Những biến đổi của nguồn nước ngầm do tác động của các hoạt động kinh tế kỹ thuật - Pdf 20

Đánh giá hiện trạng khai thác nước dưới đất khu vực Gò Vấp – Hóc Môn
LỜI MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm phát triển mạnh mẽ
về chính trò, kinh tế, văn hoá và xã hội của cả nước. Trong đó khu vực nghiên cứu
bao gồm Hóc Môn và Gò Vấp là khu vực mới phát triển trong những năm gần đây,
thu hút rất nhiều lao động và dân cư đến sinh sống, làm việc. Sự phát triển này đòi
hỏi được đáp ứng về nhiều mặt, trong đó nhu cầu về cung cấp nước cho ăn uống,
sinh hoạt và sản xuất là rất quan trọng.
Ở thành phố Hồ Chí Minh, nước dưới đất tồn tại trong các đòa tầng chứa
nước (Holocen, Pleistocen, Pliocen, Miocen). Ở một vài nơi chất lượng của nguồn
nước đang biến đổi theo chiều hướng xấu, nước ngầm bò nhiễm mặn, nhiễm phèn
và nhiễm bẩn, do đó không thích hợp cho cung cấp nước. Trong khi nguồn bổ cấp
nước ngầm Tp. Hồ Chí Minh cho đến nay vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ thì
theo tài liệu quan trắc mực nước nhiều năm đã chỉ ra rằng mực nước ngầm đang bò
hạ thấp tại một số nơi trong thành phố, đặc biệt là những khu công nghiệp và
những khu vực mà hệ thống cung cấp nước sinh hoạt chưa có, nhân dân phải tự
khai thác lấy.
Chính vì những lý do nêu trên, đề tài được nêu ra nhằm góp phần giải quyết
một số vấn đề liên quan đến việc biến đổi về lượng cũng như chất lượng nước dưới
đất do các hoạt động kinh tế kỹ thuật gây ra và đưa ra một số kiến nghò, biện pháp
hợp lý để giải quyết việc sử dụng nước dưới đất khu vực trên.
II. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA
ĐỀ TÀI:
GVHD : PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ 1
SVTH : Nguyễn Thò Ngọc Thùy – MSSV : 30402550
Đánh giá hiện trạng khai thác nước dưới đất khu vực Gò Vấp – Hóc Môn
1. Mục đích:
- Làm rõ hiện trạng khai thác và tình trạng suy giảm chất lượng, trữ lượng nước
dưới đất.
- Đề xuất các biện pháp quản lý bảo vệ và khai thác hợp lý nước dưới đất khu

- Xử lý, thống kê các tài liệu thu thập được.
- Vận dụng các lý thuyết đã học để phân tích và lý giải một số hiện tượng trên.
III./ Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN:
- Ý nghóa khoa học: đề tài góp phần trong việc nghiên cứu hiện trạng khai thác,
sử dụng nước dưới đất, đánh gía sự tác động của hoạt động nhân sinh đến tài
nguyên nước.
- Ý nghóa thực tiễn: kết quả của đề tài là cơ sở khoa học đáng tin cậy để đề
xuất các giải pháp quản lý tài nguyên nước dưới đất cho khu vực Hóc Môn-Gò
Vấp.
GVHD : PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ 3
SVTH : Nguyễn Thò Ngọc Thùy – MSSV : 30402550
Đánh giá hiện trạng khai thác nước dưới đất khu vực Gò Vấp – Hóc Môn
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.1 / VỊ TRÍ ĐỊA LÝ:
- Khu vực nghiên cứu nằm ở phía Tây Bắc TP.HCM, trải dài theo hướng
Đông – Tây. Ranh giới như sau:
a) Quận Gò V ấp :
• Phía Đông giáp quận Bình Thạnh và giáp Quận 12 qua sông Bến Cát, Vàm
Thuật
• Phía Tây giáp Quận 12 qua kênh Tham Lương
• Phía Nam giáp sân bay Tân Sơn Nhất, quận Tân Bình, quận Phú Nhuận,
quận Bình Thạnh
• Phía Bắc giáp Quận 12 qua sông Bến Cát.
b) Huyện Hóc Môn :
• Phía Tây giáp huyện Bình Chánh.
• Phía Đông giáp Quận 12.
• Phía Nam giáp sân bay Tân Sơn Nhất, quận Tân Bình.
• Phía Bắc huyện Củ Chi.
1.2 / ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH:

hợp với trồng lúa vào mùa mưa, rau vào mùa khô.
• Đất phèn tiềm tàng sâu
Diện tích 384 ha (chiếm 20% diện tích tự nhiên của quận), phân bố ven sông
Bến Cát trên dạng đòa hình thấp trũng, được hình thành trên mẫu chất là bồi tích
GVHD : PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ 5
SVTH : Nguyễn Thò Ngọc Thùy – MSSV : 30402550
Đánh giá hiện trạng khai thác nước dưới đất khu vực Gò Vấp – Hóc Môn
phù sa trong đó có vật liệu sinh phèn. Đất có thành phần cơ giới nặng (sét), giàu
hữu cơ đạm, tuy nhiên có những hạn chế chính là:
- Đất dễ bò lầy, khả năng chòu lực kém.
- Đất phèn tiềm tàng nên độ độc sắt, nhôm khá cao khi bò oxyt hóa, ảnh
hưởng đến năng suất cây trồng.
- Nhiễm mặn nhẹ vào các tháng mùa khô. Đất thích nghi cho các cây trồng
chòu nước như lúa, cói, rau muống, đồng thời có thể trồng mía, dừa và một số loại
cây ăn trái khi được lên líp và có bờ cao.
1.4 / ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU:
Khu vực nghiên cứu thuộc khu vực TP.HCM, nằm trong vùng khí hậu nhiệt
đới gió mùa, cận xích đạo với chế độ nhiệt tương đối ổn đònh, quanh năm cao.
Hàng năm có 2 mùa rõ rệt:
- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11
- Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
Hai hướng gió chủ yếu trong năm là hướng Tây Bắc chiếm tần suất 66% và
hướng Đông Nam với tần suất 22%.
Căn cứ theo số liệu khí tượng từ năm 2004 đến 2006 của trạm Tân Sơn Hòa,
TP.HCM nằm trong khu vực nghiên cứu có các đặc trưng về đặc điểm khí hậu như
sau:
a) Nhiệt độ:
Theo số liệu năm 2006 ở trạm Tân Sơn Hòa, nhiệt độ trung bình từ 27 – 28
o
C,

b) Lượng mưa:
GVHD : PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ 7
SVTH : Nguyễn Thò Ngọc Thùy – MSSV : 30402550
Biểu đồ 1.1: Nhiệt độ hàng tháng từ 2004-2006 tại trạm Tân Sơn Hòa
Đánh giá hiện trạng khai thác nước dưới đất khu vực Gò Vấp – Hóc Môn
Tổng lượng mưa trong năm 2006 là 1.798mm, tháng cao nhất là tháng 8 với
lượng mưa 349mm và thấp nhất là tháng 1, không có mưa. Lượng mưa tập trung
chủ yếu vào các tháng 4, 5, 8, 9 và 10, chiếm hơn 76,5% lượng mưa của cả năm.
Lượng mưa tập trung trong thời gian ngắn nên lưu lượng dòng chảy mặt rất lớn tạo
sự xói lở rất phổ biến.
Tổng lượng mưa năm 2006 (1.798mm) so với các năm 2004 (1.783mm) và
2005 (1.742mm) không có sự chênh lệch lớn. Tuy nhiên, có sự thay đổi về tháng có
lượng mưa cao nhất năm 2004 (tháng 7 với 355,9mm), năm 2005 (tháng 10 với
388,6mm) và năm 2006 (tháng 8 với 349mm)
Lượng mưa hàng tháng từ 2004 – 2006 được dẫn ở bảng 1.2
Bảng 1.2: Lượng mưa (mm) hàng tháng từ 2004 – 2006 tại trạm Tân Sơn Hòa
Năm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
2004 0,1 0 0 13,2 263,9 246,8 355,9 201,3 283,7 309,0 97,0 12,7
2005 0 0 0 9,6 143,6 273,9 228,0 146,3 182,9 388,6 264,5 105,4
2006 0 72,7 8,6 212,1 299,2 139,4 168,6 349,0 247,7 256,1 16,1 28,9
(Nguồn Đài khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ)
c) Lượng bốc hơi:
Lượng bốc hơi hàng năm trung bình 1.169mm, cao nhất 1.223,3mm, nhỏ nhất
1.136mm. So với lượng mưa, lượng bốc hơi xấp xỉ 60%.
GVHD : PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ 8
SVTH : Nguyễn Thò Ngọc Thùy – MSSV : 30402550
Biểu đồ 1.2: Lượng mưa hàng tháng từ 2004-2006 tại trạm Tân Sơn Hòa
Đánh giá hiện trạng khai thác nước dưới đất khu vực Gò Vấp – Hóc Môn
Các tháng mùa khô, lượng bốc hơi cao, từ 104,4 - 146,8mm.
Các tháng mùa mưa lượng bốc hơi thấp, từ 64,9 - 88,4mm.

Việc khai thác lợi ích công trình thủy lợi kênh Đông Củ Chi phục vụ sản xuất
nông nghiệp có hiệu quả tạo điều kiện nuôi trồng thủy sản , nước sinh họat cho
Thành phố, mực nước ngầm dâng cao, môi trường khí hậu cải thiện.
1.6.2) Khu vực Gò Vấp :
Về mặt không gian có thể chia mạng thủy văn có liên quan đến khu vực nghiên
cứu thành 2 hệ thống : Hệ thống sông rạch trong diện tích quận Gò Vấp và hệ thống
sông rạch ngoại vi.
* H ệ th ố ng sông r ạ ch nội vi:
Đó là hệ thống sông Bến Cát với tổng chiều dài trên toàn quận là 12km, bề
rộng đạt 60m. Trong hệ thống này tùy theo vò trí phân bố, chúng được gọi là hệ
thống rạch Bến Cát, sông Bến Cát, sông Trường Đay, kênh Tham Lương … và một
số chi lưu chằng chòt quanh chúng.
- Rạch Bến Cát bắt nguồn từ Nam huyện Củ Chi qua huyện Hóc Môn - quận 12,
đđổ nước vào ngã ba Bến Phân, bề rộng dòng chảy từ 40 - 50m, chiều sâu từ 2 - 3m.
Rạch Bến Cát chịu tác động của áp triều, mỗi ngày lên xuống 2 lần - chế độ bán
nhật triều.
Lưu lượng mùa khô 1,5 - 1,7 m
3
/s (đđo ngày 28/4/1998)
Lưu lượng mùa mưa 6,5 - 8,8 m
3
/s (đđo ngày 25/4/1998)
- Sông Bến Cát là sự nối dài của rạch Bến Cát và được tính từ ngã ba sông
Bến Phân, theo hướng Đông Nam đổ nước vào sông Sài Gòn. Bề rộng sông từ 60 -
75m đđến 65 - 85m, sâu từ 4 - 6m ở đđoạn gần ngã ba sông, sâu 7 - 8m ở đđoạn tiếp
nối với sông Sài Gòn. Sông có chế độ bán nhật triều.
GVHD : PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ 10
SVTH : Nguyễn Thò Ngọc Thùy – MSSV : 30402550
Đánh giá hiện trạng khai thác nước dưới đất khu vực Gò Vấp – Hóc Môn
- Sông Trường Đay với chiều dài khoảng 2km, bắt đđầu từ cầu Trường Đay

đô thò hóa nhanh nên có tỷ lệ tăng dân số nhanh trong giai đọan 2001-2003. Bước
sang giai đọan 2004-2006 tỷ lệ tăng dân số đã giảm đáng kể.
GVHD : PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ 11
SVTH : Nguyễn Thò Ngọc Thùy – MSSV : 30402550
Đánh giá hiện trạng khai thác nước dưới đất khu vực Gò Vấp – Hóc Môn
Bảng 1.4: Tình hình tăng dân số quận Gò Vấp và huyện Hóc Môn
từ năm 1999 - 2006
Năm Quận Gò Vấp Huyện Hóc Môn
Năm 2000 331.266 207.591
Năm 2001 345.420 210.358
Năm 2002 372.593 214.952
Năm 2003 412.802 220.337
Năm 2004 443.419
Năm 2005 468.468
Năm 2006 478.033
(Nguồn Cục thống kê TP.HCM)
1.7.2) Kinh tế:
a) Về công nghiệp:
Sản phẩm chủ yếu là các mặt hàng tiêu dùng và tiểu thủ công nghiệp như dệt,
may, thêu, da. Các mặt hàng nước chấm, nước giải khát đang là thế mạnh của
ngành sản xuất chế biến lương thực, thực phẩm của quận. Ngoài ra, các sản phẩm
thủ công mỹ nghệ như chiếu, mành trúc, sơn mài... của Gò Vấp cũng khá nổi tiếng
trên thò trường.
b) Về thương mại – dòch vụ:
Quận có các chợ và các khu phố thương mại lớn như khu thương mại chợ Gò
Vấp, khu phố chợ Tân Sơn Nhất, khu thương mại Hạnh Thông Tây, khu thương mại
dòch vụ An Lộc.
c) Về du lòch:
Khu vực nghiên cứu có nhiều làng hoa, nhà vườn kinh doanh dich vụ du lòch
và nhiều làng nghề.

SVTH : Nguyễn Thò Ngọc Thùy – MSSV : 30402550
Đánh giá hiện trạng khai thác nước dưới đất khu vực Gò Vấp – Hóc Môn
- Gò Vấp : Nước từ hệ thống cấp nước thành phố có chất lượng tốt nhưng rất
hạn chế. Nước từ các giếng khoan ngầm được sử dụng rộng rãi nhờ dễ khai thác và
chi phí thấp nhưng thường không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép sử dụng.
GVHD : PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ 14
SVTH : Nguyễn Thò Ngọc Thùy – MSSV : 30402550
Đánh giá hiện trạng khai thác nước dưới đất khu vực Gò Vấp – Hóc Môn
CHƯƠNG 2 :
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT – ĐỊA CHẤT THỦY VĂN
KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Khu vực Gò Vấp – Hóc Môn nằm trong TP.HCM. Do đó, lòch sử nghiên cứu
ĐC và ĐCTV, đặc điểm ĐC-ĐCTV của quận gắn liền với của thành phố.
2.1/ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT VÀ ĐỊA CHẤT THỦY VĂN:
Dựa vào mức độ, mục đích và thời gian nghiên cứu có thể chia thành hai giai
đọan chính sau:
2.1.1) Giai đọan trước năm 1975:
Giai đoạn này có thời gian lòch sử kéo dài trên một nửa thế kỷ trong hoàn
cảnh thành phố nằm dươí sự kiểm soát của các chế độ thực dân cũ và mới. Sự
nghiệp nghiên cứu ĐCTV được các chuyên gia người Pháp thực hiện đầu tiên gắn
liền với việc nghiên cứu đòa chất, khai thác tài nguyên và xây dựng cơ sở vật chất.
Tiếp sau đó còn có sự tham gia của các nhà nghiên cứu nước ngoài khác (Mỹ,
Nhật) và các tác giả Việt Nam. Công trình nghiên cứu đầu tiên có lẽ là “Lòch sử
cấp nước thành phố Sài Gòn “ của Brenil và Nolleret (1936). Trong thập kỷ 50 có
sự đóng góp của các tác giả Richard.C, Vielard Godon, Brashears với các nội dung
“ Vấn đề nước uống được ở Việt Nam và sự kiểm tra các hệ thống phân phối
công cộng “, “Tầm quan trọng của nước mưa ở Sài Gòn “, “Tiềm năng cấp nước
vùng Sài Gòn-Chợ Lớn “. Trong khoảng những năm từ 1969-1975 còn có ”Phát
hiện nước ngọt ở vùng rừng Sát tỉnh Gia Đònh“ của Anderson H.R, Nguyễn Đình
Viễn và Trònh Thanh Phác. Ngoài ra Rasmusseu còn có bài viết về “Tiềm năng

cũng rất khó khăn trong việc liên hệ và đánh giá mối quan hệ của vùng nghiên cứu
GVHD : PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ 16
SVTH : Nguyễn Thò Ngọc Thùy – MSSV : 30402550
Đánh giá hiện trạng khai thác nước dưới đất khu vực Gò Vấp – Hóc Môn
với miền cung cấp nước và miền thoát của nó. Sự vận dụng các kết quả này vào
việc đánh giá điều kiện đòa chất thủy văn chung của lãnh thổ sẽ rất hạn chế.
2.1.2) Giai đoạn sau năm 1975 :
- Năm 1975 Lê Thạc Xính đã hiệu đính và cho xuất bản tờ bản đồ Đòa chất
thủy văn phần miền Nam tỷ lệ 1:500000 trong đó có vùng nghiên cứu.
- Năm 1980 Phan Đình Điệp và Vương Văn Phổ Danh công bố công trình
“Nước ngầm ở Đồng bằng sông Cửu Long“.
- Từ năm 1978 – 1983, do Trần Hồng Phú chủ biên đã thành lập tờ bản đồ
Đòa chất thủy văn tỷ lệ 1:500.000 toàn Việt Nam. Trong đó thành phố Hồ Chí Minh
nói riêng và quận Gò Vấp – Hóc Môn nói chung được xếp vào rìa bồn actezi của
đồng bằng sông Cửu Long với 3 tầng chứa nước có tuổi là Q
I-III
, N
2
-Q
1
, N
2
.
- Năm 1981 – 1984, Tô Văn Nhụ ( Bộ Xây Dựng ) đã tiến hành khảo sát
thăm dò vùng Hóc Môn với mục tiêu trữ lượng là 50000 m
3
/ngày. Báo cáo đã làm
sáng tỏ phần nào về đặc điểm đòa chất, đòa chất thủy văn của vùng. Về khối lượng
gồm 17 điểm khoan, 12 lỗ khoan bơm hút thí nghiệm cùng nhiều điểm đo đòa vật
lý, đo carota, lấy mẫu thí nghiệm, quan trắc động thái. . . Chiều sâu nghiên cứu từ

- Năm 1991, Liên Đoàn 8 tiếp tục hoàn thành báo cáo kết quả thăm dò sơ bộ
vùng Củ Chi – Hóc Môn do Nguyễn Quốc Dũng làm chủ biên với trữ lượng đã
được hội đồng xét duyệt trữ lượng khoáng sản nhà nước thông qua là:
Cấp A + B : 53.000 m
3
/ngày
Cấp C
1
: 30.000 m
3
/ngày
- Năm 1994, Vũ Văn Nghi chủ biên thành lập báo cáo “Tính trữ lượng nguồn
nước dưới đất cho nhà máy nước Bình Chánh thành phố Hồ Chí Minh. Báo cáo
được Hội đồng xét duyệt trữ lượng khoáng sản nhà nước thông qua với trữ lượng :
Cấp A : 7.400 m
3
/ngày
Cấp B : 17.600 m
3
/ngày
Cấp C
1
: 77.000 m
3
/ngày
Cấp C
2
: 282.000 m
3
/ngày

đáng nhưng thực hiện còn dở dang. Nhưng những công trình nghiên cứu trong giai
đoạn này đóng góp như một màn mở đầu cho giai đoạn sau 30/04/1975. Từ ngày
30/04/1975 về sau là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của công tác nghiên cứu ĐC-
ĐCTV khu vực. Các công trình nghiên cứu thăm dò được sự đầu tư thích đáng của
nhà nước được thực hiện từng bước từ sơ lược đến chi tiết, từ diện đến điểm nên nói
chung đã hệ thống hoá được sự hiểu biết chung của thời đại về đặc điểm ĐC-
ĐCTV của lãnh thổ. Các công trình nghiên cứu ĐC-ĐCTV khu vực thực hiện trong
giai đoạn này chính là nền tảng cho việc thực hiện công tác đo vẽ bản đồ ĐC-
ĐCTV tỷ lệ 1:50.000 sau này.
2.2/ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT:
Theo báo cáo thành lập tờ bản đồ đòa chất công trình và đòa chất thủy văn tỉ
lệ 1:50.000 khu vực thành phố Hồ Chí Minh (do Liên đoàn Đòa chất công trình và
Đòa chất thủy văn miền Nam lập năm 1989), trong vùng nghiên cứu có các mặt cắt
đòa tầng từ Mesozoi đến Kainozoi. Thuộc Mesozoi có các trầm tích Jura giữa hệ
tầng La Ngà (J
2
ln ), trầm tích phun trào Jura trên - Krêta dưới hệ tầng Long Bình
(J
3-
K
1
lb). Thuộc Kainozoi có các trầm tích Neogen, Pleistocen, Holocen .
GVHD : PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ 19
SVTH : Nguyễn Thò Ngọc Thùy – MSSV : 30402550
Đánh giá hiện trạng khai thác nước dưới đất khu vực Gò Vấp – Hóc Môn
a) Giới Mezozoi (MZ)
Các thành tạo Mesozoi trong phạm vi thành phố đó là sự có mặt của các hệ
tầng La Ngà và hệ tầng Long Bình với các đặc điểm thành phần thạch học chủ yếu
như sau :
- Trầm tích Jura giữa hệ tầng La Ngà (J

Bình Khánh. Vùng nâng ở phía Tây Bắc phù hợp với diện phân bố của đới đòa hình
nổi cao Củ Chi – Hóc Môn. Trong đới này cũng còn tồn tại một dải lõm hẹp dọc
theo diện phân bố của kênh An Hạ làm tách ra hai phần gò đồi Củ Chi và gò đồi
thấp Hóc Môn.
b) Giới Kainozoi (KZ):
+ Hệ Neogen –Thống Pliocen (N
2
):
Trong các trầm tích Pliocen đã được xác đònh trong các báo cáo trước đây,
ranh giới trên được xác đònh bởi các bề mặt phong hóa mạnh mẽ của các lớp bột
phân lớp móng gắn kết chắc chứa nhiều kết vón sắt dạng hạt đậu và các ổ kết hạch
cacbonat dạng sederit rắn chắc.
Trong bản thân các trầm tích Pliocen có thể phân ra 2 phụ thống theo đặc
điểm thạch học và ranh giới bề mặt phong hóa : phụ thống Pliocen dưới (
1
2
N
) và
phụ thống Pliocen trên (
2
2
N
).
• Về thành phần độ hạt : bởi vì chúng được thành tạo chủ yếu trong môi
trường lục đòa với biểu hiện cấu trúc nhòp từ thô đến mòn, nhiều nơi phần cuối của
nhòp chỉ là cát mòn, cát bột nằm ngay trên lớp sạn sỏi, cát trung thô nên khả năng
phân cách giữa các lớp yếu, có nơi gần như không phân cách.
• Về các bề mặt phong hóa của các trầm tích Pliocen dưới và trên :
Ranh giới trên của các trầm tích
1

sâu phân bố phân bố của lớp biến đổi trong khoảng 95,5m đến 118m , xu hướng
GVHD : PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ 21
SVTH : Nguyễn Thò Ngọc Thùy – MSSV : 30402550
Đánh giá hiện trạng khai thác nước dưới đất khu vực Gò Vấp – Hóc Môn
chìm dần từ tây bắc về đông nam. Trên tuyến Đông Bắc – Tây Nam chúng cũng
phân bố từ độ sâu 60 – 80 mét ở phía Đông Bắc, 180 – 200 mét ở phía Đông Nam
thành phố. Do hiện tượng biến đổi trầm tích tướng đá cũng như quá trình phong hóa
bóc mòn của giai đoạn sau nên lớp này bò thay đổi bởi lớp cát mòn hay cát trung
thô. Điều đó cho thấy rõ sự liên quan trực tiếp giữa nước trong trầm tích
1
2
N

nước trong trầm tích
2
2
N
.
+ Lớp sét, bột cát nằm trên tầng trên cùng của lớp
2
2
N
được phát hiện ở
độ sâu từ 26m đến 41,5m. Lớp này bò phong hoá laterit khá mạnh. Mức độ ổn đònh
của chúng cũng kém hơn do các quá trình bóc mòn của các giai đoạn phát triển hệ
thống sông Sài Gòn cổ cũng như hiện đại. Điều đó cho thấy nước trong trầm tích
2
2
N
có liên quan trực tiếp với nước chứa trong trầm tích Pleistocen (Q

thước từ 3–7cm với nhiều hình thù méo mó, góc cạnh với khung sắt cứng chắc .
Chiều dày lớp biến đổi từ 2 mét đến hơn 10 mét.
• Lớp 3 : Cát mòn hay cát bột màu xám vàng, xám trắng mà đặc trưng là
vùng Củ Chi , đôi chỗ là bột cát , có chiều dày từ 2 mét đến 5 mét. Lớp 3 là lớp
được Bùi Phú Mỹ (1983) gọi là tầng đất xám tuổi Pleistocen muộn.
Về phía trên chúng bò phủ bất chỉnh hợp bởi các trầm tích Holocen .
+ Hệ Đệ Tứ - Thống Holocen (Q
2
):
Các trầm tích Q
2
được phân ra thành các phân vò đòa tầng với nhiều nguồn
gốc khác nhau :
+ Hệ tầng Bình Chánh: tầng gồm nhiều nguồn gốc khác nhau. Trầm tích
nguồn gốc hỗn hợp sông biển ( am
21
2

Q
bc), tại vết lộ S.1095 ấp Lan Nhì, xã Đông
Thạnh, huyện Hóc Môn thể hiện rõ hai lớp (lớp trên dày 2 m, lớp dưới dày 0.8 m).
+ Hệ tầng Cần Giờ : nguồn gốc sông biển , đầm lầy – biển và một vài thể
nhỏ trầm tích biển Cần Giờ (
32
2

Q
cg). Bề dày chung của tầng tại lỗ khoan 511 là
4.2m.
Chúng phủ bất chỉnh hợp lên các trầm tích

nhỏ với chiều dày từ 3 – 10 mét .
2.3/ ĐẶC ĐIỂM KIẾN TẠO :
Theo báo cáo thành lập tờ bản đồ đòa chất công trình và đòa chất thủy văn tỉ lệ
1:50.000 khu vực thành phố Hồ Chí Minh (do Liên đoàn Đòa chất công trình và Đòa
chất thủy văn miền Nam lập năm 1989), đặc điểm kiến tạo của khu vực như sau :
2.3.1) Cấu trúc :
Khu vực thành phố Hồ Chí Minh nói chung và quận Gò Vấp – Hóc Môn nói
riêng thuộc phần đông bắc trũng Kainozoi Cửu Long, đồng thời cũng là phần tiếp
giáp về phía nam của đới hoạt hóa Mesozoi Đà Lạt qua đứt gãy Bà Ròa – Biên
Hòa. Do vậy vùng này thể hiện rõ hai tầng cấu trúc chủ yếu :
a) Tầng cấu trúc Mesozoi :
Tham gia vào cấu trúc này là các thành hệ lục nguyên hệ tầng La Ngà và
thành hệ trầm tích phun trào hệ tầng Long Bình. Chúng được hình thành vào cuối
GVHD : PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ 24
SVTH : Nguyễn Thò Ngọc Thùy – MSSV : 30402550
Đánh giá hiện trạng khai thác nước dưới đất khu vực Gò Vấp – Hóc Môn
thời kỳ hoạt hoá Mesozoi và kết thúc vào pha xâm nhập phức hệ Đèo Cả – Krêta
muộn. Tầng cấu trúc Mesozoi đóng vai trò là móng cứng rắn của đồng bằng trong
vùng nghiên cứu và là các yếu tố khống chế các trầm tích Kainozoi. Bề mặt phân
bố của tầng không bằng phẳng, chúng bò chia cắt mạnh mẽ bởi các đứt gãy hướng
Tây Bắc – Đông Nam và hướng Đông Bắc – Tây Nam. Các đứt gãy hướng Tây bắc
– Đông Nam là yếu tố gây nên cấu trúc dạng bậc thang của bề mặt móng đã được
nêu ở phần đòa tầng Mezozoi, cũng theo hướng sụp lún của móng chiều dày các
trầm tích Kainozoi tăng lên rõ rệt từ Đông Bắc (Thủ Đức) về Tây Nam (vùng Bình
Chánh). Ngược lại theo hướng Tây Bắc về Đông Nam móng có dạng võng ở phần
trung tâm và nâng lên dần về phía Củ Chi và Duyên Hải.
b) Tầng cấu trúc Kainozoi :
Các thành tạo cấu trúc này phủ bất chỉnh hợp lên tầng cấu trúc Mesozoi
trong đó đã phân ra hai phụ tầng cấu trúc là phụ tầng cấu trúc Neogen và phụ tầng
cấu trúc Đệ Tứ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status