các chính sách pháp luật đất đai nhằm đưa công tác quản lý nhà nước về
Tìm hiểu và đánh giá công tác đăng ký đất đai cấp GCN quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ở xã Hát Môn- huyện Phúc Thọ-
-
Thành phố Hà Nội.
Phân tích những nguyên nhân và tồn tại trong công tác đăng ký đất đai cấp GCN.
Đánh giá thuận lợi khó khăn của công tác cấp GCN.
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để đẩy nhanh công tác cấp GCN quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn xã Hát Mônhuyện Phúc Thọ- thành phố Hà Nội.
6
2.2. Yêu cầu
-
Nắm vững luật đất đai, các thông tư, nghị định và những quy định của pháp
luật đất đai hiện hành và các quyết định của UBND thành phố và huyện có liên
-
quan.
Thu thập đầy đủ tài liệu và số liệu về việc giao đất, cấp GCN trên địa bàn.
Số liệu điều tra thu thập phải khách quan, trung thực và chính xác.
Đưa ra những đề xuất, kiến nghị phải phù hợp, có tính khả thi với điều kiện thực tế
của địa phương
Tình hình quản lí, sử dụng đất đai.
-
Kết quả thực hiện công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
-
Đánh giá những khó khăn thuận lợi trong công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
1.4.
Phương pháp nghiên cứu
1.4.1. Phương pháp điều tra
Phương pháp này nhằm thu thập các số liệu, tư liệu cần thiết phục vụ cho
việc nghiên cứu. Công tác này được thực hiện qua hai giai đoạn:
8
-
Điều tra nội nghiệp: Nhằm thu thập các số liệu, thông tin cần thiết thông qua
các phòng, ban trong huyện, các phương tiện như sách, báo, mạng Internet… Các số
liệu thu thập được bao gồm: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên
cứu, hiện trạng sử dụng đất đai, tình hình quản lý và sử dụng đất của huyện,…
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý
Xã Hát Môn nằm về phía Đông của huyện Phúc Thọ, cách thị trấn Phúc Thọ
12km. diện tích tự nhiên của xã là 433.59 ha, chiếm 3,7% diện tích tự nhiên của
huyện Phúc Thọ. Ranh giới của xã giáp các đơn vị hành chính sau:
-
Phía Đông giáp xã Trung Châu, xã Thọ An thuộc huyện Đan Phượng.
Phía Tây giáp xã Thượng cốc.
Phía Nam giáp xã Thanh Đa, xã Ngọc Tảo.
Phía Bắc giáp xã Vân Nam
Tuy xã Hát Môn nằm xa trung tâm huyện Phúc Thọ nhưng vị trí xã cách
quốc lộ 32khoảng 6 km và cách TL 417 hơn 1 km. Xã Hát Môn chỉ cách trung tâm
thành phố Hà Nội hơn 20km nên xã có nhiều thuận lợi trong việc lưu thông hàng
hoá ra thành phố Hà Nội và việc phát triển kinh tế xã hội cũng thuận lợi.
2.1.1.2.
Địa hình, địa mạo
Hát Môn nằm trong vùng trọng điểm của phân lũ nên địa hình tương đối
phức tạp. Khu dân cư được tôn cao để tránh nước, đồng ruộng có địa hình lòng chảo
và bãi tương đối bằng phẳng. Nhìn chung địa hình của xã có xu hướng nghiêng từ
Đông Bắc sang Tây Nam. Độ cao so với mặt nước biển trung bình từ 9 - 12m.
Địa hình xã Hát Môn thích hợp cho vùng sản xuất nông nghiệp, các trang trại
VAC tập trung và vùng sinh thái.
10
Đầu nguồn của dòng sông Đáy xuất phát từ xã Hát Môn, do đó có chế độ
thuỷ văn rất khác biệt. Mùa mưa sông Đáy có dòng chảy lớn, mùa cạn trở thành
dòng sông khô.
11
Nguồn nước ngầm đang được người dân khai thác sử dụng, chất lượng đảm
bảo cho sinh hoạt.
Ngoài ra, trên địa bàn xã còn có hệ thống ao, hồ dùng vào nuôi cá cũng góp
phần rất lớn vào việc ổn định chế độ thuỷ văn của xã.
2.1.1.5.
Các nguồn tài nguyên
a) Tài nguyên đất
Hát Môn có tổng diện tích tự nhiên là 433,59 ha. Đất nông nghiệp có 254,02
ha chiếm 58,59% diện tích đất tự nhiên; Đất phi nông nghiệp 179,57 ha, chiếm
41,41% diện tích tự nhiên.
Theo kết quả điều tra xây dựng bản đồ đất tỷ lệ 1/10.000 của huyện, thì xã
Hát Môn huyện Phúc Thọ có các loại đất chính sau:
∗
Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng (Pf)
Chiếm khoảng 35% tổng diện tích đất canh tác, phân bố chủ yếu ở vùng
trung tâm xã và chạy dọc theo kênh Nam. Đất thường hình thành ở địa hình cao hơn
các loại phù sa khác. Do các chất kiềm và kiềm thổ bị rửa trôi, sắt nhôm tích tụ tạo
nên các tầng loang lổ đỏ vàng. Đất có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt
nhẹ, phản ứng đất chua vừa. Có thể thâm canh tăng vụ trên loại đất này nếu được
tưới tiêu chủ động.
lưu lượng nước được điều chỉnh, thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp.
-
Nguồn nước ngầm: đã được nhân dân trong xã sử dụng tương đối tốt, chất
lượng khá đảm bảo đặc biệt là nước sạch, nước ngọt và mát, tuy nhiên trong tương
lai phải chú ý bảo vệ nguồn nước chống sự ô nhiễm.
c)Tài nguyên nhân văn
Nhân dân Hát Môn huyện Phúc Thọ có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời
mang đậm nét văn hoá của đồng bằng châu thổ sông Hồng. Mỗi thôn có sự xuất
hiện sớm muộn khác nhau, song nhân dân trong địa bàn luôn thể hiện tinh thần
tương thân, tương ái, vượt qua khó khăn thử thách trong công cuộc xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.
Trong xã có đền thờ Hai Bà Trưng đã được công nhận là di tích lịch sử cấp
quốc gia, bảo tồn và đề nghị xếp hạng di tích văn hóa (ngôi đền nằm trên bờ cửa
sông Hát, sau do sông đổi dòng nên đền đã ở sâu vào đất liền. Đền thờ Hai Bà
Trưng ở Hát Môn là một quần thể di tích kiến trúc nghệ thuật độc đáo được xây
dựng ở phía Bắc làng cổ trên một khu đất có thế long chầu hổ phục, phía trước là gò
con rùa và sông Hát chảy từ bên hữu sang bên tả mang nghĩa đem dòng sinh lực từ
dương về âm để muôn loài, muôn vật trong không gian này phát sinh, phát triển.
13
Hát Môn huyện Phúc Thọ cũng là nơi giữ gìn các phong tục tập quán của
người Việt, các thôn trong xã đều có đình chùa, miếu mạo để thờ cúng đức Thành
Hoàng Làng, tế lễ thần linh và tổ chức lễ hội.
Với lịch sử văn hiến, người dân trong xã cần cù, sáng tạo trong lao động sản
xuất; anh dũng kiên cường trong đấu tranh và trong công cuộc đổi mới. Vì vậy,
nhân dân xã Hát Môn huyện Phúc Thọ đã được Đảng, Nhà nước, cấp trên ghi nhận
xã trong những năm tới sẽ bị tác động mạnh mẽ. Do vậy khi quy hoạch sử dụng đất
cần chú ý tới việc bảo vệ môi trường.
14
-
Môi trường đất
Môi trường đất của xã Hát Môn hiện nay chưa bị ô nhiễm nhưng nó đang bị
đe dọa bởi việc sử dụng không hợp lý phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật và kích
thích sinh trưởng. Ngoài ra, việc canh tác thiếu hợp lý các loại cây trồng, chất thải
từ các hoạt động sinh hoạt, công nghiệp, dịch vụ chưa được xử lý thích hợp đang là
mối đe dọa lớn đối với môi trường đất.
Để phát triển bền vững và đảm bảo sức khoẻ cho người dân, trong thời gian
tới cần xây dựng hệ thống cấp nước sạch, tiếp tục đẩy mạnh các biện pháp bảo vệ
môi trường sinh thái. Chú trọng phát triển hệ thực vật xanh, có chính sách khuyến
khích nhân dân thay đổi nếp sống sinh hoạt, giữ gìn vệ sinh sạch sẽ trong từng thôn
xóm và cộng đồng.
2.1.2.
Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội.
2.1.2.1. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Thực hiện công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, chính quyền xã
Hát Môn, kinh tế - xã hội của xã đã có những chuyển biến tích cực và dần đi vào thế
ổn định, phát triển. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện giai đoạn 2010 -2014 đạt
11,05%/năm. Trong giai đoạn này nông nghiệp giảm 0,4 %/năm, công nghiệp- xây
dựng tăng 7,4 %/năm và thương mại- dịch vụ tăng 1,2%/năm. Tổng giá trị sản xuất
phẩm, mặc dù hàng năm xã phải chuyển đổi một phần diện tích đất cho xây dựng
cơ sở hạ tầng và đất ở cho nhân dân. Song diện tích đất gieo trồng vẫn luôn đảm
bảo, đạt kế hoạch hàng năm đề ra.
Những năm qua đã áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống, thâm canh và
làm tốt công tác bảo vệ thực vật nên năng suất cây trồng tăng nhanh, nhất là năng
suất lúa. Năm 2014 tổng Diện tích gieo trồng cả năm 706 ha, trong đó vụ đông
180ha đạt 100% kế hoạch, vụ xuân 254ha đạt 100% kế hoạch, vụ mùa 272ha đạt
100% kế hoạch. Diện tích cây trồng: Lúa 324ha, ngô 130 ha, đậu tương 145ha, rau
màu và cây ăn quả 107ha.
- Năng suất cây lúa 63,5 tạ/ha, so với cùng kỳ tăng 2,4%, cây đậu tương 20
tạ/ha, so với cùng kỳ tăng 11%, cây ngô 55 tạ/ha, cây rau màu năng suất về giá trị
16
đạt 40 triệu đồng/ha.Tổng thu trồng trọt đạt 31,7 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 2,9%;
trong đó thu về lương thực đạt 3078 tấn quy về giá trị đạt 18,9 tỷ đồng, thu về giá trị
rau màu, cây ăn quả, dịch vụ nông nghiệp đạt 12,8 tỷ đồng.
∗
Chăn nuôi:
Chăn nuôi có xu hướng giảm tại thời điểm 30/12/2014, đàn lợn có 2981 con
(trong đó đàn lợn nái 385 con), đàn bò 84 con, đàn gia cầm 43750 con, đàn chó trên
2000 con, diện tích nuôi thả cá 12,8ha. So với cùng kỳ đàn lợn giảm 1,2%, đàn bò
tăng 9%, đàn gia cầm tăng 17%.
Tổng thu giá trị Nông nghiệp 47,7 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 2,5%.Nhìn
chung, sản xuất nông nghiệp ở Hát Môn huyện Phúc Thọ trong thời gian qua cũng
còn gặp những khó khăn đáng kể: thời tiết biến động thất thường ảnh hưởng đến
năng suất cây trồng, vật nuôi; dịch bệnh gia súc, gia cầm biến động phức tạp; thị
2.1.2.3. Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
a) Dân số.
Tổng dân số xã Hát Môn huyện Phúc Thọ năm 2014 có 8450 khẩu, với 1676
hộ gia đình, cư trú tại các thôn. Mật độ dân số 19,48 người/km2. Tình hình biến
động dân số được thể hiện qua bảng 3.1. Qua bảng 3.1 ta thấy xã Hát Môn có tỷ lệ
phát triển dân số đều đặn, tăng không quá cao. Để đạt được ngưỡng đó UBND xã
cùng chi hội phụ nữ đã tuyên truyền công tác dân số kế hoạch hóa gia đình đều đặn
và thường xuyên. Cùng với sự hưởng ứng nhiệt tình của nhân dân trong xã tỷ lệ gia
tăng dân số năm đã giảm từ 1,02% (năm 2010) xuống còn 1,00% (năm 2014).
Bảng 2.1. Tình hình biến động dân số giai đoạn 2010- 2014
Các chỉ tiêu
ĐVT
Năm
2010
2011
2012
2013
2014
1. Tổng số nhân khẩu
Người
4137
4172
4191
4204
2. Tỷ lệ phát triển dân số
%
1,02
1,01
1,01
1,01
1,00
3. Tổng số hộ
Hộ
1587
1601
3312
3341
3387
3450
-Lao động phi nông nghiệp
Người
3201
3229
3237
3244
3295
(Nguồn: UBND xã Hát Môn)
b) Lao động, việc làm
∗ Lao động.
Theo thống kê, năm 2014 xã Hát Môn có 6745lao động, chiếm 79,81% dân
số, trong đó:
-
Nhân
khẩu
(người)
Tổng số
lao động
(người)
Lao
động
nông
nghiệp
(người)
Lao động
phi nông
nghiệp
(người)
19
1
Thôn 1
168
617
261
220
4
Thôn 4
178
930
631
324
307
5
Thôn 5
197
941
672
415
8
Thôn 8
179
948
761
338
423
9
Thôn 9
182
826
685
318
367
10
Tổng
làm thuê không ổn định, bị bóc lột sức lao động mà tỷ lệ lao động được qua đào tạo
vẫn còn thấp nên vấn đề đào tạo lao động cần phải được quan tâm và chú trọng nếu
không tình trạng thiếu việc làm nhất là đối với thanh niên, cũng như lực lượng nông
nhàn sẽ là vấn đề nan giải cần quan tâm trong thời gian tới.
*
-
Cơ cấu lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động:
Hát Môn có xu hướng giảm nhanh cơ cấu lao động nông – lâm – ngư nghiệp, tăng
cơ cấu lao động công nghiệp – xây dựng và thương mại - dịch vụ. Cụ thể:
20
+ Cơ cấu lao động nông – lâm – ngư nghiệp giảm từ 24,1% năm 2010 xuống
còn 22,5% vào năm 2014,
+ Cơ cấu lao động công nghiệp – xây dựng tăng từ 23,0% năm 2010 lên
35,8% năm 2014,
+ Cơ cấu lao động thương mại – dịch vụ tăng từ 38,9% năm 2010 lên 42,7%
năm 2014.
∗ Việc làm và thu nhập.
Việc làm: Trong những năm gần đây công tác đào tạo nghề, giải quyết việc
làm, thực hiện chăm lo đến các đối tượng chính sách xã hội; đời sống nông dân từng
bước cải thiện; Thực hiện bước đầu có hiệu quả về hỗ trợ đào tạo nghề, xuất khẩu
lao động, phát triển thị trường lao động... (thông qua các hoạt động vay vốn với lãi
suất thấp từ quỹ quốc gia), giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, giảm dần
đến mức thấp nhất số người không có việc làm, thiếu việc làm, ổn định và nâng cao
đời sống của nhân dân trong huyện; công tác khuyến nông, khuyến công được quan
Hát Môn là xã làm nông nghiệp là chủ yếu nên hệ thông kênh mương, thoát
nước có ý nghĩa khá là quan trọng trong việc tưới tiêu.
Hiện tại, Hát Môn có 10 trạm bơm với tổng công suất 8.240 m³/h. Các trạm
bơm trên chỉ tưới chủ động cho 154/234 ha (chiếm 65,81% diện tích canh tác) và
tiêu 154 ha (chiếm 65,81% diện tích canh tác). Các trạm bơm này không đủ đáp ứng
cho diện tích canh tác của xã nên cần phải đầu tư xây dựng trạm bơm mới.
Hệ thống kênh mương do xã quản lý có 27,2 km. Chiều dài kênh mương đã
được kiên cố hòa là 7,2 km (chiếm 26,47%); còn lại 20 km ( chiếm 73,53%) là
mương đất.
c) Hệ thống điện
Hệ thống điện trên toàn xã được xây dựng ngày càng hoàn chỉnh và đi vào
ổn định, đảm bảo nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Toàn xã có 6 trạm
biến áp với tổng công suất 1.630 KVA với tổng chiều dài 21,41 km, toàn bộ là
đường dây hạ thế. Tuy nhiên chỉ có 4,40 km ( chiếm 20,55%) đường dây vẫn tốt,
còn lại 17,01 km ( chiếm 79,45%) đường dây đã xuống cấp, cần được cải tạo.
d) Cơ sở giáo dục đào tạo
Hệ thống giáo dục trên địa bàn hiện có: 01 nhà trẻ, 01 trường tiểu học, 01
trường trung học cơ sở. Công tác chăm lo sự nghiệp giáo dục trong những năm qua
luôn là mục tiêu chính và được đặt lên hàng đầu.Việc dạy và học thường xuyên
được cải tiến, chất lượng dạy và học đạt kết quả tốt.Công tác khuyến học đã đi vào
nề nếp, có tác dụng động viên các cháu học tập, nhất là các cháu học sinh nghèo học
giỏi.
22
Ngoài chăm lo cho sự nghiệp giáo dục phổ thông, địa phương còn luôn quan
tâm đến giáo dục thường xuyên, giáo dục cộng đồng, cán bộ từ xã đến các thôn
23
cơ sở hạ tầng kỹ thuật đáp ứng nhu cầu cho các hoạt động thể dục thể thao của nhân
dân.
g)
Bưu chính viễn thông
Xã có 1 điểm bưu điện văn hóa, đã được kết nối Internet đến trung tâm xã,
diện tích 100 m², ở gần chợ.
Tỷ lệ hộ có sử dụng điện thoại (cố định và di động) đạt 100%. Tỷ lệ số thôn
có hệ thống đài truyền thanh đạt 100%. Tỷ lệ số hộ có máy thu hình là 98%.
h) Chợ nông thôn
Xã có 1 chợ, diện tích mặt bằng 5.900 m², là nơi giao thương chủ yếu của
người dân địa phương và vùng lân cận. Tại chợ hiện có 113 hộ cá thể kinh doanh,
trong đó có 53 hộ đã đăng ký kinh doanh.
Trong năm 2014, được sự quan tâm của UBND huyện, địa phương đã đầu tư
cải tạo nâng cấp chợ nhưng chưa đạt tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng, chợ chỉ có 60 ki
ốt bán hàng và bãi xe, thiếu các hạng mục cơ sở vật chất thiết yếu như công trình vệ
sinh, hệ thống cấp điện...
Trong thời gian tới cần bố trí thêm quỹ đất và xây dựng chợ mới với đầy đủ
các hạng mục cơ sở vật chất cần thiết như: các ki ốt bán hàng, công trình vệ sinh
công cộng, công trình thu gom rác thải, hệ thống phòng cháy chữa cháy nhằm phục
vụ nhu cầu sinh hoạt của nhân dân trong xã.
2.1.4. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường
∗
Thuận lợi
- Xã Hát Môn cách QL32 khoảng 6km. Với vị trí như trên, xã có nhiều lợi
Khó khăn
- Cơ sở hạ tầng còn chưa được đầu tư đồng bộ, một số công trình như giao
thông, thủy lợi, điện, nước... Giao thông và thủy lợi nội đồng phần lớn chưa được
cứng hóa, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế và phát triển xã
hội.
- Tiến độ thực hiện các dự án còn chậm, công tác chuẩn bị đầu tư xây dựng
chưa đảm bảo trình tự thủ tục nên trong quá trình thi công phải bổ sung, điều chỉnh.
25
- Tiềm lực kinh tế chưa mạnh, vốn tích lũy chưa có nhiều nên hạn chế sự chủ
động đầu tư của xã và người dân trong phát triển sản xuất.
- Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng, trình độ dân trí thấp, tiếp cận
kinh tế thị trường, sản xuất hàng hóa còn nhiều hạn chế.
- Vấn đề ô nhiễm môi trường tuy chưa bức xúc nhưng đã có những biểu hiện
ô nhiễm cục bộ, cần có các giải pháp đồng bộ trong tương lai.
- Hệ thống thủy lợi chưa được kiên cố hóa đồng bộ nên hiệu quả phục vụ sản
xuất nông nghiệp thấp.
∗
Đánh giá về phát triển kinh tế gây áp lực trong lĩnh vực đất đai
- Kinh tế của xã trong thời gian tới sẽ phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp và tăng trong lĩnh vực tiểu thủ công
nghiệp, xây dựng cũng như thương mại dịch vụ. Sự chuyển dịch cơ cấu như vậy đòi
hỏi phải bố trí quỹ đất cho các lĩnh vực này, chuyển mục đích sử dụng một phần lớn
quỹ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp.
- Sự phát triển kinh tế theo mô hình nông thôn mới sẽ hình thành các trung
tâm phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, là tiền đề cho việc hình thành các điểm dân