MỤC LỤC
Danh mục các từ viết tắt
STT Từ viết tắt Chú thích
1 TMĐT Thương mại điện tử
2 B2C Business 2 consumer
1
Danh mục bảng
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, thương mại điện tử đã phát triển mạnh mẽ, góp phần thay
đổi căn bản và làm đa dạng các hoạt động thương mại trên thị trường, đặc biệt là trong
điều kiện toàn cầu hóa.
Nửa cuối năm 2012, mô hình groupon có vẻ đi vào giai đoạn ổn định và bắt đầu có sự
loại trừ. Hàng loạt các công ty lớn nhỏ ngừng hoạt động kinh doanh theo mô hình này vì
doanh thủ không đủ bù vào chi phí vận hành.Thói quen của người tiêu dùng Việt Nam
đối với mua hàng online có sự chuyển biến rõ rệt, nắm bắt được sự thay đổi này hàng loạt
các website kinh doanh theo mô hình B2C ra đời mà đáng chú ý là Lazada.vn,
bantructuyen.com. Với nguồn vốn khổng lồ, Lazada đổ bộ vào thị trường Việt Nam như 1
“cơn sóng” từ việc tuyển người cho đến chi tiền cho quảng cáo. Lazada đã thực thự tiếp
thêm sóng cho thị trường TMDT Việt Nam 1 lần nữa lại bùng dậy.Tận dụng sự tác động
của Lazada đối với thị trường, các đại gia khác cũng nhanh chân tham gia vào thị trường
2
B2C như bantructuyen.com, liulo.com, beyeu.com, lamdieu.com, nhanh.vn, chon.vn,
123.vn, v.v….
Vì thế nhóm chúng em lựa chọn đề tài “Nghiên cứu về thương mại điện tử B2C và
quy mô B2C của Việt Nam so với thế giới” để tìm hiểu tổng quan về TMĐT và mô hình
B2C ở Việt Nam.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Tìm hiểu và nghiên cứu mô hình B2C
- So sánh TMĐT B2C của Việt Nam so với thế giới.
3. Phạm vi nghiên cứu
hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư
vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc
tô nhượng; liên doanh các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh;
chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc
đường bộ.”
Như vậy, có thể thấy rằng phạm vi của Thương mại điện tử rất rộng, bao quát hầu hết
các lĩnh vực hoạt động kinh tế, việc mua bán hàng hóa và dịch vụ chỉ là một trong hàng
ngàn lĩnh vực áp dụng của Thương mại điện tử. Theo nghĩa hẹp thương mại điện tử chỉ
gồm các hoạt động thương mại được tiến hành trên mạng máy tính mở như Internet. Trên
thực tế, chính các hoạt động thương mại thông qua mạng Internet đã làm phát sinh thuật
ngữ thương mại điện tử.
Thương mại điện tử gồm các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ qua phương tiện
điện tử, giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng, chuyển tiền điện tử, mua bán cổ
phiếu điện tử, vận đơn điện tử, đấu giá thương mại, hợp tác thiết kế, tài nguyên mạng,
mua sắm công cộng, tiếp thị trực tuyến tới người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng.
4
Thương mại điện tử được thực hiện đối với cả thương mại hàng hóa (ví dụ như hàng
tiêu dùng, các thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (ví dụ như dịch vụ cung
cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức
khỏe, giáo dục ) và các hoạt động mới (ví dụ như siêu thị ảo). Thương mại điện tử đang
trở thành một cuộc cách mạng làm thay đổi cách thức mua sắm của con người.
1.2. Các đặc trưng của thương mại điện tử
• Các bên tiến hành giao dịch trong TMĐT không tiếp xúc trực tiếp với nhau và
không đòi hỏi phải biết nhau từ trước
• Các giao dịch thương mại truyền thống được thực hiện với sự tồn tại của khái
niệm biên giới quốc gia, còn TMĐT được thực hiện trong một thị trường không có
biên giới(thị trường thống nhất toàn cầu)
• Trong hoạt động giao dịch TMĐT đều có sự tham gia của ít nhất ba chủ thể, trong
đó có một bên không thể thiếu được là người cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan
chứng thực.
• Thanh toán ví điện tử
• Chi phiếu điện tử
Một quy trình thanh toán điện tử bao gồm 6 giai đoạn cơ bản:
- Khách hàng từ một máy tính tại một nơi nào đó, điền những thông tin
thanh toán và địa chỉ liên hệ vào đơn đặt hàng của Website bán hàng. Doanh
nghiệp nhận được yêu cầu mua từ hàng hóa hay dịch vụ vủa khách hàng và phản
hồi xác nhận tóm tắt lại những thông tin cần thiết như mặt hàng đã chọn, địa chỉ
giao nhận,…
- Khách hàng kiểm tra lại thông tin và click vào đặt hàng , để gửi thông tin
trả về cho doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp nhận và lưu trữ thông ltin đặt hàng đồng thời chuyển tiếp
thông tin thanh toán và được mã hóa đến máy chủ.
- Khi trung tâm xử lý thẻ tín dụng nhận được thông tin thanh toán, sẽ giải
mã thông tin và xử lý giao dịch đằng sau tường lửa và tách rời mạng internet,
nhằm mục đích bảo mật tuyệt đối cho các giao dịch thương mại, định dạng lại
giao dịch và chuyển tiếp thông tin thanh toán đến ngân hàng của doanh nghiệp
theo một đường dây thuê bao riêng.
6
- Ngân hàng của doanh nghiệp gửi thông tin điện tử yêu cầu thanh toán đến
ngân hàng hoặc công ty cung cấp thẻ tín dụng của khách hàng, và tổ chức này sẽ
phản hồi là đồng ý hoặc từ chối thanh toán đến trung tâm xử lý thẻ tín dụng trên
mạng internet
- Trung tâm xử lý thẻ tín dụng trên internet sẽ tiếp tục chuyển tiếp những
thông tin phản hồi trên đến doanh nghiệp và tùy theo đó doanh nghiệp thông báo
cho khách hàng được rõ là đơn đặt hàng, sẽ được thực hiện hay không?
1.5. Các cơ sở để phát triển thương mại điện tử
Để phát triển TMĐT cần phải có hội đủ một số cơ sở:
- Hạ tầng kỹ thuật internet phải đủ nhanh, mạnh đảm bảo truyền tải các nội dung
thông tin bao gồm âm thanh, hình ảnh trung thực và sống động. Một hạ tầng
internet mạnh cho phép cung cấp các dịch vụ như xem phim, xem TV, nghe nhạc
hàng hoặc một tổ chức tín dụng nào đó), sau đó được chuyển đổi tự do sang các đồng tiền
khác thông qua Internet, áp dụng trong cả phạm vi một nước cũng như giữa các quốc gia;
tất cả đều được thực hiện bằng kỹ thuật số hóa, vì thế tiền mặt này còn có tên gọi là “tiền
mặt số hóa” (digital cash). Tiền lẻ điện tử đang trên đà phát triển nhanh, nó có ưu điểm
nổi bật sau:
− Dùng để thanh toán những món hàng giá trị nhỏ, thậm chí ngay cả tiền mua báo
(vì phí giao dịch mua hàng và chuyển tiền rất thấp);
− Có thể tiến hành giữa hai con người hoặc hai công ty bất kỳ, các thanh toán là vô
danh;
− Tiền mặt nhận được đảm bảo là tiền thật, tránh được tiền giả
Ví điện tử (electronic purse): là nơi để tiền mặt Internet, chủ yếu là thẻ thông minh
(smart card), còn gọi là thẻ giữ tiền (stored value card), tiền được trả cho bất kỳ ai đọc
được thẻ đó; kỹ thuật của túi tiền điện tử tương tự như kỹ thuật áp dụng cho “tiền lẻ điện
tử”. Thẻ thông minh, nhìn bề ngoài như thẻ tín dụng, nhưng ở mặt sau của thẻ, có một
8
chíp máy tính điện tử có một bộ nhớ để lưu trữ tiền số hóa, tiền ấy chỉ được “chi trả” khi
sử dụng hoặc thư yêu cầu (như xác nhận thanh toán hóa đơn) được xác thực là “ đúng”
Giao dịch điện tử của ngân hàng (digital banking). Hệ thống thanh toán điện tử
của ngân hàng là một hệ thống lớn gồm nhiều hệ thống nhỏ:
− Thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng qua điện thoại, tại các điểm bán lẻ, các
kiốt, giao dịch cá nhân tại các gia đình, giao dịch tại trụ sở khách hàng, giao dịch
qua Internet, chuyển tiền điện tử, thẻ tín dụng, thông tin hỏi đáp…
− Thanh toán giữa ngân hàng với các đại lý thanh toán (nhà hàng, siêu thị ,)
− Thanh toán nội bộ một hệ thống ngân hàng
− Thanh toán liên ngân hàng
1.6.3. Trao đổi dữ liệu điện tử
Trao đổi dữ liệu điện tử (electronic data interchange, viết tắt là EDI) là việc trao
đổi các dữ liệu dưới dạng “có cấu trúc” (stuctured form), từ máy tính điện tử này sang
máy tính điện tử khác, giữa các công ty hoặc đơn vị đã thỏa thuận buôn bán với nhau.
Theo Ủy ban liên hợp quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL), “Trao đổi
hợp đồng bảo hiểmv.v…
Trước đây, dung liệu được trao đổi dưới dạng hiện vật (physical form) bằng cách
đưa vào đĩa, vào bảng, in thành sách báo, thành văn bản, đóng góp bao bì chuyển đến tay
người sử dụng, hoặc đến điểm phân phối (như cửa hàng, quầy báo v.v ) để người sử dụng
mua và nhận trực tiếp. Ngày nay, dung liệu được số hóa và truyền gửi theo mạng, gọi là
“giao gửi số hóa” (digital delivery)
Các tờ báo, các tư liệu công ty, các ca-ta-lô sản phẩm lần lượt đưa lên Web, người
ta gọi là “xuất bản điện tử” (electronic publishing hoặc Web publishing), khoảng 2700 tờ
báo đã được đưa lên Web gọi là “sách điện tử”; các chương trình phát thanh, truyền hình,
giáo dục, ca nhạc, kể chuyện v.v cũng được số hóa, truyền qua Internet, người sử dụng
tải xuống (download); và sử dụng thông qua màn hình và thiết bị âm thanh của máy tính
điện tử.
10
1.6.5. Mua bán hàng hóa hữu hình
Đến nay, danh sách các hàng hóa bán lẻ qua mạng đã mở rộng, từ hoa tới quần áo,
ô tô và xuất hiện một loại hoạt động gọi là “mua hàng điện tử” (electronic shopping), hay
“mua hàng trên mạng”; ở một số nước, Internet bắt đầu trở thành công cụ để cạnh tranh
bán lẻ hàng hữu hình (Retail of tangible goods). Tận dụng tính năng đa phương tiện
(multimedia) của môi trường Web và Java, người bán xây dựng trên mạng các “cửa hàng
ảo” (virtual shop), gọi là ảo bởi vì, cửa hàng có thật nhưng ta chỉ xem toàn bộ quang cảnh
cửa hàng và các hàng hóa chứa trong đó trên từng trang màn hình một.
Để có thể mua – bán hàng, khách hàng tìm trang Web của cửa hàng, xem hàng
hóa hiển thị trên màn hình, xác nhận mua và trả tiền bằng thanh toán điện tử. Lúc đầu
(giai đoạn một), việc mua bán như vậy còn ở dạng sơ khai: người mua chọn hàng rồi đặt
hàng thông qua mẫu đơn (form) cũng đặt ngay trên Web. Nhưng có trường hợp muốn lựa
chọn giữa nhiều loại hàng ở các trang Web khác nhau (của cùng một cửa hàng) thì hàng
hóa miêu tả nằm ở một trang, đơn đặt hàng lại nằm ở trang khác, gây ra nhiều phiền toái.
Để khắc phục, giai đoạn hai, xuất hiện loại phần mềm mới, cùng với hàng hóa của cửa
hàng trên màn hình đã có thêm phần “ xe mua hàng” (shopping cart, shopping trolley),
giỏ mua hàng (shopping basket, shopping bag) giống như giỏ mua hàng hay xe mua hàng
liệu của hãng máy bay Boeing của Mỹ, đã có tới 50% khách hàng đặt mua 9% phụ tùng
qua Internet (và nhiều các đơn hàng về lao vụ kỹ thuật), và mỗi ngày giảm bán được 600
cuộc gọi điện thoại.
TMĐT qua Internet/Web giúp người tiêu thụ và các doanh nghiệp giảm đáng kể
thời gian và chi phí giao dịch (giao dịch được hiểu là từ quá trình quảng cáo, tiếp xúc ban
đầu, giao dịch đặt hàng, giao dịch thanh toán). Thời gian giao dịch qua Internet chỉ bằng
7% thời gian giao dịch qua Fax, và bằng khoảng 0.5 phần nghìn thời gian giao dịch qua
bưu điện chuyển phát nhanh, chi phí thanh toán điện tử qua Internet chỉ bằng từ 10% đến
20% chi phí thanh toán theo lối thông thường.
12
Tổng hợp tất cả các lợi ích trên, chu trình sản xuất (cycle time) được rút ngắn, nhờ
đó sản phẩm mới xuất hiện nhanh và hoàn thiện hơn.
1.7.4. Xây dựng quan hệ với đối tác
TMĐT tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cố mối quan hệ giữa các thành
viên tham gia vào quá trình thương mại: thông qua mạng (Internet/ Web), các thành viên
tham gia (người tiêu thụ, doanh nghiệp, các cơ quan Chính phủ…) có thể giao tiếp trực
tuyến (liên lạc “ trực tuyến”) và liên tục với nhau, có cảm giác như không có khoảng cách
về địa lý và thời gian nữa; nhờ đó sự hợp tác và sự quản lý đều được tiến hành nhanh
chóng một cách liên tục: các bạn hàng mới, các cơ hội kinh doanh mới được phát hiện
nhanh chóng trên phạm vi toàn quốc, toàn khu vực, toàn thế giới, và có nhiều cơ hội để
lựa chọn hơn.
1.7.5. Tạo điều kiện sớm tiếp cận kinh tế trí thức
Trước hết, TMĐT sẽ kích thích sự phát triển của ngành công nghệ thông tin tạo cơ
sở cho phát triển kinh tế tri thức. Lợi ích này có một ý nghĩa phát triển: nếu không nhanh
chóng tiếp cận nền kinh tế tri thức thì sau khoảng một thập kỷ nữa, nước đang phát triển
có thể bị bỏ rơi hoàn toàn. Khía cạnh lợi ích này mang tính chiến lược công nghệ và tính
chính sách phát triển cần cho các nước công nghiệp hóa.
13
Chương II: Tổng quan về mô hình thương mại điện tử B2C
2.1. Khái niệm
khách hàng cá nhân của Dell vào khoảng 17 triệu USD. Khẩu hiệu nổi tiếng của Dell là
“Be Direct” (trực tiếp)
Trong giai đoạn đầu phát triển thương mại điện tử, các hãng bán lẻ nổi tiếng không
tham gia mạnh vào thị trường thương mại điện tử B2C. Các trang web của họ thường sử
dụng như một phần mềm brochure và thiếu tính tương tác. Mục tiêu chính của các trang
web lúc bấy giờ là thu hút khách hàng tới các cửa hàng thực. Ngày nay, các hãng này
đang thực hiện nhuần nhuyễn sự kết hợp giữa các cửa hàng bán lẻ truyền thống( còn
được gọi là các cửa hàng brick- and- mortar) và các website trực tuyến. Sự kết hợp cả
bán hàng trực tuyến và bán hàng theo cách truyền thống được gọi là mô hình click- and-
mortar hoặc mô hình brick- and – click, có thể đây sẽ là mô hình bán lẻ trong tương lai.
Các kênh bán hàng trực tuyến và kênh bán hàng truyền thống cùng với kênh bán hàng
qua điện thoại sẽ được quản lý chung thống nhất để cung cấp giá trị cho khách hàng đồng
thời tối đa hóa doanh thu và lợi nhuận của công ty
2.3. Mô hình thương mại điện tử B2C
Cần khẳng định rằng việc đặt mua sản phẩm bằng cách đơn giản là nhấn vào nút
“mua” trên một trang web là một quá trình phức tạp và không giống nhau đối với mọi
loại hàng hóa và dịch vụ. Tuy vậy, mặc dù mỗi khách hàng có cách thức mua hàng khác
nhau, chúng ta cần tổng quát hóa hành vi mua hàng của khách hàng. Những cách tổng
quát hóa đó( còn gọi là mô hình mua) rất quan trọng để hiểu được hành vi của khách
hàng. Các mô hình mua hàng cho phép tổng quát được sự tương tác giữa khách hàng và
doanh nghiệp. Những mô hình đó cho phép tạo ra sự thống nhất, cho phép doanh nghiệp
đỡ tốn thời gian xử lý yêu cầu của các khách hàng khác nhau và qua đó hỗ trợ khách
hàng mua bán thuận tiện.
Mô hình kinh doanh có thể được xây dựng từ phía khách hàng hoặc từ phía công ty.
Nếu nhìn từ phía khách hàng, mô hình kinh doanh cụ thể hóa hệ thống các hoạt động
người đi mua hàng thực hiện khi mua một hàng hóa hoặc dịch vụ. Công ty cần nắm được
điều này khi xây dựng các chương trình quản lý thương mại điện tử. Xét từ phía công ty,
mô hình kinh doanh mô tả chu trình quản lý việc mua hàng của khách hàng, từ các hoạt
động công ty cần thực hiện để đáp ứng các nhu cầu của khách hàng trong quá trình mua
hàng.
- Mô hình doanh thu điển hình của loại hình này là mô hình phí giao dịch
• Mô hình nhà cung cấp dịch vụ:
- Cung cấp dịch vụ trực tuyến(google maps, google docs)
- Giá trị định vị: thuận tiện, tiết kiệm thời gian, chi phí thấp, thay thế cho
các nhà cung cấp dịch vụ truyền thống
- Mô hình doanh thu từ phía thuê bao, thanh toán tức thì
• Mô hình người tạo lập cộng đồng:
- Tạo một môi trường mạng xã hội nơi mà những người có cùng sở thích
có thể gặp và giao tiếp với nhau
16
- Mô hình doanh thu có thể kết hợp nhiều mô hình với nhau bao gồm mô
hình phí quảng cáo, phí thuê bao, doanh thu bán hàng, phí giao dịch và
phí liên kết.
Các mô hình thương mại điện tử
Mô hình Hình thức Ví dụ Miêu tả Mô hình doanh
thu
Cổng Cổng thông tin Yahoo.com;
Aol.com
Đưa ra gói sản
phẩm tích hợp
giữa cung cấp
nội dung và tìm
kiếm nội dung,
tin tức, email,
chat, tải nhạc,
xem film…
Quảng cáo, phí
thuê bao, phí
giao dịch
Nhà bán lẻ trực
tiếp qua môi
trường mạng
Bán hàng
Tìm kiếm Google.com Đưa ra những
dịch vụ tìm
kiếm
Quảng cáo, giới
thiệu, liên kết
Nhà cung cấp
nội dung
Cnn.com Các nhà cung
cấp thông tin và
chương trình
giải trí như:báo
Quảng cáo, phí
thuê bao, liên
kết, giới thiệu
17
chí, trang web,
thể thao…sẽ
cung cấp cho
khách hàng
những thông tin
cập nhật cũng
như những
thông tin hữu
ích, những mẹo
vặt
Môi giới giao
dịch
Nhà cung cấp
dịch vụ
Visanow.com Kiếm tiền bằng
cách cung cấp
cho người dùng
dịch vụ hơn là
sản phẩm hóa
Bán dịch vụ
Xây dựng cộng
đồng
Facebook.com
Myspace.com
Trang mà các
cá nhân có
chung sở thích.
Quảng cáo, phí
thuê bao, liên
kết, giới thiệu.
18
Đây là mạng xã
hội
Bảng 2.4: Các mô hình thương mại điện tử B2C chính
19
Chương III: Tình hình thương mại B2C trong nước và thế giới
3.1. Tình hình phát triển B2C trên thế giới
3.1.1. B2C trên thế giới
Nhằm tận dụng triệt để tính năng của Internet, người sử dụng không chỉ cần có kết nối
mà họ còn cần kết nối nhanh với chất lượng tốt. Trong một số ứng dụng kinh doanh điện
tử, băng thông rộng đã trở thành một điều kiện không thể thiếu. Hiện nay, Mỹ chiếm hơn
80% tỷ lệ TMĐT toàn cầu. Mặc dù một số nước châu Á như Singapore và Trung Quốc đã
được số hóa như phần mềm, âm nhạc, hình ảnh, trò chơi trực tuyến và các dịch vụ tài
chính và bảo hiểm cho khách hàng.
Loại giao dịch 1999 2000 2002
Mua một sản phẩm hoặc dịch vụ trực tuyến 28% 36% 62%
Thực hiện hoạt động ngân hàng trực tuyến 17% 20% 37%
Bảng 3.1.1.1: Tỷ lệ tham gia mua hàng và giao dịch ngân hàng của những người sử dụng
internet
Những năm gần đây, số lượng các giao dịch B2C tăng lên nhanh chóng. Người sử
dụng internet dần làm quen với việc mua hàng trực tuyến. Tỷ lệ người sử dụng internet
có tham gia giao dịch bán lẻ tăng nhanh, đến năm 2002 đạt 62% . Cùng với xu hướng
chung là số người sử dụng internet tăng liên tục.
Khu vực Số người sử dụng internet Tỷ lệ truy
cập (% dân
số)
% trên thế
giới
2000 Tháng 7/ 2004 Tăng trưởng
(2000- 2004)
Châu Phi 4.514.400 12.253.300 171,4% 1,4 1,5
Châu Á 114.303.000 255.621.793 123,6% 7,1 32,0
Châu Âu 103.096.093 222.212.768 115,5% 30,4 27,9
Trung Đông 5.272.300 16.831.400 219,2% 6,5 2,1
Bắc Mỹ 108.096.800 223.771.187 107.0% 68,8 28,1
Mỹ latinh và
Carbie
18.068.919 51.771.187 183,3% 9,4 6,4
Châu Đại
Dương
7.619.500 15.981.452 109,7% 49,1 2,0
Việt Nam 360.971.012 797.853.636 121,0% 12,5 100,0
Nhật Bản và đứng vị trí thứ hai trên thế giới thay Anh vào năm 2013
3.1.3. Hoa Kỳ
Theo dự đoán của eMarketer, doanh số TMĐT B2C năm 2012 của Hoa Kỳ ước đạt 224,2
tỷ đô la, tăng 15,4% so với năm 2011. Số lượng người tiêu dùng thực hiện mua sắm trực
tuyến đang tăng lên trong khi tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng giảm.
Bảng 3.1.3: Doanh số bán lẻ TMĐT Hoa Kỳ từ 2010-2016
eMarketer đưa ra con số dự báo này thông qua phân tích tổng số liệu từ các công ty theo
dõi doanh số bán hàng TMĐT, và báo cáo doanh thu từ các nhà bán lẻ trực tuyến lớn.
eMarketer cũng tiến hành các cuộc phỏng vấn với các giám đốc điều hành là những
người phân tích triển vọng, xu hướng bán hàng TMĐT. Những con số eMarketer đưa
ra không bao gồm du lịch và mua vé, nhưng bao gồm doanh số bán hàng được
thực hiện trên các thiết bị di động và máy tính bảng
22
3.1.4. Hàn Quốc
Theo cơ quan Thống kê của Hàn Quốc (Statistics Korea), trong quý II năm 2012, doanh
số TMĐT B2C của Hàn Quốc đạt khoảng 4,4 tỷ đô la, tăng 2.7% so với cùng kỳ năm
2011.
Mô
hình
2011 2012 Tỷ lệ tăng
Quý
2(triệu
đôla)
Chiếm
tỷ
lệ(%)
Quý
1(triệu
đôla)
Chiếm
Với tốc độ tăng trưởng tỷ lệ người sử dụng internet là 123,4%/năm(cao nhất trong khu
vực ASEAN), đạt 1,9 triệu thuê bao Internet và gần 5.9 triệu người trong năm 2004, Việt
Nam là quốc gia được đánh giá là có tiềm năng rất lớn trong TMĐT. Theo dự báo về mức
tăng trưởng thị trường CNTT Việt Nam của IDG, trong giai đoạn từ năm 2005 đến 2008,
mức chi cho CNTT của Việt Nam nằm trong top 10 nước đứng đầu thế giới và sẽ vượt
23
qua Trùn Quốc với tỷ lệ tăng trưởng 16%. Việt Nam cũng được đánh giá là quốc gia
nhanh nhạy với mô hình kinh doanh trực tuyến.
Tuy nhiên, hoạt động TMĐT ở Việt Nam vẫn còn chưa được như mong muốn. Hầu
hết các website B2B chưa có định hướng hoạt động rõ ràng, mà chúng ta chủ yếu mới chỉ
dừng lại ở mức tìm thông tin thị trường, bán hàng qua thư điện tử và các website TMĐT.
Các hệ thống mua bán trực tuyến giữa các doanh nghiệp lớn với nhau hầu như chưa tồn
tại. Các công ty nói chung khả nhanh trong việc áp dụng TMĐT, nhưng còn không ít các
công ty đến với hình thức này theo kiểu “phong trào”, chưa kể số lượng các website cung
cấp dịch vụ TMĐT quy mô lớn chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Trong khi đó, việc mua
bán trực tuyến B2C và C2C tại Việt Nam chưa phổ biến và cũng chưa có doanh nghiệp
nào cung cấp hoàn chỉnh các công đoạn của một chu trình mua bán trực tuyến.
Số liệu thống kế của trung tâm Internet Việt Nam cho thấy, hiện tại có 15 triệu người
Việt Nam sử dụng Internet và trong 3 năm tới số người sử dụng Interntet và trong 3 năm
tới số người sử dụng Internet ở Việt Nam khoảng 30 triệu người. Thị trường rộng lớn đó
cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ là tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ của TMĐT
trong những năm sắp tới. Tuy nhiên, theo điều tra của Bộ Công Thương lần gần đây nhất
với 1000 doanh nghiệp, số lượng doanh nghiệp có website chiếm 20-25%, nhưng tính
năng TMĐT trong các website này còn mờ nhạt. Chức năng website chủ yếu là giới thiệu
về công ty, chiếm 93.8%, giới thiệu sản phầm, dịch vụ chiếm 62.5%, trong khi tính năng
giao dịch TMĐT cho phép đặt hàng chỉ chiếm 27.4% hoạt động thanh toán trực tuyến chỉ
có 3.2%.
Hoạt động TMĐT mới chỉ mạnh ở các doanh nghiệp lớn, đại đa số các doanh nghiệp
nhỏ tại Việt Nam vẫn đang nằm ngoài guồng quay của phương thức kinh doanh hiện đại
này. Tuy nhiên, ở Việ Nam điều này mới đang ở bước khởi đầu. Có rất ít lĩnh vực mà
cứ vào tỷ lệ người truy cập Internet tham gia mua sắm trực tuyến của từng đơn vị khảo
sát, doanh số TMĐT B2C của Việt Nam năm 2012 đạt trung bình khoảng hơn 600 triệu
USD. Nếu căn cứ theo con số khả quan nhất do VISA cung cấp (với tỷ lệ 71% người
dùng Internet có tham gia mua sắm trực tuyến), thì doanh số TMĐT bán lẻ ước tính sẽ đạt
khoảng 667 triệu USD trong năm 2012.
Dân số VN
năm 2012
Tỷ lệ dân số
truy cập
internet 2012
Ước tính giá
trị mua hàng
trực tuyến
mỗi năm của
một người
2012
Tỷ lệ người truy cập
internet tham gia mua sắm
trực tuyến
Ước tính
doanh số thu
được từ
TMĐT B2C
2012
Nguồn khảo
sát
Tỷ lệ
87 triệu dân 36% 30USD VISA 71% 667 triệu
USD
IDC 58% 545 triệu