Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp này, em xin chân thành cảm ơn
sự giúp đỡ tận tình của thầy hướng dẫn; các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Địa lý
– Địa chính, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội.
Em xin ghi nhận công lao to lớn của các thầy cô đã dìu dắt chúng em trong suốt
những năm đại học và em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô.
Em xin gửi lời cảm ơn đến các bác, các chú, các anh chị đang công tác
tại UBND Thị trấn Đồng Văn, huyện Duy Tiên, nơi em đã thực tập và thu thập
tài liệu cho khóa luận. Đồng thời, em cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn đến
các thầy cô, các anh chị và các bạn đang học tập và nghiên cứu tại Trung tâm
Nghiên cứu Ứng dụng Viễn thám và Hệ thông tin Địa lý – những người đã giúp
em hoàn chỉnh khóa luận của mình.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
BĐĐH: Bản đồ địa hình
CSDL: Cơ sở dữ liệu
GIS: Geography Information System
HTTTĐL: Hệ thống thông tin địa lý
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
L I C M NỜ Ả Ơ ...........................................................................................................1
CÁC C M T VI T T T TRONG KHÓA LU NỤ Ừ Ế Ắ Ậ ....................................................2
PH N M UẦ ỞĐẦ ........................................................................................................5
1. Tính cấp thiết của đề tài:...........................................................................5
2. Mục tiêu nghiên cứu:.................................................................................6
3. Nhiệm vụ nghiên cứu:...............................................................................6
4. Phương tiện thực hiện:..............................................................................7
5. Cấu trúc của khóa luận:.............................................................................7
CH NG I: D LI U A HÌNH VÀ B N A HÌNHƯƠ Ữ Ệ ĐỊ Ả ĐỒĐỊ ..................................9
DỮ LIỆU GIS ÁP DỤNG CHO HUYỆN DUY TIÊN – TỈNH HÀ NAM
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, HTTTĐL đã và đang được
ứng dụng rất nhiều trong tất cả các ngành, các lĩnh vực. Để đảm bảo cho hai tiện
ích quan trọng của GIS là: hỏi đáp thông tin và tích hợp; phân tích các thông tin,
chúng ta phải xây dựng được một CSDL GIS với cấu trúc và cách tổ chức thông
tin thật hợp lý.
Nguồn dữ liệu chủ yếu để xây dựng CSDL ở nước ta hiện nay là dữ liệu
địa hình, lưu trữ chủ yếu dưới khuôn dạng của phần mềm Microstation “.dgn”.
Tuy nhiên, dữ liệu này thường chỉ sử dụng để thiết kế và in bản đồ mà không thể
dùng làm cơ sở cho việc phân tích không gian, vốn là một trong những thế mạnh
của GIS. Để giải quyết vấn đề này, cần có một quy trình chuyển đổi dữ liệu địa
hình sang dữ liệu GIS. Dữ liệu tạo ra cuối cùng sẽ được quản lý trong một
CSDL chung, thống nhất về mặt định dạng, dễ cập nhật hoặc liên kết với các
CSDL khác.
Mặt khác, cấu trúc đặc thù của dữ liệu địa hình ở dạng “.dgn” hoàn toàn
khác so với dữ liệu GIS. Do đó, quy trình chuyển đổi sẽ tái cấu trúc lại dữ liệu
địa hình và chuyển dữ liệu sang định dạng trong GIS.
Trước đây, ở nước ta, khi công nghệ thông tin còn chưa phát triển, bản
đồ được đo vẽ chủ yếu trên các máy toàn năng lên Diamat. Sau này, khi máy
tính được sử dụng phổ biến trong thành lập và chỉnh lý bản đồ địa hình, phần
mềm Microstation đã được Tổng cục Địa chính quy định sử dụng thống nhất
trong cả nước. Việc ứng dụng quy trình chuyển đổi từ dữ liệu “.dgn” sang dữ
liệu GIS mới chỉ được áp dụng ở nước ta trong vài năm trở lại đây ở các công ty
đo vẽ địa hình. Tuy nhiên, hiện chưa có công bố nào về các quy định chuyển đổi
dữ liệu DGN sang môi trường ArcGIS.
Trong bối cảnh như vậy, tôi đã thực hiện đề tài: “Xây dựng quy trình
chuyển đổi dữ liệu địa hình sang dữ liệu GIS và xây dựng CSDL địa hình cho
3. Nhiệm vụ nghiên cứu:
• Về lý thuyết, đề tài cần thực hiện một số nhiệm vụ sau:
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Khái niệm, đặc điểm, khuôn dạng, cơ sở toán học của bản đồ
địa hình.
Khái niệm CSDL không gian.
So sánh cấu trúc dữ liệu “.dgn” và dữ liệu GIS
• Khảo sát dữ liệu địa hình huyện Duy Tiên và phân loại dữ liệu.
• Xây dựng CSDL GIS (geodatabase) bằng phần mềm ArcGIS cho
huyện Duy Tiên.
• Chuyển đổi dữ liệu địa hình “.dgn” sang CSDL không gian.
• Đánh giá mức độ ứng dụng của CSDL mới tạo và xây dựng một
ứng dụng cụ thể.
4. Phương tiện thực hiện:
• Tài liệu: thư viện, Internet…
• Các phần mềm: Microstation, ArcGIS của Trung tâm CARGIS.
• Dữ liệu: dữ liệu địa hình (“.dgn”) của huyện Duy Tiên.
5. Cấu trúc của khóa luận:
Mở đầu
Chương I: Dữ liệu địa hình và bản đồ địa hình
Trình bày khái niệm, đặc điểm, cơ sở toán học của bản đồ địa hình và
đặc điểm của dữ liệu địa hình trước và sau khi chuyển đổi.
Chương II: Xây dựng CSDL địa hình huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam
Trình bày các bước trong quá trình chuyển đổi dữ liệu, từ phân loại, xếp
lớp cho đến khi chuyển sang CSDL không gian trong GIS.
Chương III: Ứng dụng
Trình bày một ứng dụng cụ thể của CSDL địa hình mới tạo.
Kết luận và kiến nghị
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Phần kết luận nêu ra những kết quả chính và khẳng định tính khả thi của
hạn khu vực được tiến hành đo vẽ và thành lập bản đồ. Tính thời gian quy định
ghi nhận trên bản đồ địa hình hiện trạng của bề mặt Trái đất ở thời điểm tiến
hành đo vẽ. Mục đích sử dụng chi phối nội dung và độ chính xác của bản đồ.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Yếu tố không gian biểu diễn mục đích sử dụng có ảnh hưởng tới việc chọn tỷ lệ
cho bản đồ.
1.1.2. Đặc điểm thành lập và biên tập bản đồ địa hình:
Ở nước ta, bản đồ địa hình được thành lập ở nhiều cơ quan trong nước,
nhưng chủ yếu được sản xuất và thành lập tại Cục đo đạc và Bản đồ Nhà nước,
sau đó là Tổng cục Địa chính, nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường và tại Cục
Bản đồ, Bộ tổng tham mưu thuộc Bộ Quốc phòng. Bộ Tài nguyên và Môi
trường, bên cạnh việc xây dựng cơ sở trắc địa Nhà nước, tiến hành thành lập và
sản xuất các bản đồ cơ bản Nhà nước như Bản đồ địa hình, bản đồ khái quát, các
loại bản đồ và tập bản đồ khác nhau.
Quá trình sản xuất bản đồ địa hình đặc trưng bởi nhiều phương pháp
khác nhau. Song các phương pháp này có thể gộp lại thành 2 phương pháp cơ
bản, đó là phương pháp đo vẽ và phương pháp biên vẽ.
Phương pháp đo vẽ: Là phương pháp đo đạc trực tiếp trên mặt đất hoặc
trên ảnh chup từ mặt đất rồi từ đó thành lập ra bản đồ. Phương pháp này thường
dùng để thành lập bản đồ địa hình tỷ lệ lớn hơn hoặc bằng 1:25.000 (khi đo vẽ
trực tiếp trên mặt đất), 1:50.000 (khi đo vẽ trên ảnh chụp từ mặt đất).
Bản đồ địa hình là kết quả của đo vẽ địa hình trên cơ sở mạng lưới
khống chế trắc địa Nhà nước cấp I, II, III và IV. Hay nói cách khác, mạng lưới
khống chế trắc địa Nhà nước cấp I, II, III và IV phủ trùm toàn quốc là cơ sở để
thành lập hệ thống bản đồ địa hình cho toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Trong
phương pháp này, hình ảnh bản đồ được xây dựng trên cơ sở dữ liệu đo vẽ ảnh
hàng không hoặc quá trình đo vẽ trực tiếp trên mặt đất. Đo vẽ địa hình và trắc
địa ảnh có ý nghĩa rất lớn đối với ngành bản đồ. Các số liệu đo vẽ địa hình mặt
đất và ảnh chụp mặt đất là tài liệu gốc để thành lập bản đồ địa hình tỷ lệ lớn.
Quá trình đo vẽ gồm các giai đoạn sau:
dụng thành lập, biên tập bản đồ và chế bản gốc ra phim trên máy tính (theo
phương pháp hiện đại – tin học).
4 - Giai đoạn chế bản in, in bản đồ kiểm tra và in hàng loạt bản đồ.
5 - Giai đoạn sau khi in bản đồ: tổng kết kỹ thuật, đề ra phương hướng
hoàn thiện bản đồ tiếp theo và giao nộp sản phẩm.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Phương pháp biên vẽ là phương pháp dựa vào bản đồ địa hình tỷ lệ lớn
hơn và tài liệu có liên quan để thành lập bản đồ địa hình tỷ lệ nhỏ hơn. Thường
dùng để thành lập bản đồ địa hình có tỷ lệ nhỏ hơn 1:25.000. Các giai đoạn
thành lập bản đồ địa hình theo phương pháp biên vẽ gồm:
1 - Giai đoạn chuẩn bị: nhận và nghiên cứu nhiệm vụ, thu thập phân tích,
đánh giá tài liệu, nghiên cứu đặc điểm khu vực biên vẽ, các đối tượng, hiện
tượng và mối tương quan giữa chúng trên quan điểm thành lập bản đồ, viết kế
hoạch biên tập để chỉ đạo quá trình thành lập bản đồ, đồng thời viết bản mô tả
khu vực, xác định trình tự sử dụng tài liệu, kỹ thuật thành lập và in bản đồ, xác
định chỉ tiêu tổng quát hóa, đặc điểm lấy bỏ và khái quát các yếu tố nội dung.
2 - Giai đoạn biên vẽ ứng dụng các phương pháp: cơ ảnh, đồ giải, dùng
máy Pantograp, máy quang học, máy điện tử và công nghệ tin học để xây dựng
hình ảnh các yếu tố nội dung trong bản đồ, trong đó phương pháp cơ ảnh và
phương pháp công nghệ tin học hiện nay được sử dụng chủ yếu và rộng rãi. Việc
tổng quát hóa các yếu tố nội dung bản đồ là một vấn đề phức tạp, nó được tiến
hành song song với quá trình biên vẽ các yếu tố nội dung bản đồ; các giai đoạn
tiếp theo giống như ở phương pháp đo vẽ.
So sánh hai phương pháp trên có thể thấy rằng chúng có những điểm
giống và khác nhau. Trong phương pháp đo vẽ, khi nghiên cứu đặc điểm địa lý
khu vực, không chỉ dựa trên các tài liệu đã có mà còn nghiên cứu cả ngoài thực
địa như đo vẽ, điều vẽ ảnh, còn trong phương pháp biên vẽ, khi nghiên cứu đặc
điểm địa lý khu vực chỉ tiến hành trong phòng, dựa trên các tài liệu thu thập
được. Tuy nhiên, cả hai phương pháp trên cùng chung một nguyên tắc tổng quát
hóa các yếu tố nội dung bản đồ, chúng không loại trừ nhau mà bổ sung cho nhau
thị:
Vì mặt đất có rất nhiều yếu tố tự nhiên và xã hội mà bản đồ không thể
biểu thị hết được, nên phải chọn các yếu tố chủ yếu và khái quát các đặc trưng
về hình dạng, số lượng, chất lượng của yếu tố nội dung cho phù hợp với mục
đích và nội dung của bản đồ.
Kết quả của quá trình tổng quát hóa bản đồ được thể hiện rõ khi so sánh
các bản đồ có tỷ lệ khác nhau trên cùng một khu vực. Tỷ lệ bản đồ càng nhỏ,
không gian biểu hiện càng hẹp thì càng cần phải loại bỏ những đối tượng thứ
yếu, ít quan trọng dể làm nổi bật những nét điển hình, quan trọng của khu vực.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Các yếu tố ảnh hưởng tới tổng quát hóa là mục đích, chủ đề, tỷ lệ và đặc điểm
địa lý của lãnh thổ thành lập bản đồ.
Ngoài ba tính chất chung nói trên, bản đồ địa hình còn có một số tính
chất riêng sau:
• Bản đồ địa hình có hệ thống tỷ lệ, cách chia mảnh và đánh số mảnh thống
nhất, có quy trình, quy phạm và ký hiệu chung do Nhà nước ban hành,
nên thuận tiện trong việc sử dụng.
• Bản đồ địa hình có tính hiện đại và tính chính xác cao vì nó được thành
lập từ các tài liệu đo đạc trực tiếp trên mặt đất hoặc trên ảnh chụp từ máy
bay hay trên ảnh chụp từ mặt đất, nên nó đáp ứng được yêu cầu sử dụng
cho tất cả các ngành kinh tế, văn hóa và quốc phòng.
• Bản đồ địa hình là tài lieu cơ bản để thành lập các bản đồ khác. Vì bản đồ
địa hình biểu thị đầy đủ các yếu tố địa lý tự nhiên và kinh tế xã hội với
mức độ chi tiết tương đối như nhau, các yếu tố này phần lớn giữ được
hình dạng, kích thước theo tỷ lệ bản đồ, đồng thời giữ được tính chính xác
hình học của ký hiệu và tính tương ứng địa lý của yếu tố nội dung nên nó
là tài liệu gốc cơ bản để thành lập các bản đồ khác.
(theo Bài giảng Bản đồ Địa hình, PGS.TS. Nhữ Thị Xuân, 2003)
1.1.4. Cơ sở toán học của bản đồ địa hình:
Cơ sở toán học của bản đồ là những yếu tố cơ bản để người sử dụng xác
VN-2000.
Ngày 27/02/2007, Bộ Tài nguyên - Môi trường đã ký quyết định
05/2007/QĐ-BTNMT về sử dụng các tham số tính chuyển giữa Hệ tọa độ quốc
tế WGS-84 và Hệ tọa độ quốc gia VN-2000, trong đó đã công bố 3 tham số dịch
chuyển gốc tọa độ, 3 tham số góc xoay trục tọa độ và hệ số tỷ lệ chiều dài nhằm
phục vụ cho công tác tính chuyển tọa độ và chuyển đổi tọa độ bản đồ qua lại
giữa hai hệ nêu trên.
Hệ quy chiếu và Hệ tọa độ quốc gia VN-2000 có các thông số chính như
sau:
a, Ellipsoid quy chiếu:
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
• Bán trục lớn: a = 6.378.137,000 m
• Độ dẹt: f = 1/298,257223563
b, Điểm gốc tọa độ quốc gia: điểm N00 đặt trong khuôn viên Viện nghiên
cứu Địa chính, đường Hoàng Quốc Việt, Hà Nội.
c, Lưới chiếu tọa độ phẳng cơ bản: lưới chiếu hình trụ ngang đồng góc
UTM quốc tế.
d, Chia múi và phân mảnh hệ thống bản đồ cơ bản: theo hệ thống lưới
chiếu hình trụ ngang đồng góc UTM quốc tế, danh pháp tờ bản đồ theo hệ thống
hiện hành có chú thích danh pháp UTM quốc tế.
1.2. Dữ liệu địa hình và cơ sở dữ liệu không gian (geodatabase):
1.2.1. Dữ liệu địa hình trong GIS:
Dữ liệu địa hình trong GIS bao gồm hai phần cơ bản là dữ liệu đồ họa
hay còn gọi là dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính. Mỗi một loại dữ liệu có
đặc trưng riêng và chúng khác nhau về yêu cầu lưu trữ, xử lý và hiển thị.
1.2.1.1. Dữ liệu đồ họa (dữ liệu không gian):
Là những mô tả số của đối tượng mặt đất. Chúng bao gồm tọa độ, quy
luật và các ký hiệu dùng để xác định hình ảnh cụ thể của bản đồ trong một
khuôn dạng hiểu được của máy tính. Hệ thông tin địa lý dùng các dữ liệu bản đồ
để tạo ra một bản đồ hay hình ảnh bản đồ trên màn hình hoặc trên giấy thông
một cell tương ứng với một diện tích vuông trên thực tế. Độ lớn của cạnh ô
vuông này còn được gọi là độ phân giải của dữ liệu.
Dữ liệu raster có dung lượng rất lớn nếu không có cách lưu trữ thích
hợp. Có rất nhiều giá trị giống nhau, do đó có nhiều phương pháp nén để tập dữ
liệu trở nên nhỏ. Thông thường người ta hay dùng các phương pháp nén TIFF,
RLE, JPEG, GIF…
Một phương pháp khác để biểu diễn dữ liệu dưới dạng raster là phương
pháp biểu diễn ô chữ nhật phân cấp. Trong cách biểu diễn này người ta chia diện
tích vùng dữ liệu ra thành các ô chữ nhật không đều nhau theo cách lần lượt chia
đôi các cell bắt đầu từ hình chữ nhật lớn nhất, bao phủ diện tích dữ liệu. Quá
trình cứ tiếp tục đến khi nào các cell đủ nhỏ để đạt được độ chính xác cần thiết.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
2. Cấu trúc vector:
Trong cấu trúc vector, thực thể không gian được biểu diễn thông qua các
phần tử cơ bản là điểm, đường, vùng và các quan hệ topo (khoảng cách, tính liên
thông, tính kề nhau…) giữa các đối tượng với nhau.
Vị trí không gian của thực thể không gian được xác định bởi tọa độ trong
một hệ tọa độ thống nhất toàn cầu.
Điểm dùng cho tất cả các đối tượng không gian mà được biểu diễn như
một cặp tọa độ (X,Y). Ngoài giá trị tọa độ (X,Y), điểm còn thể hiện kiểu điểm,
màu, hình dạng và dữ liệu thuộc tính đi kèm. Do đó trên bản đồ, điểm có thể
được biểu diễn bằng ký hiệu hoặc text.
Đường dùng để biểu diễn tất cả các thực thể có dạng tuyến, được tạo nên
từ 2 hoặc hơn cặp tọa độ (X,Y). Ví dụ đường dùng để biểu diễn hệ thồng đường
giao thông, hệ thống cấp thoát nước… Ngoài tọa độ, đường còn có thể bao hàm
cả góc quay tại đầu mút.
Vùng là một đối tượng hình học hai chiều. Vùng có thể là một đa giác
đơn giản hay hợp của nhiều đa giác đơn giản.
3. So sánh raster và vector:
Bảng 1
- Bản đồ hiển thị không đẹp
- Các bài toán mạng rất khó
thực hiện
- Khối lượng tính toán để biến
đổi tọa độ là rất lớn
- Cấu trúc dữ liệu phức tạp
- Chồng xếp bản đồ phức tạp
- Các bài toán mô phỏng
thường khó giải vì mỗi đơn vị
không gian có cấu trúc khác
nhau
- In ấn đắt tiền
- Kỹ thuật đắt tiền
- Các bài toán phân tích và các
phép lọc khó thực hiện
1.2.1.2. Dữ liệu thuộc tính:
Là những mô tả về đặc tính, đặc điểm và các hiện tượng xảy ra tại vị trí
địa lý xác định mà chúng khó hoặc không thể biểu thị trên bản đồ được. Có 4
loại dữ liệu thuộc tính:
• Đặc tính của đối tượng: liên kết chặt chẽ với các thông tin đồ thị, các dữ
liệu này được xử lý theo ngôn ngữ hỏi đáp cấu trúc (SQL) và phân tích.
Chúng được liên kết với các hình ảnh đồ thị thông qua các chỉ số xác định
chung, thông thường gọi là mã địa lý và được lưu trữ trong cả hai mảng
đồ thị và phi đồ thị. HTTTĐL còn có thể xử lý các thông tin thuộc tính
riêng rẽ và tạo ra các bản đồ chuyên đề trên cơ sở các giá trị thuộc tính.
Các thông tin thuộc tính này cũng có thể được hiển thị như là các ghi chú
tren bản đồ hoặc là các tham số điều khiển cho việc lựa chọn hiển thị các
thuộc tính đó như là các ký hiệu bản đồ.
• Dữ liệu địa l hay còn gọi là dữ liệu không gian: mô tả các sự kiện hoặc
hiện tượng xảy ra tại một vị trí địa lý xác định. Không giống các thông tin
Mô hình geodatabase là mô hình dựa vào topology của dữ liệu và hiện được
dụng rộng rãi trong các phần mềm GIS, trong đó có ArcGISS. Trong mô hình
nay, các đối tượng, hiện tượng và quá trình được mô tả thông qua các đối tượng
(feature). Các đối tượng này được tập họp thành các lớp đối tượng (feature
class) và được cơ cấu thành các tệp dữ liệu lớn (Feature Data Set). Mô hình
Geodatabase là tập hợp có tổ chức của geodata set.
Các thành phần của cơ sở dữ liệu không gian bao gồm:
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Tập hợp các dữ liệu dạng vector (điểm, đường và vùng)
Tập hợp các dữ liệu dạng raster (dạng mô hình DEM hoặc ảnh)
Tập hợp các dữ liệu dạng mạng lưới (ví dụ như hệ thống cấp thoát
nước, giao thông, lưới điện…)
Tập hợp các dữ liệu địa hình 3 chiều và bề mặt khác
Dữ liệu đo đạc
Dữ liệu dạng địa chỉ
Các bảng dữ liệu là thành phần quan trọng của cơ sở dữ liệu không
gian được liên kết với các thành phần đồ họa với nhiều kiểu liên kết khác
nhau.
Về khía cạnh công nghệ, hình thể, vị trí không gian của các đối tượng
cần quản lý, được miêu tả bằng các dữ liệu đồ họa. Trong khi đó, tính chất của
các đối tượng này được miêu tả bằng các dữ liệu thuộc tính.
Mô hình cơ sở dữ liệu không gian không những quy định mô hình dữ
liệu với các đối tượng đồ họa, đối tượng thuộc tính mà còn quy định liên kết
giữa chúng thông qua mô hình quan hệ và định nghĩa hướng đối tượng bao gồm
các tính chất như thừa kế (inherit), đóng góp (encapsulation) và đa hình
(polymorphism).
Ngoài ra, cơ sở dữ liệu không gian hiện đại còn bao gồm các rang buộc
các đối tượng đồ họa ngay trong CSDL, được gọi là topology.
1.2.2.1. Định nghĩa geodatabase:
Geodatabase là một loại CSDL với các tính năng mở rộng cho việc lưu
Geodatabase
File Geodatabase
Personal
Geodatabase
Mô tả Định dạng lưu trữ
và quản lý dữ liệu
GIS trong các
CSDL quan hệ
Định dạng được lưu
trong thư mục hệ
thống file
Định dạng chuẩn đầu
tiên quản lý trong
file Microsoft Access
Số lượng
người
dùng
Đa người dùng,
nhiều người đọc và
biên tập
Một người dùng,
nhiều người có thể
truy cập và một
người biên tập
Một người dùng,
nhiều người có thể
truy cập và một
người biên tập
Định dạng
lưu trữ
geodatabase như sau: Hình 2: Cấu trúc của Geodata Base
Trong Geodatabase có một hay nhiều Feature Dataset. Feature là một
nhóm các loại đối tượng có cùng chung hệ quy chiếu và hệ tọa độ. Một Feature
Dataset có thể chứa một hay nhiều Feature Class. Feature class chính là đơn vị
chứa các đối tượng không gian của bản đồ và tương đương với một lớp (layer)
trong ArcMap. Mỗi Feature Class chỉ chứa một dạng đối tượng (điểm, đường
Geodatabase
Feature Dataset Feature Dataset Feature Dataset
Feature Class Feature Class Feature Class
Attribute Table Attribute Table Attribute Table
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
hoặc vùng). Mỗi Feature Class được gắn chặt với một bảng thuộc tính (Attibute
Table). Khi tạo một Feature Class thì bảng thuộc tính cũng tự động được tạo
theo. Một ví dụ về CSDL Bản đồ địa chính:
Bảng 3
Feature
Class
Geo
metry type
Attribute Description
Geodatabase “Ban_do_dia_chinh”
Feature Dataset “Ban_do”. Coord. system: VN-2000
Thua Poly
gon
dien_tich, so_hieu,
loai_dat
Hiển thị thửa đất
Dữ liệu được quản lý trong
một geodatabase có đuôi mở
rộng là “.mdb”. Một
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
mảnh bản đồ lưu trữ thành 7
file (là các nhóm lớp: cơ sở
toán học, dân cư, giao thông,
địa hình, ranh giới, thủy văn,
thực vật), trong mỗi nhóm lớp
có tất cả các lớp đối tượng
geodatabase chia thành các
Feature Dataset, trong đó lại
chia thành các Feature Class
cùng với bảng thuộc tính đi
kèm
Định dạng Có rất nhiều định dạng khác
nhau: line, linestring, cell
header, shape, text,…
Có 3 định dạng là point, line
và polygon, không có lớp text
Bản đồ địa
hình
Quản lý theo các mảnh Không phân mảnh
1.3.1. Quy định số hóa và đặc điểm dữ liệu khi lưu trữ dưới dạng “.dgn”:
Cơ sở dữ liệu bản đồ địa hình số hóa tỷ lệ 1:10.000, 1:25.000, 1:50.000,
1:100.000 phải được lưu trữ theo mô hình dữ liệu không gian (spatial data
model), trong đó các đối tượng không gian tùy thuộc vào độ lớn của chúng trong
không gian cũng như yêu cầu về tỷ lệ thể hiện mà được biểu thị bằng điểm,
đường thẳng, đường nhiều cạnh, hoặc là vùng khép kín. Các tệp tin (file) bản đồ
phải ở dạng mở, nghĩa là phải cho phép chỉnh sửa cập nhật thông tin khi cần