Nghiên cứu địa lý kinh tế xã hội New Zealand - Pdf 20

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368

Trường Đại học khoa học x hội và nhân vănã
Khoa Du lịch học
---------------
Bài giữa kỳ
Môn: Địa lý kinh tế - x hội thế giớiã
Nghiên cứu Địa lý kinh tế-xã hội New
Zealand

§Þa lý kinh tÕ - x· héi New Zealand
®Þa lý kinh tÕ x· héi new zealand–
PHÇN Më §ÇU
New Zealand là 1 quốc đảo, có:
- Diện tích : 270.534 km2.
- Dân số : 4.177.000
người (tháng 3- 2007)
- GDP/ người : 39.349
(tháng 3- 2007)
- Thủ đô : Wellington
- Tôn giáo: Anh quốc
giáo, Giáo hội Xcốt-
len, Thiên Chúa giáo
La Mã, Hội Giám lý,
Đạo Tin lành
- Ngôn ngữ chính:
tiếng Anh, tiếng Maori
(thổ ngữ)
- Đồng tiền: Đô la Niu
Di-lân (New Zealand
dollar, NZ$)

H Lan). V sau, mt nh v bn ngi H Lan ó t tờn cho min t
mi l New Zealand, theo tờn mt tnh nh ven bin ca H Lan.
Hn mt th k sau, t liu v cuc b th hai ca ngi Chõu u ó
c nh thỏm him ngi Anh tờn James Cook ghi li trong mt hi trỡnh
3
§Þa lý kinh tÕ - x· héi New Zealand
nghiên cứu khoa học.
James Cook đã thực hiện thêm những chuyến thám hiểm khác (1773 và
1777), ghi lại những điều mắt thấy tai nghe, từ đó, nhiều làn sóng người nô
nức di cư đến NZ.
Đến năm 1840, miền đất này đã có khoảng 2.000 người Châu
¢
u tới định
cư. Các tù trưởng Maori ngày càng lo lắng hơn về những thiệt hại đối với tài
nguyên và nền văn hoá của họ, và họ đã tìm kiếm sự hỗ trợ của nữ hoàng
Anh Victoria. Người Anh đã nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của các tù trưởng
Maori vì họ muốn ngăn ngừa việc người Pháp hoặc người Mỹ đến kiểm soát
miền đất mới này.
Năm 1840, 500 tù trưởng Maori đã ký tên vào hiệp ước Waitagi, văn bản
thành lập đất nước NZ, dành cho nữ hoàng Anh quyền mua lại đất đai của
người Maori. Đổi lại, họ sẽ được hưởng tất cả quyền lợi dành cho thần dân
Vương quốc Anh trong một khối cộng đồng chung.
Tuy được công nhận là một giao ước có hiệu lực pháp lý sau khi ký, nhưng
việc thi hành gặp nhiều trở ngại. Đến những năm 1890, người Maori chỉ còn
sở hữu chưa đến một phần sáu đất nước NZ. Phải đến một trăm năm sau,
chính quyền Anh mới nghiêm chỉnh quan tâm tới các khiếu nại của họ.
Hầu như trong suốt 150 năm sau khi hiệp ước được ký kết, ưu thế về nhân
số, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của người định cư Châu
¢
u đã làm

- Eo biển Cook phân chia hai hòn đảo chính là đảo Bắc và đảo Nam. Với
một diện tích lãnh hải rộng lớn, New Zealand là một trong những nước có
vùng kinh tế độc quyền lớn nhất thế giới. Lãnh hải này có diện tích lớn hơn
diện tích đất liền đến sáu lần.
- Núi non ở đảo Bắc gồm các núi lửa hình nón Ruapehu (2.797m),
Taranakli (2.518m), Ngauruhoe (2287) và Tongario (1.967m). Núi lửa
Ruapehu thường hoạt động và tạo thành một phần của vùng núi lửa với các
suối, hồ nước nóng, bùn sôi và lưu huỳnh trải dài về phía tây bắc cho đến
tận bờ biển.
5
§Þa lý kinh tÕ - x· héi New Zealand
- Tại đảo Nam, dãy núi Southern Apls dầm mưa dãi gió tạo nên một chuỗi
các ngọn nối tiếp nhau từ đầu đến cuối đảo, với 18 đỉnh cao hơn 3.000 m
trong đó đỉnh cao nhất là Mt Cook, người Maori gọi là Aoraki (núi chọc
mây) cao 3.754 m. Tuyết và băng từ dãy Apls được hơn 360 con sông băng
mang đi tạo thành nguồn nưốc chảy vào các sông lớn ở cả hai bên đảo.
Những dãy núi đẹp đến sững sờ cũng không nói lên hết được những gì mà
phong cảnh đa dạng vô tận của NZ dành cho khách tham quan. Những khu
rừng rậm nhiệt đới nguyên sinh, những cánh đồng bằng phẳng chia cắt bởi
những con sông đan xen vào nhau, các hồ nước trong như pha lê và các
đồng cỏ nuôi cừu chập chùng , tất cả là một phần của phong cảnh NZ.

KhÝ hËu

- Khí hậu NZ mang đặc tính của cả vị trí địa lý và địa hình của đất nước. Do
ảnh hưởng của vĩ độ và gần đại dương nên khí hậu không bao giờ quá nóng
hay quá lạnh. Thời tiết NZ thay đổi như trở bàn tay: Trời đang mưa có thể
đột nhiên hửng nắng hoặc đổi gió.
- Khí hậu miền biển thường xuyên có gió. Gió thổi nhiều nhất là từ phíaTây.
Dãy núi xương sống của đất nước tạo ra những yếu tố khí hậu khác nhau rõ

magnesite, gỗ… Khí đốt thiên nhiên nằm ở đảo Bắc và người ta tin rằng NZ
có cả quặng uranium và thorium.
- Do vị trí đặc biệt về địa lý với phần còn lại của thế giới nên ở NZ có rất
nhiều loài động thực vật không thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác trên thế
giới. Cũng vì thế, các nhà khoa học cho rằng nghiên cứu động thực vật ở
đây giống như nghiên cứu động thực vật ở một hành tinh khác.
- Một số loài chim này ngày nay đã bị tuyệt chủng, trong đó có giống chim
moa khổng lồ. Những loài còn sống sót gồm có chim kiwi ăn đêm và
kakapo, một loài vẹt lớn.
- Người NZ đã lấy từ "Kiwi" làm tên gọi thân thiết cho đất nước mình. Sự
xuất hiện của con người trên mảnh đất này đã gây xáo trộn mạnh mẽ và sâu
rộng, làm cho tiến trình tuyệt chủng này nhanh hơn. Tuy nhiên, trong vòng
25 năm qua, tốc độ suy giảm của nhiều loài động thực vật và môi trường
sống thiên nhiên tại NZ đã chậm lại. Nay NZ đã được thế giới biết đến về
các thành tựu đi đầu trong công tác phục hồi thiên nhiên tại các đảo ngoài
khơi và nhân giống nhiều loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng.
* Một nét đặc thù của phong cách sống NZ là sự gần gũi với biển, núi non ,
rừng rậm và sông hồ. Người NZ luôn cảm nhận sự gắn bó mật thiết của
mình với đất đai. Sự cách biệt về địa lý đã bảo vệ cho đất nước này khỏi nạn
ô nhiễm từ các quốc gia công nghiệp phát triển khác. Hơn thế nữa, dân số
tương đối ít và qui mô ngành công nghiệp nặng tương đối nhỏ cũng là
những lý do làm cho không khí , đất đai và nguồn nước ở đây trong sạch.
Những yếu tố này, cộng với phong cảnh hùng vĩ, đã góp phần tạo nên hình
ảnh đất nước NZ "xanh và sạch" với thế giới. Nhân dân NZ bao đời nay tự
7
Địa lý kinh tế - xã hội New Zealand
ho v v p ca t nc mỡnh v cam kt bo v ti nguyờn thiờn nhiờn
cho cỏc th h mai sau. Nhiu cng ng dõn c ó thc hin vic ct gim
rỏc thi v tỏi ch ph liu.
Cụng tỏc qun lý mụi trng ti NZ c ci thin mt cỏch sõu rng vo

Theo tiờu chun th gii, NZ l nc tha dõn. Mc du nn kinh t vn
cũn da vo t ai, t l s ngi sng khu vc thnh th ó tng lờn hn
gp ụi trong vũng 100 nm qua. Ngy nay, 85% dõn s sng trong cỏc khu
vc thnh th, trong ú 3/4 s dõn sng o Bc. 1/7 dõn s NZ l th dõn
Maori, v 4/5 dõn c t nhn mỡnh l ngi gc Chõu u, phn ln n t
8
Địa lý kinh tế - xã hội New Zealand
nc Anh, nhng cng cú c ngi H Lan, c, Hi Lp, Nam T c v cỏc
nc khỏc. Cú mt s ỏng k ngi Trung Quốc v

n cng ó sinh
sng nhiu i ti NZ.
Ngi NZ núi ting Anh, nhng ti
ếng
Maori c cụng nhn l ngụn
ng chớnh thc v ngy cng cú nhiu ngi s dng.
NZ s tip tc l mt ni hp dn dõn di c trong tng lai. Phn ln dõn
chỳng õy nh c ti o Bc, nht l Auckland, thnh ph ln nht ca
t nc v l ni sinh sng ca hn mt phn t dõn s. Hn 200.000
ngi dõn Auckland n t cỏc o trong Thỏi Bỡnh Dng, lm cho thnh
ph ny cú s dõn Polynesie cao nht th gii.
Bảng 1: Sự phân bố dân c tại các thành phố chính ( tháng 3 năm 2006)
Thành phố chính Số dân
Auckland 1,241,600
Wellington 370,000
Christchurch 367,700
Hamilton 155,800
Napier-Hastings 119,600
Dunedin 114,700
Tauranga 109,100

Về phương diện cư trú, so với cư dân ở các quốc gia phương Tây, người
NZ có tiêu chuẩn nhà ở khá cao và số người có nhà riêng cũng rất cao. Kiểu
nhà phổ biến của đa số dân NZ là loại nhà một tầng riêng biệt được làm
bằng gỗ, có hai hay ba phòng ngủ, dựng trên một khoảnh đất rộng chừng 0,1
hecta ở ngoại ô hay một thị trấn nhỏ vùng nông thôn. Gần đây, ngày càng có
nhiều người sống trong các căn hộ tại các chúng cư trong thành phố hoặc
xây dựng những ngôi nhà nhỏ, gọn và có đủ tiện nghi trên những khu đất
hẹp hơn.
Về mặt chăm sóc sức khỏe, người dân NZ được hưởng thụ nhiều dịch vụ
y tế, trong đó có dịch vụ dành cho người tàn tật. Hệ thống y tế trong nước
gồm có y tế nhà nước, y tế tư nhân và các tổ chức tự nguyện cùng phối hợp
10
§Þa lý kinh tÕ - x· héi New Zealand
hoạt động để thực hiện các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ. Hơn ba phần tư chi
phí cho chăm sóc sức khỏe được trích từ tiền thuế. Trong những năm gần
đây, đã có nhiều cải tổ quan trọng nhằm hợp lý hoá công tác hành chính và
quản lý của hệ thống y tế.
Thông qua Cơ quan tài trợ y tế (HFA), chính phủ NZ cấp kinh phí cho
một mạng lưới các bệnh viện hầu chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân và hỗ trợ
người tàn tật. Tất cả bệnh nhân điều trị nội trú hay ngoại trú tại các bệnh
viện công đều được miễn phí hoàn toàn. Cư dân NZ cũng có thể mua bảo
hiểm y tế để được chăm sóc sức khỏe riêng vì tại các bệnh viện công, trong
những trường hợp không khẩn cấp, bệnh nhân thường phải xếp hàng chờ
đợi.
Người NZ rất coi trọng l
Ünh
vực giáo dục. Điều này có thể nhận thấy
trong khoản chi tiêu của ngân sách nhà nước cho giáo dục: cứ 6 đô la thì gần
một đô la được chi cho giáo dục. Theo luật định, mọi công dân NZ từ 6 đến
16 tuổi đều phải đến trường học. Tuy nhiên, trên thực tế hầu hết trẻ em đều

Về mặt lao động, theo những số liệu thống kê mới nhất, hơn ¾ lực lượng
lao động ở NZ là những người làm công hưởng lương; số người làm ăn cá
thể chỉ chiếm khoảng 10%. Từ năm 1992 đến năm 1999, nền kinh tế NZ đã
tạo thêm được 234.000 công ăn việc làm. Ngày càng có nhiều phụ nữ tham
gia vào lực lượng lao động, chiếm tỉ lệ gần 49% tổng số lao động trong năm
1997. Sự gia tăng này là kết quả sự phát triển của các ngành dịch vụ. Hiện
nay ngày càng có nhiều người NZ tham gia vào khu vực dịch vụ hơn là vào
khu vực sản xuất nguyên liệu thô như nông, lâm và ngư nghiệp.
Năm 1991, một số đạo luật được ban hành cho phép công nhân và chủ
lao động có quyền lựa chọn người đại diện cho mình trong việc thương
lượng tiền lương, nội dung và hình thức hợp đồng lao động. Hơn thế nữa,
công nhân có quyền quyết định gia nhập hay không gia nhập nghiệp đoàn,
chủ doanh nghiệp có quyền chấp nhận hay bác bỏ người đại diện cho công
nhân và cách thức thương thảo hợp đồng cũng mềm dẻo hơn trước.
12
§Þa lý kinh tÕ - x· héi New Zealand
Tòa ¸n Lao §éng và Toà Hòa giải Lao Động mở ra một diễn đàn để giải
quyết các tranh chấp và hướng dẫn thi hành các hợp đồng lao động. Mức
lương tèi thiểu đã được trang trọng ghi vào luật lao động áp dụng trên toàn
quốc cho người lớn cũng như thanh niên đến tuổi lao động. Tiền lương trên
thực tế không thể thấp hơn mức này. Hàng năm, tất cả công nhân đều có
quyền nghỉ 11 ngày lễ công cộng được hưởng nguyên lương. Trong trường
hợp sinh con, phụ nữ và người bạn đời của họ có thể được nghỉ không
hưởng lương tới 1 năm.
3. ChÕ ®é chÝnh trÞ
.
- Nguyên thủ quốc gia: Nữ hoàng Anh Elidabeth II (Ê-li-da-bét Đệ nhị)
- Toàn quyền: Ông Anand Satyanand (A-nan Xa-ti-a-nan) (từ 23-8-2006
đến nay)
- Thủ tướng: Bà Helen Clark (Hê-len Clác) (03 nhiệm kỳ liên tiếp từ năm

Từ thế kỷ 19 trở đi, chính phủ đóng một vai trò mạnh mẽ trong sự phát
triển của quốc gia, xây dựng và họat động ngành đường sắt, các ngành phục
vụ năng lượng công cộng và giao thông.
Cuộc suy thóai kinh tế của những năm 30 thế kỷ 19 gây nên nạn thất
nghiệp nhiêm trọng là kết quả của một số yếu tố và làm hạ giá hàng xuất
khẩu. Trong năm 1938, một khủng hoảng nghiêm trọng trong cán cân thanh
tóan quốc tế dẫn đến việc đem vào các biện pháp kiểm sóat chặt chẽ về nhập
khẩu và hối đoái, với mục đích giới hạn tiêu thụ mà không hạ giá tiền lương
hay làm cho nạn thất nghiệp xấu đi. Các sản phẩm nhập khẩu thường giới
hạn các vật tư và máy móc cần thiết cho các nhà sản xuất NZ, loại ra sự
cạnh tranh của nước ngoài.
Suốt từ các năm 50 và 60, người NZ có được nhiều công ăn việc làm,
trong khi ý thức được rằng mình thường không được hưởng các hàng tiêu
thụ, nhất là xe ô tô, được mua tự do ở nước ngoài. Có một điều quan tâm
chính đáng là nước Anh, một thị trường xuất khẩu lớn nhất của NZ, sẽ gia
nhập cộng đồng kinh tế Châu Âu. Mối lo này dẫn đến cuộc đa dạng hóa một
lọat các hàng hóa xuất khẩu, cũng như một nổ lực tìm kiếm các thị trường
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status