Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội đảo Cát Bà - Pdf 20

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chơng 1: khái quát chung đặc điểm tự nhiên
kinh tế x hội đảo Cát Bàã
1.1 đặc điểm tự nhiên
1.1.1 vị trí địa lí và ranh giới hành chính
Quần đảo Cát Bà gồm một hòn đảo chính là đảo Cát Bà và 366 hòn đảo lớn
nhỏ kéo dài theo hớng ĐB-TN. Quần đảo Cát Bà nằm ở phía Đông của thành
phố Hải Phòng, có vị trí địa lí 20
0
50

VB và 106
0
38

KĐ.
Hải đảo Cát Bà nằm giáp ranh giới của vùng biển vịnh Hạ Long nổi tiếng ở phía
Bắc và Đông Bắc, phía Tây giáp đảo Cát Hải, còn 3 phía Đông, Đông Nam, Tây
Nam đều hớng ra biển.
1.1.2 đặc điểm địa chất-địa mạo
Đảo Cát Bà đợc cấu tạo chủ yếu bởi đá trầm tích tuổi từ Cácbon đến Đệ
Tứ, địa tầng Cát Bà gồm ba phụ hệ:
- hệ cacbon hạ (C
1
)
- hệ Cacbon trung - pecmi hạ (C
2
-P
1
)
- hệ đệ tứ (Q)

độ thuỷ triều, cửa sông. Đó là dạng địa hình bãi bồi ở chân đảo phía Tây và TN
nó là các bãi bùn với kiểu sinh thái rừng ngập mặn và các bãi cát: Cát Dứa, Cát
Cò, Cát ông...
- Địa hình trơ sỏi đá: Phía Nam của đảo là một dải đất diệp thach độ cao trên d-
ới 200m ngay sát bờ biển thuộc các xã Trân Châu, Xuân Đám, Hiền Hào và thị
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trấn Cát Bà. Do bị tàn phá nặng nề nên địa hình ở đây trơ trọc, phần lớn chỉ còn
một lớp cỏ thấp.
- Do địa hình đá vôi hiểm trở mà khu vực trung tâm đảo còn giữ đợc một thảm
rừng ma nhiệt đới thờng xanh đặc trng của miền Bắc Việt Nam. Với nhiều hang
động làm nơi trú ẩn và sinh sản của các loài chim thú có giá trị.
- Địa hình san, xẻ, lấp: Đó là dạng địa hình do con ngời tác động tạo thành để
phục vụ cho mục đích du lịch và xây dựng. Ví dụ: Xẻ núi làm đờng đến bãi tắm
Cát Cò, đến cảng Cái Bèo...
1.1.4 Đặc điểm khí hậu - thuỷ văn
Nằm trong vành đai chí tuyến Bắc, cũng nh vùng ĐB Việt Nam, Cát Bà
chịu ảnh hởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa; ảnh hởng của gió mùa Tây Nam
về mùa hạ và gió mùa ĐB về mùa đông.
Trên đảo Cát Bà không có trạm khí tợng nên số liệu chúng tôi có đợc từ
việc phân tích số liệu của hai trạm khí tợng gần nhất là trạm Hòn Dấu và Phủ
Liễu.
Về nhiệt độ:
Nhiệt độ trung bình năm 23
0
C-24
0
C. Tháng nóng nhất là tháng 7, có nhiệt độ
trung bình là 28
0C

- Nhóm đất trên núi đá vôi: đó là loại đất phong hóa màu nâu đỏ hoặc nâu vàng
phát triển trên đá vôi và sa thạch, tầng đất trung bình hoặc dày.
- Nhóm đất đồi Feralít màu nâu vàng hoặc nâu nhạt: Phát triển trên sản phẩm
đá vôi ít chua hay gần trung tính, tầng đất dày. Phân bố: Trung Trang, Gia luận,
Việt Hải. Trong nhóm đất này còn có đất vùng đồi trọc.
- Nhóm đất vùng thung lũng cạn: phát triển trên đá vôi hoặc sản phẩm đá vôi,
tầng dầy. Loại đất này có rừng tự nhiên che phủ và có nhiều trên đảo. Tập trung
ở các thung lũng: Trung Trang, Gia luận, Việt Hải...
- Nhóm đất vùng thung lũng có ngập nớc, phát triển chủ yếu do quá trình bồi
tụ, mùa ma thờng ngập nớc,tầng mặt trung bình hoặc mỏng. Phân bố chủ yếu ở
các cánh đồng.
- Nhóm đất bồi ngập mặn có sản phẩm bồi tụ ở cửa sông phát triển trên vùng
ngập mặn ở Cái Viềng, Phù Long.
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.1.6 Đặc điểm thực vật - động vật
1.1.6.1 Thực vật
Tài nguyên thực vật trên đảo Cát Bà phong phú với số liệu thống kê là 620
loài thuộc 438 chi và 123 họ. Các họ tiêu biểu nh: Họ Sim, họ cỏ lúa, họ dâu
tằm, họ cà phê, họ cúc, họ long não.
Phân chia thực vật đảo Cát Bà theo dạng sống thì có:
Cây gỗ lớn và trung bình : 68 loài
Cây gỗ nhỏ : 135 loài
Cây gỗ bụi : 136 loài
Cây thảo : 174 loài
Dây leo, bì sinh : 87 loài
Theo dạng sống, ta thấy các loại cây bụi, cây thảo và dây leo chiếm u thế,
chứng tỏ rừng ở Cát Bà phần lớn là rừng thứ sinh đã bị tác động mạnh của con
ngời. Rừng nguyên sinh chỉ còn lại nhiều trong các thung áng nơi mà địa hình
khó ra vào.

. Nếu phấn đấu giảm tỉ lệ tăng dân số xuống còn 1,2%/năm thì đến
năm 2020 có thể đảm bảo mức độ 45-50 nghìn ngời. Số ngời trong độ tuổi lao
động hiện nay là 10 500 ngời. Đến năm 2000 sẽ có khoảng 12 000 ngời và năm
2010 sẽ có khoảng 15 000 ngời. Đây là một yếu tố quan trọng trong việc thúc
đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở Cát Bà. Tuy nhiên, việc giải quyết vấn đề công
ăn việc làm cho số ngời thất nghiệp ở Cát Bà phải đợc tiến hành nhanh chóng.
1.2.2 Các hoạt động kinh tế x hộiã
1.2.2.1 Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Các hoạt động cơ khí nhỏ, sửa chữa tầu thuyền, sản xuất đá, nớc khoáng,
sản xuất vật liệu xây dựng, điện, nớc phát triển nhanh phục vụ kịp thời sản xuất
và tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động.
Cụ thể, xí nghiệp điện nớc Cát Bà đang tiến hành đóng chai nớc khoáng.
Năm 1985-1986 sản xuất 500 000 chai trên năm, đến năm 1990 sản xuất 5-8
triệu chai. Sản lợng điện tự phát đạt 442 520kwh, tăng 119-408kwh so với năm
1996. Những năm 1998 đờng điện lới quốc gia đã nối ra đảo Cát Bà tạo điều
kiện thuận lợi cho việc phát triển mạnh các ngành kinh tế của đảo.
Về lợng khai thác nớc sinh hoạt năm 1997 đạt 17 500m
3

Sửa chữa tàu thuyền đạt 700 tấn bằng 80% kế hoạch năm
Sản lợng đá (nớc) bằng 2320 tấn, đạt 67% kế hoạch năm
Nhìn chung các ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển cha mạnh,
còn manh múm, tản mạn và tập trung ở thị trấn. Ngoài ra ở Cát Bà còn phát triển
đợc một số nghề truyền thống nh đan lới, sản xuất đồ hộp...
1.2.2.2 sản xuất nông nghiệp
Hải đảo Cát Bà có địa hình là núi đá vôi nên phần lớn là thiếu nớc bề mặt.
Các xã trên đảo có diện tích đát nông nghiệp không quá 200ha. Chỉ có một số
nơi lộ ra nớc bề mặt nh suối Trung Trang, nguồn nớc mùa khô đạt xấp xỉ 11

nuôi các con: lợn, trâu, bò, dê ở các xã nh sau:
Tên xã Lợn Trâu Bò Dê
Xuân Đám 500 117 2 700
Trân Châu 500 46 53 500
Hiền Hào 105 38 210
Gia Luận 40 50
Qua bảng trên ta thấy ở xã Hiền Hào nuôi dê theo đàn trên 200 con, ở Gia
Luận có đàn lợn hàng năm cung cấp cho huyện 4-5 tấn thịt.
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong những năm gần đây huyện đã và đang khuyến khích tạo điều kiện
cho các xã phát triển chăn nuôi lợn hớng nạc và gà công nghiệp nhằm phục vụ
nhu cầu cho nhân dân trên đảo, nâng cao mức sống cho ngời dân nơi đây...
1.2.2.3 Kinh tế rừng
Đảo Cát Bà có diện tích rừng là 15 200 ha, trong đó đất rừng do vờn Quốc
Gia quản lí là >9800 ha còn lại >6500 ha do các xã quản lí. Rừng gỗ tự nhiên có
khoảng 293 ha (rừng cây bụi). Rừng trồng: Thông nhựa 126 ha phân bố nhiều ở
xã Hiền Hào, Bạch đàn, Keo 66 ha chủ yếu ở Trung Trang, Phi lao, Xoan 8 ha,
Sa mộc 30 ha, Tre nứa 40 ha. Hiện nay công tác điều tra quy hoạch, giao đất,
giao rừng cho dân theo nghị định 02 của chính phủ đợc thực hiện tốt; tiếp tục
triển khai thực hiện dự án 327. Trong những năm qua toàn đảo Cát Bà đã trồng
đợc121ha, nạn phá rừng dần dần đợc hạn chế.
1.2.2.4 Khai thác thuỷ sản
Kế hoạch tổng sản phẩm năm 1997 (kể cả công ti sản xuất Cát Hải) là
3500 tấn bằng 95% kế hoạch. Trong đó công ti thuỷ sản đạt 226 tấn bằng 575%
kế hoạch. Tổng giá trị sản phẩm đạt 43 tỉ, giá trị xuất khẩu đạt 25 tỉ.
Về nuôi trồng thuỷ sản có khởi sắc mới, nuôi tôm sú và cá rô phi đơn tính
theo hớng quảng canh, cải tiến phát triển mạnh. Diện tích nuôi tôm sú là 100ha
với 6,5 triệu con giống của 140 hộ nuôi.
Về nuôi trồng thuỷ sản, đảo Cát Bà đã đạt đợc những thành tựu nh trên.

Nam con đờng giao thông lên xã ở ven đảo đang đợc hình thành nó sẽ nối với
con đờng trục chính ở khu vực bãi biển Hiền Hào và sẽ là con đờng du lịch rất
đẹp ven bờ biển phía Tây Nam đảo Cát Bà.
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nhìn chung, ở đảo Cát Bà giao thông đờng thuỷ phát triển mạnh hơn do ở
đây độ sâu tơng đối xung quanh đảo >10m nên tàu bè qua lại thuận lợi có 2
cảng khách lớn: Cảng thị trấn và Cảng Cái Bèo.
Về bu điện đã đáp ứng kịp thời yêu cầu thông tin liên lạc, đã chú trọng
phát triển mạng lới. Đến nay, toàn huyện đã có trên 400 máy điện thoại đạt gần
2 máy/100 dân. Các xã đã có máy điện thoại. Ngoài ra, ở thị trấn Cát Bà đã có 1
vài hộp bu điện dùng thẻ rất thuận tiện cho khách du lịch trong quá trình tham
quan, ngắm cảnh... Có một số cửa hàng kết nối mạng Internet, đây là một trong
những vấn đề quan trọng đối với khách du lịch trong nớc cũng nh nớc ngoài sau
quá trình tham quan để th giãn, giải trí trong thời gian rỗi...
1.2.2.6 Dịch vụ
Hoạt động du lịch năm 1997 trở đi đã phát triển mạnh mẽ với tốc độ
nhanh, phong phú và đa dạng hơn trớc. Đến hết năm 1997 các thành phần kinh
tế đã đầu t khoảng 10 tỷ đồng để sửa chữa nâng cấp và xây dựng khách sạn, nhà
nghỉ. Đa một số khách sạn và nhà nghỉ ở Cát Bà lên 24 chiếc với 233 phòng,
534 giờng gấp hơn 2 lần so với năm 1996. Đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu cho
du khách.
Lợng khách du lịch đến Cát Bà ngày càng đông. Trung bình năm 1997 -
1998 đón hơn 40 000 ngời gấp hớn 1,5 lần so với năm 1996, trong đó khách nớc
ngoài khoảng chiếm khoảng 1/3.
Các dịch vụ phục vụ ăn uống, đi lại, tắm biển, vui chơi, giải trí có sự đổi
mới và đa dạng, phong phú hơn. Bớc đầu đã tạo sự hấp dẫn đối với khách du
lịch.
1.2.2.7 Lịch sử - văn hoá
11

của mình ra biển, ra các hải đảo Đông Bắc nứơc ta. Di vật ngời Hạ Long để lại
phong phú thể hiện sự phát triển nhiều mặt của con ngời trong điều kiện thuận
lợi của môi trờng so với ngời dân Cái Bèo. Công cụ sản xuất có những biến đổi
lớn, chế tạo rất tinh vi, kích thớc nhỏ, nhiều kỉểu dáng mới ra đời... Trên các đồ
gốm ngoài loại văn hoá mang tính chất kỹ thuật, còn đợc trang trí bằng hoa văn
mang tính chất nghệ thuật cao thể hiện sự t duy, sáng tạo của con ngời lúc đó.
Đặc biệt cuộc sống tinh thần của con ngời Hạ Long cũng đợc quan tâm nhiều
vòng tay, khuyên tai, chuỗi hạt chế tạo hết sức tinh tế.
Những di vật điển hình của văn hoá Hạ Long không chỉ giới hạn trong
phạm vi phân bố của vùng văn hoá này. Đến nay qua tài liệu của một số nớc
Đông Nam á cũng đã phát hiện di vật này trong một nền văn hoá đơng thời
khác. Đó là những chứng cớ về mối quan hệ thân thiết giữa ngời Hạ Long và các
c dân khác cùng thời trong khắp cả vùng.
Ngoài ra ở đảo Cát Bà còn ghi lại nhiều chiến công lịch sử trong công cuộc
kháng chiến chống pháp, chống Mĩ nh truyền thuyết bảy ngày ba bão hay
nguồn gốc tên đảo Cát Bà xuất phát từ Các Bà tơng truyền rằng trong cuộc chiến
chống giặc ngoại xâm các Ông ở đảo tuyến trớc để chiến đấu nay vẫn gọi là đảo
Các Ông, các Bà ở tuyến sau lo hậu cần nên gọi là đảo Các Bà.
Đặc biệt, ngày đầu xuân ở Cát Bà có nhiều lễ hội trò chơi gắn với biển cả
nh Hội xuống biển bơi thuyền rồng (nhiều ngời cùng trên một thuyền), đua
thuyền thúng (thuyền hình tròn). Nhìn chung, đảo Cát Bà ghi lại nhiều lịch sử vẻ
vang của c dân sinh sống nơi đây, có nhiều tâp tục, văn hoá khác nhau là một
trong những yếu tố quan trọng để du khách mở rộng tầm hiểu biết, cũng nh đợc
hoà mình vào các hoạt động văn hoá nơi đây...
1.2.2.8 Giáo dục đào tạo
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hiện nay đảo đã có một trờng tiểu học và phổ thông cơ sở. Số lớp trong
một trờng còn ít. ở thị trấn Cát Bà có một trờng phổ thông trung học. Năm
1996-1997 toàn huyện có 34 học sinh đậu vào các trờng trung học chuyên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status